Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong truyền thông cho phụ nữ có con dưới 36 tháng tuổi nghiên cứu trường hợp nhân viên công tác xã hội tại ban gia đình xã hội trung ương hội liên hiệp phụ nữ việt nam - Pdf 52

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THÙY DUNG

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG TRUYỀN THÔNG CHO PHỤ NỮ CÓ CON
DƢỚI 36 THÁNG TUỔI
( Nghiên cứu trƣờng hợp nhân viên công tác xã hội tại Ban Gia đình
Xã hội – Trung ƣơng Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THÙY DUNG

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG TRUYỀN THÔNG CHO PHỤ NỮ CÓ CON
DƢỚI 36 THÁNG TUỔI
( Nghiên cứu trƣờng hợp nhân viên công tác xã hội tại Ban Gia đình
Xã hội – Trung ƣơng Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam)

Ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

GS.TS. Trần Thị Minh Đức, một người rất tâm huyết với nghề giáo,
cô đã hết lòng giúp đỡ, động viên, kiên nhẫn và tạo điều kiện cho tôi trong
những lúc tôi gặp khó khăn muốn bỏ cuộc. Cô đã luôn hướng dẫn tôi chu đáo,
tận tình từng chi tiết, giải thích từng thắc mắc nhỏ trong suốt quá trình thực
hiện và hoàn thành luận văn của tôi.
Các thầy cô ở khoa xã hội học trường ĐHKHXH&NV và các thầy cô
đã giảng dạy các môn học trong suốt 02 năm tôi theo học đã mang đến cho tôi
rất nhiều kiến thức quí báu và truyền cho tôi sự tâm huyết, yêu nghề để tôi có
động lực và niềm tin theo đuổi lĩnh vực mà mình đã chọn. Tôi đã học được
một tinh thần nhân văn, không từ bỏ dù gặp khó khăn khi luôn được các thầy
cô trong khoa tạo điều kiện, động viên.
Ban Gia đình Xã hội – TW Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã nhiệt
tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi tham gia phỏng vấn, cung cấp tài liệu,
thông tin để tôi có thể hoàn thiện được đề tài nghiên cứu của minh.
Gia đình, bố mẹ, anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp của tôi, những người
đã sát cánh bên tôi trong suốt thời gian tôi học tập, làm luận văn.
Các bạn học viên lớp Cao học Công tác Xã hội (khóa học 2014 – 2016)
đã luôn chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và cảm xúc trong những ngày tháng
tôi học tập tại mái trường Nhân văn.


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC SƠ ĐỒ
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................... 6
2. Mục đích nghiên cứu................................................................................ 8

1.2.3. Một số lý thuyết áp dụng .............................................................. 24
1.2.3.1. Lý thuyết vai trò ....................................................................... 24
1.2.3.2. Lý thuyết nhu cầu .................................................................... 30
1.2.3.3. Lý thuyết truyền thông............................................................. 31
1.2.4. Ban Gia đình Xã hội ..................................................................... 33
CHƢƠNG 2: HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG CHO PHỤ NỮ CÓ
CON DƢỚI 36 THÁNG CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI........ 37
2.1. Đánh giá nhu cầu truyền thông và mức độ hiểu biết của phụ nữ có
con trong độ tuổi 36 tháng......................................................................... 37
2.1.1. Nhu cầu truyền thông của phụ nữ có con dƣới 36 tháng tuổi .. 37
2.1.2. Mức độ hiểu biết của phụ nữ có con dƣới 36 tháng tuổi sau khi
đƣợc truyền thông ................................................................................... 40
2.2. Truyền thông của nhân viên công tác xã hội Ban Gia đình Xã hội ...
............................................................................................................ 42
2.2.1. Vai trò lập kế hoạch truyền thông của nhân viên công tác xã hội
...................................................................................................... 42
2.2.2. Vai trò vận động và kết nối truyền thông của nhân viên công
tác xã hội .................................................................................................. 44
2.2.3. Vai trò của nhân viên công tác xã hội truyền thông về kiến thức
trẻ dƣới 36 tháng cho phụ nữ ................................................................ 47
2


2.2.4. Đánh giá chung về hoạt động truyền thông của nhân viên công
tác xã hội .................................................................................................. 48
2.2.4.1. Đánh giá của phụ nữ có con dưới 36 tháng về nhân viên công
tác xã hội đi truyền thông ..................................................................... 48
2.2.4.2. Đánh giá về kỹ năng truyền thông của nhân viên công tác xã
hội .......................................................................................................... 52
2.2.4.3. Đánh giá về nội dung truyền thông của nhân viên công tác xã


