thực trạng triển khai tài chính vi mô tại hội liên hiệp phụ nữ việt nam nhìn từ mô hình tài chính vi mô thành công nhất của hội - Pdf 23

Chuyên đề tốt nghiệp 1 Học viện Ngân hàng
LỜI MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Để hoàn thành mục tiêu thiên niên kỉ về xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực
và thiếu đói, trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam cùng với chủ trương phát
triển kinh tế - xã hội đã đặc biệt quan tâm vấn đề đảm bảo an sinh xã hội mà trong đó
có công cuộc xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Việt Nam
đã đạt được những thành tựu ấn tượng về giảm nghèo và cải thiện chất lượng cuộc
sống cho người dân thông qua việc thực hiện đồng loạt các chương trình trọng điểm,
duy trì mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo như Chương trình phát triển kinh tế -
xã hội tại các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai
đoạn 2006 - 2010, Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh, bền vững đối với 62 huyện
nghèo… Với những nỗ lực và rất nhiều các chính sách hướng đến người dân như an
sinh xã hội, đầu tư cho “tam nông”… của Đảng và Nhà nước, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm
từ 28.9% năm 2002 xuống còn 14% năm 2011, dự kiến năm 2012 sẽ giảm còn 12% và
sẵn sàng cho việc đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ vào năm 2015.
Đóng góp chung vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, trong những năm qua, lĩnh
vực tài chính vi mô đã cung cấp các dịch vụ tài chính cho nhiều người nghèo. Trong số
các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô tại Việt Nam tiêu biểu có Hội liên hiệp
phụ nữ Việt Nam (Hội). Hội là một tổ chức chính trị-xã hội đại diện cho phụ nữ trên
khắp các vùng, miền Việt Nam. Hội luôn chú trọng công tác xóa đói, giảm nghèo
nhằm giúp phụ nữ cả nước xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, tiến bộ. Hội liên
hiệp phụ nữ Việt Nam đã lựa chọn tài chính vi mô như một công cụ chính, công cụ
hữu hiệu và luôn thể hiện vai trò tiên phong trong việc ứng dụng và đổi mới tài chính
vi mô tại Việt Nam. Và thành công nhất của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong lĩnh
vực tài chính vi mô đó là Hội đã trở thành đơn vị đầu tiên được nhận giấy phép thành
lập và hoạt động tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá
trình triển khai các hoạt động tài chính vi mô, Hội cũng gặp phải những khó khăn
không nhỏ. Vì vậy, việc phân tích thực trạng hoạt động tài chính vi mô của Hội và đề
ra các giải pháp sẽ không chỉ hữu ích cho việc đánh giá và định hướng hoạt động tài
chính vi mô của Hội mà còn đem lại những bài học thiết thực cho các tổ chức tài chính

Chuyên đề tốt nghiệp 3 Học viện Ngân hàng
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH VI MÔ
1.1. KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ
1.1.1. KHÁI NIỆM TÀI CHÍNH VI MÔ
Tài chính vi mô thông thường được hiểu là việc cấp cho các hộ gia đình rất
nghèo các khoản vay rất nhỏ (gọi là tín dụng vi mô), nhằm mục đích giúp họ tham gia
vào các hoạt động sản xuất, hoặc khởi tạo các hoạt động kinh doanh nhỏ. Tài chính vi
mô thường kéo theo hàng loạt các dịch vụ khác như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm, vì
những người nghèo và rất nghèo có nhu cầu rất lớn đối với các sản phẩm tài chính,
nhưng không tiếp cận được các thể chế tài chính chính thức.
Theo quan điểm của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), “Tài chính vi mô là
việc cung cấp một phạm vi rộng các dịch vụ như tiền gửi, các tài khoản tiết kiệm,
thanh toán, bảo hiểm, chuyển tiền cho người nghèo hoặc các hộ gia đình có thu nhập
thấp, những hoạt động kinh doanh cá thể hoặc các doanh nghiệp rất nhỏ”.
Theo Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về Tín dụng vi mô tại Washington tháng 2
năm 1997: “Tín dụng vi mô là việc cung cấp các khoản vay quy mô nhỏ đến đối tượng
người nghèo, với mục đích giúp những người thụ hưởng thực hiện các dự án sản xuất
kinh doanh để tạo lợi nhuận từ đó nâng cao chất lượng đời sống cho cả người vay vốn
và gia đình của họ”.
Theo quan điểm của Nhóm tư vấn hỗ trợ những người nghèo nhất (CGAP):
"Tài chính vi mô là hoạt động cung cấp tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm vi mô, chuyển
tiền và các dịch vụ phi tài chính khác cho nhóm người có thu nhập thấp bởi một cơ chế
thích hợp, giúp họ có thể tiến hành sản xuất, phát triển nghề nghiệp tăng thêm thu
nhập cải thiện chất lượng cuộc sống".
Có thể hiểu dịch vụ tài chính bao gồm các hoạt động huy động tiền gửi, cho
vay, hoạt động thanh toán, chuyển tiền, bảo hiểm (nhân thọ và phi nhân thọ), còn
những dịch vụ khác có thể bao gồm như đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn
phương pháp sản xuất.
Đối tượng có thu nhập thấp bao gồm không chỉ những người nghèo (nghèo

giá đầu vào. Sản xuất tăng từ Q1 đến Q2.
Thặng dư người sản xuất thay đổi từ (a+b)
sang (b+c+f+g). Nếu a>(c+f+g) thì người
sản xuất không được lợi và ngược lại.
Thặng dư người tiêu dùng tăng thêm
(a+d+e).
Người ta ngày càng tin tưởng rằng
tài chính vi mô trên cơ sở lý thuyết kinh tế
đã và đang tạo động lực kích thích cho quá
Hình 3: Lợi ích của tài chính vi mô cho
sản xuất
(Nguồn: Milford Bateman (2010), Why doesn’t
Mrofinance work?)
Phạm Thị Vân Lớp: 8A7 - VBII
Chuyên đề tốt nghiệp 5 Học viện Ngân hàng
trình tạo ra lợi nhuận trong nhân dân. Cùng
với tiết kiệm, tài chính vi mô đã thúc đẩy
tăng trưởng sản xuất, khuyến khích tiêu
dùng và mở rộng tích lũy đầu tư.
1.1.3. ĐẶC ĐIỂM CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ
a. Khách hàng của tài chính vi mô là những người thu nhập thấp.
Người nghèo, người thu nhập thấp được hiểu bao gồm những người nghèo tuyệt
đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối là những người có mức thu nhập không đủ để
thoả mãn những nhu cầu cơ bản ở một mức độ tối thiểu, mức thu nhập đó hiện nay
được xác định là 1.25 USD/ngày (Ngân hàng Thế giới) cho mỗi người. Nghèo đói
tương đối là những người có điều kiện sống thấp hơn mức bĩnh quân chung của cộng
đồng. Nghèo đói tương đối là kết quả của tình trạng chênh lệch thu nhập và điều kiện
sống của dân cư trong các khu vực khác nhau, như nông thôn, thành thi hay giữa công
nghiệp và nông nghiệp. Cùng với sự phát triển kinh tế, tình trạng đói nghèo tuyệt đối
sẽ ngày càng giảm nhưng nghèo đói tương đối sẽ còn tồn tại lâu dài.

vay lớn. Hãy làm một phép so sánh giữa khoản vay 10000 USD và khoản vay 50-100
USD. Cả hai đều phải mất chi phí nhân công, thời gian, thủ tục, quy trình nhưng khoản
vay nhỏ phải chịu tỷ lệ chi phí lớn hơn. Do vậy, lãi suất của các dịch vụ tài chính vi
mô thường lớn hơn lãi suất của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính chính thức. Để
giảm bớt mức lãi suất mà khách hàng tài chính vi mô phải chi trả, các tổ chức cung cấp
dịch vụ tài chính vi mô bán chính thức hay chính thức thường tìm kiếm các nguồn vốn
bao cấp, tài trợ hay vốn giá rẻ, nhưng những nguồn này cũng chỉ có hạn và đến một
thời điểm nhất định. Vì thế, để hoạt động bền vững, các tổ chức cung ứng tài chính vi
mô một mặt giữ lãi suất cao, mặt khác cắt giảm tối đa các chi phí khác (thủ tục, thời
gian, nhân sự, vận hành,…) và tiết giảm các chi phí thông qua các dịch vụ, sản phẩm
đa dạng.
Câu hỏi đặt ra là tại sao với chi phí cao như vậy, tài chính vi mô vẫn tồn tại và
phát triển. Thứ nhất, tài chính vi mô cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho người nghèo
không đòi hỏi tài sản thế chấp. Thứ hai, tài chính vi mô cung cấp những sản phẩm,
dịch vụ phù hợp với quy mô nhu cầu của người nghèo, đảm bảo đủ dùng và đủ năng
lực chi trả. Thứ ba, tài chính vi mô thường đi kèm với thủ tục đơn giản và dịch vụ
thuận tiện. Thay vì phải chuẩn bị những hồ sơ với nhiều giấy tờ, số liệu, khách hàng
tài chính vi mô được hướng dẫn trực tiếp cách tiếp cận dịch vụ, được hỗ trợ làm thủ
tục và cấp miễn phí các loại hồ sơ, mẫu biểu cần thiết. Thứ tư, tài chính vi mô thường
lồng ghép các chương trình xã hội, đem lại cơ hội học hỏi, kinh doanh cho người
nghèo. Từ những lý do đó, tài chính vi mô vẫn tồn tại và phát triển bất chấp chi phí
cao hơn thông thường.
d. Các khoản vốn vay thường quay vòng nhanh, mức tăng dần qua các đợt
Mục tiêu của tài chính vi mô là hỗ trợ người nghèo tự tạo việc làm tăng thu
nhập nên các khoản vốn thường được cung cấp để sử dụng vào mục đích kinh doanh,
sản xuất. Với các khoản vay nhỏ, quy mô kinh doanh sản xuất nhỏ, người nghèo
thường sử dụng vốn vào các dự án kinh doanh, sản xuất ngắn hạn, mang tính thời vụ
Phạm Thị Vân Lớp: 8A7 - VBII
Chuyên đề tốt nghiệp 7 Học viện Ngân hàng
từ 6 tháng đến 1-2 năm. Chẳng hạn, người dân nông thôn vay vốn để trồng hoa màu,