Ban GĐXH

Ban Gia đình Xã hội

CTXH

Công tác Xã hội

ĐTB hoặc mean

Điểm trung bình

Hội hoặc Hội LHPN Việt Nam

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

SD

Độ lệch chuẩn

TW

Trung ương

4


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BẢNG

Biểu đồ 2.1. Đánh giá chung về hoạt động truyền thông...............................63

6


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ, ngày càng hiện đại
hóa và công nghiệp hóa hơn. Với cơ cấu gia đình có nhiều thay đổi như hiện
nay khi mà mỗi cặp vợ chồng thường có từ một đến hai con, thì sự quan tâm,
chăm sóc và kỳ vọng ở mỗi đứa trẻ ngày càng được chú ý. Hiện nay, các bậc
cha mẹ đang nuôi dạy con cái của mình theo bản năng và kiến thức thu lượm
được mà chưa được đào tạo về cách làm cha mẹ. Trong xã hội phát triển
mạnh mẽ về truyền thông đại chúng như hiện nay, có rất nhiều kiến thức để
những người chăm sóc trẻ có thể tiếp cận. Làm thế nào để có thể tiếp cận kiến
thức đúng, đủ, kịp thời vẫn còn là một điều khó khăn cho những người chăm
sóc trẻ trực tiếp.
Giai đoạn trẻ em được khoảng 36 tháng tuổi là giai đoạn then chốt của
cả trẻ và mẹ. Giai đoạn này là nền móng cho sự phát triển cả về thể chất và
tinh thần cho trẻ sau này. Vậy, ở Việt Nam tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thấp còi
dưới 5 tuổi tính đến năm 2015 là 22,5% [31]. Con số này cho thấy Việt Nam
vẫn là nước hàng đầu trên thế giới về tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng. Mặc dù hàng
năm theo ghi nhận của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên
hợp quốc (UNICEF), Việt Nam đã có những thành công hàng đầu khu vực
khi giảm từ 1,8 – 2% số trẻ suy dinh dưỡng dưới năm tuổi. Nhưng con số đó
vẫn chưa đủ khi mà tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở nước ta vẫn cao, cũng như tỷ lệ
trẻ em dưới 1 tuổi chết là 14,9/1000 trẻ [28], hay tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ
hoàn toàn trong 6 tháng đầu tiên còn thấp dưới 1%, tỷ lệ khám thai định kỳ
của chúng ta còn thấp và không đồng đều giữa các vùng miền. Điều này cho
thấy phụ nữ và người chăm sóc trẻ cần có kiến thức cơ bản, đồng bộ để giúp

nhân viên CTXH trong hoạt động truyền thông liên quan đến phụ nữ có con
dưới 36 tháng tuổi.
7


Với các lý do trên , tôi đã lựa chọn đề tài luận văn: “Vai trò của nhân
viên công tác xã hội trong truyền thông cho phụ nữ có con dưới 36 tháng
tuổi”. Cụ thể là nghiên cứu trường hợp nhân viên CTXH tại Ban Gia đình
Xã hội (Ban GĐXH) thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (Hội LHPN Việt
Nam).
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và điều tra thực trạng đề tài nghiên cứu nhằm
mục đích chỉ ra vai trò của nhân viên CTXH trong hoạt động truyền thông
cho phụ nữ có con dưới 36 tháng tuổi. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp
hoạt động truyền thông cho nhân viên CTXH thuộc ban GĐXH.
3. Đối tƣợng
“Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong truyền thông cho phụ nữ có
con dưới 36 tháng tuổi”
4. Khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu chính: Toàn bộ nhân viên CTXH tương ứng với
10 người chiếm tỷ lệ 100% chuyên viên và cán bộ ban GĐXH – TW Hội
LHPN Việt Nam.
- Khách thể khác: 128 phụ nữ đã từng tham dự buổi truyền thông về kiến
thức nuôi dạy trẻ em dưới 36 tháng tuổi.
Trong đó:
Về độ tuổi phụ nữ tham gia khảo sát từ 20 - 47 tuổi.
Về trình độ học vấn: phổ thông chiếm 45.3%; trung cấp/cao đẳng chiếm
38.3%; đại học/ sau đại học chiếm 16.4%
Về nghề nghiệp chính: Nông dân có tỷ lệ 29.7%; công nhân/ cán bộ công