thành viên của CGAP là các nhà tài trợ, và được ghi nhận trong hội nghị thượng đỉnh
các nhà lãnh đạo G8 ngày 10 tháng 6 năm 2004.
a. Người nghèo cần một dịch vụ tài chính đa dạng chứ không chỉ là vốn.
Giống như những người khác, người nghèo cần một loạt các dịch vụ tài chính
thuận tiện, linh hoạt và có giá cả hợp lý. Tùy thuộc vào hoàn cảnh từng gia đình, người
nghèo không chỉ cần tín dụng mà còn cần dịch vụ tiết kiệm, chuyển tiền và bảo hiểm.
Phạm Thị Vân Lớp: 8A7 - VBII
Chuyên đề tốt nghiệp 8 Học viện Ngân hàng
b. Tài chính vi mô là công cụ có tác động mạnh trong việc chống lại đói
nghèo.
Việc tiếp cận được các dịch vụ tài chính bền vững cho phép người nghèo tăng
thu nhập, tích lũy tài sản và giảm nguy cơ tổn thương trước những cú sốc từ bên ngoài.
Tài chính vi mô cho phép các hộ gia đình nghèo chuyển từ tình trạng sống sót qua
ngày sang khả năng lập kế hoạch cho tương lai, đầu tư vào dinh dưỡng, điều kiện
sống, và sức khỏe cũng như việc giáo dục của con cái.
c. Hoạt động tài chính vi mô có nghĩa là xây dựng một hệ thống tài chính
phục vụ người nghèo.
Người nghèo chiếm phần lớn dân số ở hầu hết các nước đang phát triển. Vậy
mà, một số lượng lớn người nghèo tiếp tục thiếu tiếp cận đối với các dịch vụ tài chính
cơ bản. Ở nhiều nước, tài chính vi mô tiếp tục bị coi là một ngành ngoài lề và cơ bản
chỉ là vấn đề mang tính "phát triển" của các nhà tài trợ, chính phủ và các nhà đầu tư có
trách nhiệm xã hội. Để đạt được tiềm năng tối đa trong việc tiếp cận đông đảo người
nghèo, tài chính vi mô nên trở thành một phần không thể thiếu trong ngành tài chính.
d. Bền vững tài chính là yếu tố cần thiết để tiếp cận với số đông người nghèo.
Phần lớn người nghèo không có khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính truyền
thống bởi vì thiếu các trung gian tài chính bán lẻ hoạt động lớn mạnh. Xây dựng các tổ
chức bền vững về tài chính không phải là cái đích cuối cùng. Đó là cách duy nhất để
đạt được một quy mô và tác động đáng kể, vượt xa những gì mà các đơn vị tài trợ có
thể cấp vốn. Bền vững là khả năng trang trải mọi chi phí của một tổ chức tài chính vi
mô. Nó cho phép tổ chức tài chính vi mô tiếp tục hoạt động và cung cấp các dịch vụ

các tổ chức tín dụng vi mô khó có khả năng bền vững. Đồng thời, các tổ chức cho vay
vi mô cũng không nên chuyển các chi phí phát sinh do hoạt động kém hiệu quả sang
khách hàng dưới hình thức giá thành dịch vụ (lãi suất và các loại phí khác), những
mức giá cao quá mức cần thiết.
h. Vai trò của Chính phủ là hỗ trợ, không phải trực tiếp cung cấp các dịch vụ
tài chính.
Chính phủ quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập một môi trường
chính sách mang tính hỗ trợ nhằm kích thích sự phát triển của các dịch vụ tài chính, đồng
thời bảo vệ quỹ tiết kiệm của người nghèo. Điều cốt yếu mà một chính phủ có thể làm cho
tài chính vi mô là giữ cho kinh tế vĩ mô ổn định, tránh trần lãi suất, và tránh bóp méo thị
trường bằng những chương trình phát vốn trợ cấp không ổn định và có tỷ lệ chậm trả cao.
Chính phủ cũng có thể trợ giúp dịch vụ tài chính cho người nghèo bằng cách cải thiện môi
trường kinh doanh cho các nhà doanh nghiệp, loại bỏ tham nhũng, cải thiện điều kiện tiếp
cận với thị trường và cơ sở hạ tầng. Trong tình huống đặc biệt, nguồn tài trợ của chính
phủ cho các tổ chức tài chính vi mô độc lập và lành mạnh có thể được đảm bảo khi ngành
tài chính vi mô đang thiếu các nguồn vốn khác.
i. Nguồn của các nhà tài trợ là để bổ sung, không phải để cạnh tranh với
nguồn vốn của khu vực tư nhân.
Các nhà tài trợ phải dùng các công cụ tài trợ, vốn và vốn cổ phần phù hợp trên
cơ sở tạm thời để xây dựng năng lực thể chế của các tổ chức cung cấp dịch vụ tài
chính vi mô, để phát triển cơ sở hạ tầng thuận lợi (như các đơn vị đánh giá xếp hạng,
các vụ tín dụng, năng lực kiểm toán, v.v) và hỗ trợ các dịch vụ và sản phẩm thí điểm.
Phạm Thị Vân Lớp: 8A7 - VBII
Chuyên đề tốt nghiệp 10 Học viện Ngân hàng
Trong một số trường hợp, các nguồn tài trợ lâu dài đòi hỏi phải tiếp cận bộ phận dân
cư sinh sống rải rác hoặc khó tiếp cận. Để có hiệu quả, nguồn tài trợ phải lồng ghép
dịch vụ tài chính cho người nghèo vào các thị trường tài chính địa phương, ứng dụng
kiến thức chuyên môn để thiết kế và thực hiện dự án, đòi hỏi các tổ chức tài chính và
các đối tác khác đáp ứng các tiêu chuẩn kết quả tối thiểu để được tiếp tục hỗ trợ và lập
kế hoạch từ đầu cho việc rút khỏi hoạt động của các thị trường này.

Phạm Thị Vân Lớp: 8A7 - VBII
Chuyên đề tốt nghiệp 11 Học viện Ngân hàng
của họ để ngừng các khoản vốn thông qua việc yêu cầu chính phủ ấn định giới hạn lãi
suất vào năm 1843. Cuối cùng, các quỹ đã không còn tồn tại từ năm 1950. Hamburg
đã thành lập một hệ thống tài chính tương tự do cộng đồng sở hữu vào năm 1778
nhưng đáng tiếc hệ thống này cũng chấm dứt do những can thiệp từ bên ngoài.
Giai đoạn 1880-1950, các tổ chức tài chính vi mô bắt đầu lan đến các vùng khác
trên thế giới như Mỹ La-tinh và In-đô-nê-xia (Các Ngân hàng Tín dụng Nhân dân In-
đô-nê-xia). Các tổ chức mới đa số tập trung vào khu vực nông thôn. Mục tiêu của việc
can thiệp tài chính vào các khu vực nông thôn là hiện đại hoá ngành nông nghiệp, tăng
thương mại hoá của các khu vực nông thôn cũng như xoá bỏ hệ thống phong kiến áp
bức-một hệ thống đã làm tăng tình trạng nợ nần. Một trong những khó khăn chính mà
các tổ chức tài chính vi mô nông thôn mới phải đối mặt là thực tế rằng đa số những
ngân hàng cho người nghèo không thuộc sở hữu của người nghèo như đã thấy vào thế
kỷ 18 và 19 tại châu Âu. Các ngân hàng do các cơ quan chính phủ kiểm soát hoặc các
ngân hàng ngoài quốc doanh không phải bao giờ cũng mang lại phúc lợi cho người
dân. Qua thời gian, các tổ chức này trở nên kém hiệu quả và có những lúc bị lạm
dụng. Các tổ chức này đánh mất sự tin tưởng của người dân và phải đóng cửa. .
Vào những năm 1970, các chương trình thực nghiệm tại Băng-la-đét, Bra-xin
và một vài quốc gia khác đã phát các món vốn nhỏ cho các nhóm phụ nữ nghèo để đầu
tư vào kinh doanh vi mô. Loại hình tín dụng doanh nghiệp vi mô này được dựa trên
phương pháp cho vay theo nhóm, nghĩa là mỗi thành viên trong nhóm bảo đảm việc
hoàn trả của mọi thành viên. Những chương trình “cho vay doanh nghiệp vi mô” tập
trung vào tín dụng cho các hoạt động tăng thu nhập và hướng đến đối tựơng người
nghèo vay vốn (thường là phụ nữ). Loại hình cho vay này đảm bảo trách nhiệm của
người vay. Đó là yếu tố chính còn thiếu trong các doanh nghiệp tài chính vi mô khác.
Bởi vì mỗi thành viên trong nhóm vay địa phương phải đảm bảo khả năng hoàn trả của
tất cả những người khác tham gia vào món vốn, nếu một trong số những cá nhân này
không có khả năng hoàn trả vốn vay của mình, cả nhóm sẽ hõ trợ thành viên đó về cả
tài chính và tình cảm, ttừ đó khuyến khích kết quả kinh doanh tốt hơn.

nghĩa to lớn trong việc cứu giúp những người, những hộ gia đình gặp rủi ro bất ngờ, đe
doạ cuộc sống và có thể đẩy họ rơi vào thảm cảnh.
b. Giai đoạn mở rộng nhanh (1990-2000):
Vào cuối những năm 1980, sau 30 năm trải nghiệm tại Băng-la-đét và Bra-xin
cũng như một số nước khác, người ta phát hiện và khẳng định rằng người nghèo hoàn
toàn có năng lực ngân hàng. Cũng giống như mọi người khác, người nghèo cần rất
nhiều loại công cụ tài chính khác nhau để tạo dựng tài sản, để đảm bảo các chi dùng
hàng ngày và tự bảo vệ mình trước các rủi ro bất kỳ lúc nào cũng có thể ập đến. Vào
những năm này, cùng với trào lưu chung của thế giới, tài chính vi mô bắt đầu du nhập
vào Việt Nam. Hội nghị Quốc tế khu vực Châu Á - Thái Bình Dương về "việc làm và
tăng thu nhập cho phụ nữ" do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đăng cai tổ chức tại Hà
Nội vào tháng 10 năm 1987 được coi là điểm xuất phát cho cá dự án tín dụng - tiết
kiệm dành cho phụ nữ. Cơ quan phát triển Quốc tế của Thụy Điển (SIDA) ở Việt Nam
là tổ chức đầu tiên tài trợ một dự án tín dụng cho phụ nữ 7 tỉnh biên giới phía Bắc Việt
Nam thông qua đối tác là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Quỹ Dân số của Liên hợp
quốc (UNFPA) kết hợp với sự trợ giúp kỹ thuật của Tổ chức Nông lương Thế giới
Phạm Thị Vân Lớp: 8A7 - VBII
Chuyên đề tốt nghiệp 13 Học viện Ngân hàng
(FAO) đã cùng với Hội Liên hiệp Phụnữ Việt Nam và Ngân hàng Nông nghiệp Việt
Nam (1990 - 1993) tiến hành thử nghiệm dự án VIE/91/P01, với việc ngân hàng cấp
vốn (tín dụng) không đòi hỏi thế chấp mà thông qua các nhóm phụ nữ tiết kiệm do Hội
phụ nữ thành lập ở hai tỉnh là Hậu Giang (nay là Cần Thơ) và Hà Sơn Bình (nay sáp
nhập vào Hà Nội). Sau ba năm thử nghiệm thành công, Ngân hàng Nông nghiệp Việt
Nam đã đề xuất cụm từ "Nhóm phụ nữ tiết kiệm" vào Nghị định 14 của Chính phủ về
việc cho hộ nông dân vay mà không cần thế chấp. UNFPA cũng tiếp tục giai đoạn 2
của Dự án mở rộng ra 18 tỉnh trong cả nước.
Vào những năm 1990, cơ quan phát triển quốc tế của một số nước như SIDA
(Thụy Điển), DFID (Vương quốc Anh), BTC (Bỉ) và các tổ chức phát triển quốc tế
như UNDP, UNFPA, UNICEF và các tổ chức phi chính phủ quốc tế cũng tiến hành
các dự án tín dụng, tiết kiệm. Các tổ chức phi chính phủ quốc tế có dự án quy mô từ