9


7. Giả thuyết nghiên cứu
1) Nhân viên CTXH có vai trò quan trọng trong việc truyền thông về
những kiến thức về y tế, giáo dục, chính sách đến cho phụ nữ có con dưới 36
tháng tuổi.
2) Truyền thông cho nhóm phụ nữ có con dưới 36 tháng tuổi sẽ cung cấp
kiến thức đúng đủ, thực tiễn về trẻ em dưới 36 tháng cho phụ nữ trong chăm
sóc phát triển toàn diện cho trẻ.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu và xử lý số liệu
8.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Để thực hiện phương pháp nghiên cứu tài liệu, trước hết là tìm được
các nguồn tài liệu có các thông tin nhằm đáp ứng cho các mục tiêu và đề tài
nghiên cứu. Từ các thông tin có sẵn trong tài liệu đó tôi chọn lọc các thông tin
có ích cho mục đích nghiên cứu của mình về vai trò của nhân viên CTXH
trong truyền thông cho phụ nữ có con dưới 36 tháng tuổi.
Qua phương pháp này giúp phân tích và đánh giá tình hình hoạt động
truyền thông cho phụ nữ có con dưới 36 tháng tuổi của nhân viên Ban GĐXH
đã được triển khai thực hiện như thế nào. Những kết quả đã đạt được trong
quá trình và phương hướng hoạt động khắc phục khó khăn thúc đẩy vai trò
sắp tới của nhân viên CTXH trong Ban.
Dựa trên các tài liệu thu thập được tiến hành thu thập thông tin, phân
tích, hệ thống hóa các căn cứ liên quan đến đề tài nghiên cứu.
8.2. Phương pháp điều tra bảng hỏi
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là một phương pháp phỏng vấn
viết, được thực hiện cùng lúc với nhiều người theo một bảng hỏi in sẵn.
Người được hỏi trả lời ý kiến của mình bằng cách đánh dấu vào các ý kiến
tương ứng theo một quy ước đã định sẵn.

(vai trò) của CTXH với hoạt động truyền thông; nhận định về những nhu cầu
11


được truyền thông của phụ nữ có con dưới 36 tháng tuổi; đánh giá hiệu quả
của những hình thức truyền thông đang được thực hiện; đề xuất giải pháp hỗ
trợ cho hoạt động hoạt động truyền thông cho phụ nữ có con dưới 36 tháng
tuổi có tính khả thi và đạt hiệu quả cao.
Đối tượng phỏng vấn: 10 nhân viên xã hội là cán bộ Ban GĐXH có liên
quan đến truyền thông cho phụ nữ có con dưới 36 tháng tuổi
8.4. Phương pháp xử lý số liệu
- Phần xử lý số liệu định lượng: các câu trả lời từ bảng hỏi được xử lý
bằng phần mềm SPSS để cho ra kết quả tính tỷ lệ %, tính điểm trung bình và
độ lệch chuẩn. Để giúp cho việc phân tích số liệu hợp lý và hiệu quả thì trong
đề tài này tôi sử dụng thang đo khoảng, cụ thể như sau:
Trong bảng khảo sát, tôi sử dụng thang đo likert 5 bậc, trong đó:
Giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum)/n = (5-1)/5 = 0.8 điểm
Như vậy mỗi bậc (mức) là 0.8 điểm.
Ý nghĩa các mức như sau:
Không cần thiết/ Yếu/ Hoàn toàn không đúng/ Không có nhu cầu: ĐTB
từ 1.00 - 1.80;
Ít cần thiết/ Trung bình/ Phần nhiều không đúng/ Hiếm khi: ĐTB từ
1.81 - 2.60;
Cần thiết/ Khá/ Trung bình/ Thỉnh thoảng: ĐTB từ 2.61- 3.40;
Khá cần thiết/ Tốt/ Phần nhiều đúng/ Thường xuyên: ĐTB từ 3.41 4.20;
Rất cần thiết/ Rất tốt/ Hoàn toàn đúng/ Rất thường xuyền: ĐTB từ 4.21
- 5.00;
- Phần xử lý thông tin định tính: sử dụng những lời trích và những
nghiên cứu trường hợp được sử dụng nhằm làm cho thông tin định lượng rõ
ràng hơn, có ý nghĩa hơn.