trong việc đặt nền móng cho sự phát triển tài chính vi mô tại Việt Nam. Họ đã cung
cấp một nguồn lực đáng kể và tạo đà cho các tổ chức đại ương tiếp tục phát triển và
trưởng thành. Các nhà tài trợ và các tổ chức tài chính vi mô bên ngoài cũng có nhiều
đóng góp quan trọng trong việc hỗ trợ tài chính, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo, nâng cao
năng lực cho đội ngũ cán bộ Việt Nam trong lĩnh vực tài chính vi mô. Ngay từ những
năm 1995, Quỹ Tình Thương (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) đã gia nhập mạng lưới
tín dụng, tiết kiệm cho người nghèo thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và sau
đó là Quỹ CEP (Liên đoàn Lao động Thành phố Hồ Chí Minh). Cả hai quỹ đã gia nhập
mạng lưới Grameen toàn cầu và đã được đào tạo khá bài bản về công nghệ và quản lý
tổ chức tài chính vi mô. Một số tổ chức hoạt động tài chính vi mô khác của Việt Nam
như các chương trình của ActionAid cũng được công nhận là thành viên của phong
trào tín dụng thượng đỉnh toàn cầu từ những năm 1997 tới nay. Vào thời điểm này, các
nhà hoạt động tài chính vi mô có ảnh hưởng lớn mà đứng đầu là Giáo sư, tiến sĩ
Muhammad Yunus đã phối hợp, thúc đẩy và tổ chức thành công "hội nghị thượng đỉnh
vì tín dụng toàn cầu", lần đầu tiên họp tại Washington. Có tới 2900 đại biểu từ 300
quốc gia, các tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ, các tổ chức phi chính phủ quốc tế và các
nhà thực hành tài chính vi mô đã đến đây " để nói những gì mà từ trước tới giờ chưa
bao giờ nói, để lập nên những kế hoạch mà từ trước tới giờ chưa bao giờ lập và để làm
những gì mà từ trước tới giờ chưa bao giờ làm, để mang đói nghèo ra khỏi hành tinh
này". Hội nghị đã phát động phong trào tín dụng nhỏ với mục tiêu "tới năm 2005 sẽ có
100 triệu hộ nghèo được tiếp cận tới các dịch vụ tài chính để thay đổi cuộc sống". Tại
phiên họp toàn thể bế mạc hội nghị, các đại biểu đã viết bản cam kết và kế hoạch hành
động của quốc gia mình để thực hiện mục tiêu này. Đại biểu chính thức của Việt Nam
tham gia Hội nghị này là các nhà lãnh đạo Quỹ Tình Thương (Hội Liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam). Những cuộc hội nghị tiếp theo, thành phần tham dự của Việt Nam có thêm
Quỹ CEP và một số tổ chức khác. Những đại diện này khi trở về đã có những nỗ lực
thúc đẩy tài chính vi mô Việt Nam phát triển theo hướng chuyên nghiệp hóa.
c. Giai đoạn phát triển theo chiều sâu (từ năm 2000 đến nay):
Vào đầu thế kỷ 21, tài chính vi mô không còn là một chương trình trọng tâm
của các tổ chức trên thế giới. Do đó, nhiều dự án, chương trình có hợp phần về tài

động tài chính vi mô. Tuy nhiên, cơ sở pháp lý này cũng còn nhiều bất cập. Năm 2006,
Quỹ Tình Thương (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) đã quyết định chuyển đổi thành
đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam để tăng tính độc
lập và hạch toán đầy đủ.
Về khung pháp lý và chính sách, mặc dù Chính phủ đã dự thảo Nghị định từ
những năm 2002 nhưng phải đến năm 2005 Nghị định 28/2005/NĐ-CP về thành lập và
hoạt động tổ chức tài chính quy mô nhỏ mới được ban hành, tiếp sau đó là Nghị định
165 bổ sung Nghị định 28. Lần lượt các thông tư hướng dẫn đã ra đời. Đến nay mới
chỉ có Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và M7 là hai tổ chức được cấp phép thành lập
và hoạt động tài chính vi mô theo khung pháp lý mới. Với giấy phép này, Quỹ tình
Phạm Thị Vân Lớp: 8A7 - VBII
Chuyên đề tốt nghiệp 16 Học viện Ngân hàng
Thương (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) sẽ được chuyển đổi thành Tổ chức Tài
chính quy mô nhỏ trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tình Thương, góp mặt vào
hoạt động tài chính vi mô chính thức của quốc gia.
1.3. CUNG, CẦU CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM
1.3.1. CẦU ĐỐI VỚI TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM
Cũng như tài chính vi mô tại các nước trên thế giới, đối tượng của tài chính vi
mô Việt Nam là các hộ dân thu nhập thấp, tập trung vào những hộ nghèo theo chuẩn
nghèo của chính phủ (400,000đ/người/tháng trở xuống tại nông thôn và
500,000đ/người/tháng trở xuống tại thành thị). Tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2008 là
13%, năm 2009 được giảm xuống còn 11% (theo báo cáo của Chính phủ). Đến năm
2010, tỷ lệ hộ nghèo cả nước tăng đột biến lên 14.2%. Từ năm 2010, do thực hiện tốt
các chính sách về giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam đã liên tục giảm xuống
còn 11.76% năm 2011 và 9.6% năm 2012. Tuy nhiên, so với dân số Việt Nam trên 88
triệu người (hết năm 2012), số lượng người nghèo vẫn là một con số khá lớn. Và giải
pháp giảm nghèo một phần chính là tài chính vi mô.
Trong số các đối tượng nghèo kể trên, nhóm đối tượng chính của tài chính vi mô
Việt Nam là phụ nữ. Việc xác định đối tượng này xuất phát từ một số yếu tố sau:
- Tài chính vi mô không yêu cầu thế chấp. Đây là một cơ hội cho phụ nữ tiếp cận

- Các Quỹ tín dụng Nhân
dân.
- Công ty Dịch vụ Tiết kiệm
Bưu điện Việt Nam.
- Tổ chức tài chính quy mô
nhỏ trách nhiệm hữu hạn một
thành viên Tình Thương
(TYM).
- Tổ chức tài chính vi mô
trách nhiệm hữu hạn M7
hoạt động chuyên về tài
chính vi mô.
- Hàng trăm dự án, chương
trình tín dụng nhỏ hoặc tài
chính vi mô do Hội Liên hiệp
phụ nữ Việt Nam thực hành.
xóm
Người cho vay lãi
a. Nhóm chính thức.
• Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam.
Với mạng lưới 610 chi nhánh tại 63 tỉnh, thành phố và dội ngũ cán bộ, nhân
viên lên đến gần 8 000 người, đến tháng 9/2009, Ngân hàng chính sách xã hội đã cho
vay 46% số người nghèo ở nông thôn và miền núi. Sau khi có sự phân định đối tượng,
hầu hết các chi nhánh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn không còn
cung cấp món nhỏ cho các hộ nghèo. Thay vào đó, Ngân hàng chính sách xã hội được
phân công khu vực này và khu vực 3 của miền núi. Tuy nhiên, với cơ chế “lấy cho vay
trung hạn làm chủ yếu và mức vốn lớn”, Ngân hàng chinh sách xã hội đã để lại khoảng
trống giữa các hộ nghèo chưa được vay và cả những hộ đang có dự nợ không còn cơ
hội vay tiếp trong khi vẫn còn nhu cầu. Mặt khác, sự phân định thị trường đã vô tình
loại ra ngoài tầng lớp cận nghèo chiếm tỷ lệ không nhỏ.

thành viên là phụ nữ nghèo thuộc 10 tỉnh phía Bắc. Ngày 17/8/2010, được Ngân hàng
Nhà nước cấp phép thành lập và hoạt động tài chính quy mô nhỏ, Quỹ Tình Thương
chuyển đổi thành Tổ chức tài chính quy mô nhỏ trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Tình Thương (TYM).
• Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn M7
M7-MFI được thành lập trên cơ sở góp vốn của 03 Quỹ xã hội (Quỹ Hỗ trợ phụ
nữ miền núi phát triển Mai Sơn, Quỹ Khuyến khích phụ nữ phát triển thị xã Uông Bí
và Quỹ Hỗ trợ phụ nữ Đông Triều) hoạt động tại địa bàn 02 tỉnh là Sơn La và Quảng
Ninh. M7 đã đựoc Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp Giấy phép hoạt
động số 16a/GP-NHNN ngày 13/01/2012 về việc thành lập và hoạt động của M7-MFI
với tên đày đủ là Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn M7.
b. Nhóm bán chính thức.
Các nhà cung cấp tài chính bán chính thức bao gồm các tổ chức được thành lập
theo luật pháp Việt Nam. Những tổ chức tài chính vi mô này được coi là khuyến khích
người nghèo hơn và hướng tới việc cung cấp dịch vụ tài chính sâu rộng hơn và thích
hợp hơn so với khu vực tài chính chính thức. Hiện nay, tại Việt Nam có khoảng 57 tổ
chức tài chính vi mô hoạt động trong nhóm bán chính thức, tiêu biểu là Quỹ CEP.
c. Nhóm phi chính thức
Các tổ chức này là thành phần còn lại của thị trường. Loại hình này rất đa dạng,
với nhiều hình thức hỗ trợ tài chính không chính thức, như hỗ trợ từ phía gia đình, bạn
bè, người cho vay cá nhân, hiệu cầm đồ hay hội/hụi/họ/biêu/phường. Đặc điểm của
Phạm Thị Vân Lớp: 8A7 - VBII
Chuyên đề tốt nghiệp 19 Học viện Ngân hàng
các nhóm nhà cung cấp dịch vụ nà là họ biết nhau và sống trong cùng một cộng đồng
nên họ nắm bắt được tình hình tài chính của nhau. Bên cạnh đó, do chi phí hoạt động
thấp nên họ cung cấp các dịch vụ một cách nhanh chóng, thuận lợi, dễ dàng. Tuy
nhiên, cá sản phẩm tài chính này không đa dạng, kỳ hạn ngắn và ẩn chứa rủi ro cao.
1.4. VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM
Với những sản phẩm, dịch vụ và hoạt động của ngành, tài chính vi mô đã và
đang đóng một số vai trò quan trọng trong sự phát triển của quốc gia, cụ thể:

Chuyên đề tốt nghiệp 20 Học viện Ngân hàng
Trong một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, các yếu tố sản xuất như vốn,
kỹ thuật, phương tiện và các nguồn lực khác đều rất hạn chế. Trong khi đó, chúng ta
lại có một nguồn lao động dồi dào. Trong khi dân số tăng nhanh hàng năm, các yếu tố
sản xuất bổ sung không tăng hoặc không tăng kịp tốc độ tăng dân số. Thực trạng này
dẫn đến mỗi đơn vị sản phẩm trên một đơn vị lao động giảm dần. Để giải quyết tình
trạng này, việc giảm tỷ lệ gia tăng dân số là không đủ, mà còn cần bổ sung các yếu tố
sản xuất. Và các dịch vụ tài chính vi mô đã phần nào cho người nghèo tiếp cận vốn và
kỹ thuật, kết hợp với nguồn lực sẵn có của họ như sức lao động, ruộng vườn, địa điểm
kinh doanh sản xuất để tạo việc làm bổ sung cho bản thân và xã hội. Từ đó, năng suất
lao động biên của họ và xã hội cũng tăng lên.
1.4.5. ĐA DẠNG HÓA CÁC KHOẢN THU NHẬP NGOÀI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Ở nước ta, người nghèo phần lớn tập trung ở khu vực nông nghiệp, nông thôn,
nơi mà họat động sản xuất nói chung phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và chỉ mang
tính mùa vụ. Ngoài thời gian dành cho nông nghiệp, người dân có thể thực hiện các
công việc khác nhưng lại thiếu vốn, thiếu kỹ thuật cũng như các phương tiện sản xuất,
kinh doanh khác. Khi có các dịch vụ tài chính vi mô, họ có một phần nguồn để nghĩ
đến các ngành nghề phụ hay các công việc kinh doanh, buôn bán khác. Nhờ đó, nguồn
thu nhập của họ đa dạng hơn, giảm sự phụ thuộc vào các điều kiện thiên nhiên.
1.4.6. GIÚP NGƯỜI NGHÈO TRÁNH, GIẢM RỦI RO VỀ KINH TẾ
Như đã đề cập trên đây, người nghèo phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên
nhiên. Họ cũng không có đủ điều kiện tài chính để ứng phó với những cú sốc bên
ngoài nên một khi gặp rủi ro, những nỗ lực suốt một quá trình dài của họ có thể không
được giữ lại. Một lần bạo bệnh, một lần thiên tai có thể khiến họ mất nguồn thu, thậm
chí phải bán hết tài sản với giá rẻ để giải quyết những khó khăn đột xuất. Để hỗ trợ
người nghèo thoát nghèo bền vững, tài chính vi mô đã cung cấp cho họ dịch vụ bảo
hiểm vi mô để giảm thiểu tác động của những rủi ro trong cuộc sống. Nhờ đó, thành
quả lao động của họ không bị mất đi, mà vẫn góp phần giúp họ từng bước thoát nghèo.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Tài chính vi mô đã được chứng minh là hoạt động có ý nghĩa xã hội sâu sắc và

- Tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo
đức, lối sống; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;
- Vận động các tầng lớp phụ nữ chủ động, tích cực thực hiện đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng, Nhà
nước, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; vận động, hỗ trợ phụ nữ nâng cao
năng lực, trình độ, xây dựng gia đình hạnh phúc; chăm lo cải thiện đời sống vật chất,
tinh thần của phụ nữ;
- Tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát việc thực
hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan
đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, gia đình và trẻ em;
- Xây dựng, phát triển tổ chức Hội vững mạnh;
- Đoàn kết, hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức, cá nhân tiến bộ trong khu
vực và thế giới vì bình đẳng, phát triển và hòa bình.
Phạm Thị Vân Lớp: 8A7 - VBII
Chuyên đề tốt nghiệp 22 Học viện Ngân hàng
2.2. HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI HỘI LIÊN HIỆP PHỰ NỮ VIỆT NAM
2.2.1. VAI TRÒ CỦA HỘI LHPN VIỆT NAM TRONG NGÀNH TÀI CHÍNH VI MÔ
VIỆT NAM
Ở hầu hết các nước, các tổ chức phi chính phủ là những người tiên phong trong
công nghệ tín dụng vi mô. Tại Việt Nam, phong trào này được triển khai thông qua bộ
máy của các tổ chức đoàn thể đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng như Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam hay Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân
Từ cuối những năm 1980, thông qua các dự án tăng thu nhập do các tổ chức
quốc tế hỗ trợ, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã bắt đầu triển khai các hoạt động tín
dụng nhỏ đi đôi với tiết kiệm nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận với các dịch vụ tài chính
cho hội viên phụ nữ. Từ những ngày đầu thực hiện, Hội đã vận dụng các nguyên lý
chủ yếu của tài chính vi mô kết hợp với đội ngũ cán bộ nhiều kinh nghiệm từ Hội Phụ
nữ địa phương những người hiểu rất rõ về địa phương mình, có uy tín và luôn quan
tâm tới chị em phụ nữ để thực hiện các dịch vụ tín dụng vi mô.
Qua hơn 20 năm, hoạt động tín dụng tiết kiệm của Hội đã phát triển rộng khắp

thuộc sở hữu của Hội
- Hoạt động tín dụng, tiết kiệm của các tổ, nhóm tín dụng - tiết kiệm xuất phát
từ phong trào vận động cộng đồng do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam vận động với
mục tiêu phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình.
Phát vốn ủy thác của Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn
Thực hiện trách nhiệm của một tổ chức chính trị xã hội trong hoạt động cho vay
các đối tượng chính sách, Hội trở thành kênh phân phối vốn vay của Ngân hàng Chính
sách Xã hội. Đồng thời Hội cũng ký nghị quyết liên tịch với Ngân hàng NN&PTNT
cung cấp vốn phát triển sản xuất không cần thế chấp cho phụ nữ.
Hình 4: Quy mô dư nợ tín dụng TCVM ủy thác qua Hội phụ nữ trung bình/thành
viên và lao động nữ, 2007-2011
Dư nợ bình quân theo thành viên Dự nợ bình quân theo lao động nữ
Nguồn: Phân tích số liệu TCVM Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2013)
Trung bình quy mô của một món vay (lượt vay) đã tăng hàng năm, từ 3.81 triệu
đồng/món vay (năm 2007) lên đến 7.15 triệu đồng/món vay (năm 2011), tương đương
với tăng 1.9 lần. Xu hướng tăng quy mô tín dụng TCVM trung bình trên một món vay
đều xảy ra ở cả bốn nguồn tín dụng TCVM cho Hội Phụ nữ trong cùng khoảng thời
gian. Quy mô món vay trung bình từ ngân hàng NN&PTNT là lớn nhất, đạt tới 20.11
triệu đồng trung bình một món vay, 13.9 triệu đồng/món vay từ NHCSXH. Dư nợ tín
Phạm Thị Vân Lớp: 8A7 - VBII
Chuyên đề tốt nghiệp 24 Học viện Ngân hàng
dụng bình quân cho một lao động nữ tăng lên nhanh chóng. Năm 2007, mỗi lao động
nữ trung bình được vay 1.21 triệu đồng từ các nguồn tín dụng TCVM ủy thác qua Hội
Phụ nữ, và đến 2011 con số này đã là 2.67 triệu đồng/lao động nữ, tương đương với
tốc độ tăng trung bình hàng năm đạt mức 22.4%/năm. Quy mô dư nợ tín dụng TCVM
trung bình một lao động nữ chủ yếu được hình thành từ nguồn ủy thác của NHCSXH.
•Cung cấp dịch vụ tín dụng - tiết kiệm lồng ghép các hoạt động nâng cao
kiến thức, năng lực cho phụ nữ nghèo và cán bộ Hội thông qua các chương trình,
dự án do các tổ chức quốc tế tài trợ và giao cho Hội quản lý hoặc chương trình tài

Chuyên đề tốt nghiệp 25 Học viện Ngân hàng
góp từ lao động công ích và đóng góp quỹ, ) và chủ yếu được sử dụng để cho vay
quay vòng giữa các thành viên đặt dưới sự quản lý của hội phụ nữ, xã phường. Quy
mô một món vay trung bình đạt 0.7 triệu đồng. Tuy nhiên, xét về tỷ lệ thâm nhập thị
trường các các tổ TKTD đã hoạt động ở 10953 xã chiếm 98.5% tổng số đơn vị hành
chính cấp xã có hoạt động tín dụng TCVM của Hội, với tỷ lệ thành viên chiếm 41.4%
tổng thành viên tham gia các chương trình tín dụng TCVM của Hội và chỉ sau Ngân
hàng chính sách xã hội (48.4%). Có lẽ sự phổ biến của loại hình này là nhờ vào sự
hiểu biết lẫn nhau giữa các chị em trong cùng cộng đồng và sự đơn giản về thủ tục và
dễ quản lý đối với những món tiền nhỏ.
b. Những kết quả chính
Với những hình thức này, Hội đã cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô cho một
bộ phận lớn phụ nữ trong độ tuổi lao động (33.2%) tức là cứ 3 phụ nữ làm việc thì có 1
phụ nữ được vay tín dụng TCVM ủy thác qua Hội phụ nữ. Số tổ/nhóm và hội viên
tham gia các chương trình tín dụng TCVM của Hội tăng dần qua các năm, năm 2007
số tổ/ nhóm là 243.4 ngàn thì năm 2011 số tổ/nhóm đạt 267.3 ngàn, số thành viên
tham gia các chương trình tín dụng TCVM của Hội năm 2007 là 5027.7 ngàn thì năm
2011 số thành viên tăng lên đạt con số là 6552.4 ngàn thành viên.
Hình 5: Mức độ tiếp cận (% lao động nữ) TCVM qua Hội Phụ nữ, 2007-2011
Nguồn: Phân tích số liệu TCVM Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2013)
Về quy mô dư nợ, tổng dư nợ hoạt động tín dụng TCVM ủy thác qua Hội Phụ
nữ đã tăng mạnh từ năm 2007 (đạt 19144 tỷ đồng) đến 2011 (đạt mức 46881 tỷ đồng).
Tốc độ tăng trưởng tổng dư nợ tín dụng TCVM ủy thác qua Hội Phụ nữ bình quân
hàng năm ở mức 25.1%/năm. Nếu xét riêng về quy mô dư nợ giữa các đơn vị ủy thác
cho Hội Phụ nữ, NHCSXH đang là đơn vị ủy thác có quy mô tín dụng TCVM lớn nhất
và quan trọng nhất đối với hoạt động tín dụng TCVM của Hội Phụ nữ. Trong 5 năm
qua, tỷ trọng vốn tín dụng TCVM từ NHCSXH cho Hội phụ nữ không ngừng tăng lên.
Thêm vào đó, hoạt động tín dụng TCVM của ngân hàng NN&PTNT ủy thác cho Hội
Phạm Thị Vân Lớp: 8A7 - VBII


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status