13


những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng của hoạt động trợ giúp,
nâng cao vai trò của nhân viên CTXH. Nói cách khác, kết quả nghiên cứu có
thể giúp cho quá trình hoạch định, điều chỉnh, bổ sung những chính sách,
chiến lược về các đối tượng đặc biệt quan tâm trong xã hội. Đặc biệt là phụ
nữ và trẻ em một cách hiệu quả.
Đối với địa bàn nghiên cứu: nghiên cứu đưa ra cái nhìn tổng thể về
thực trạng hoạt động truyền thông của nhân viên CTXH đối với nhu cầu của
phụ nữ có con dưới 36 tháng tuổi. Kết quả nghiên cứu góp phần vào việc
hoàn thiện và phát triển hơn mô hình truyền thông thay đổi nhận thức hành vi,
để đưa ra chính sách hỗ trợ nhóm đối tượng này và đưa CTXH đối với phụ nữ
trở thành dịch vụ chuyên nghiệp, phát huy đầy đủ vai trò nhân viên CTXH
của Ban GĐXH – TW Hội LHPN Việt Nam.
Đối với bản thân nhà nghiên cứu: qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu
thực tế nhà nghiên cứu có cơ hội áp dụng những lý thuyết và phương pháp đã
được học vào thực tiễn cuộc sống, đặc biệt là những kỹ năng thực hành
CTXH. Từ đó giúp nhà nghiên cứu nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng và
có thêm nhiều kinh nghiệm trong những nghiên cứu tiếp theo và quá trình
công tác của bản thân. Đặc biệt là khi làm việc với phụ nữ và trẻ em.

14


CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU
VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG
TRUYỀN THÔNG CHO PHỤ NỮ CÓ CON DƢỚI 36 THÁNG TUỔI
1.1.


đầu, chế độ dinh dưỡng ứng với từng thời kỳ phát triển của trẻ; nghiên cứu
cũng đề cập đến sự phát triển tinh thần, ngôn ngữ của trẻ trong giai đoạn này
và chỉ ra cha mẹ cần phải làm. Nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng đối với nhân
viên CTXH khi được sử dụng truyền thông cho phụ nữ có con trong giai đoạn
dưới 36 tháng [1].
Tác giả Nguyễn Trọng An phối hợp cùng Trung tâm nghiên cứu đào tạo
phát triển cộng đồng (2014) đã nghiên cứu chi tiết chăm sóc người mẹ giai
đoạn mang thai; chăm sóc mẹ và bé sơ sinh; nuôi con khỏe mạnh; chăm sóc
con khỏe và sớm phát triển; giúp con phát triển các kỹ năng cần thiết; kỹ năng
làm giảng viên; vận hành theo dõi giám sát câu lạc bộ nằm trong bộ sổ tay từ
1đến 7 quyển hướng dẫn chăm sóc trẻ về đối tượng từ thai nhi cho đến 24
tháng tuổi; Những nghiên cứu này của tác giả góp phần cung cấp kiến thức
và kỹ năng chăm sóc toàn diện cho trẻ, giúp hiểu sâu về sự phát triển của trẻ
và người chăm sóc trẻ biết cần phải làm để đảm bảo sự phát triển của trẻ. Đặc
biệt trong nghiên cứu của tác giả có phần kỹ năng làm giảng viên, nhân viên
CTXH có thể dùng như là một tài liệu giúp bổ sung kiến thức và phát huy vai
trò truyền thông cho phụ nữ có con dưới 36 tháng tuổi.[2]
Tác giả Dr. Irene Chattoor (Chủ biên do Thiên Lương dịch) trong cuốn
sách Bé yêu học ăn của đã giúp cho những người đang chăm sóc trẻ giải quyết
được các thắc mắc câu hỏi của bản thân làm thế nào để trẻ ăn ngoan và khoa
học trong những năm đầu đời. Tài liệu giúp cho quá trình truyền thông về
sinh hoạt hàng ngày của nhân viên CTXH vừa thực tế, hấp dẫn, hiệu quả đối
với phụ nữ có con dưới 36 tháng tuổi.[24]
Tác giả Nguyễn Thị Hiếu (chủ biên) trong cuốn tài liệu Hướng dẫn chăm
sóc giáo dục trẻ dưới 36 tháng tuổi ở nhóm trẻ độc lập tư thục của, sẽ giúp
16


cho vai trò truyền thông về phần giáo dục và chính sách của trẻ hiểu rõ hơn
các chăm sóc, giáo dục cho trẻ từng độ tuổi phù hợp khi tham gia lớp học để

truyền thông đại chúng, tác động của toàn cầu hóa đến phương tiện truyền
thông, từ nội dung cuốn sách nhân viên CTXH sẽ lập kế hoạch truyền thông,
lựa chọn những phương pháp và công cụ truyền thông sao cho phù hợp với
chị em phụ nữ có con dưới 36 tháng tuổi ở từng vùng miền khác nhau của
Việt Nam.
Tác giả Elena Yonah Rosen, Arli Paulin Quesada, Sue Lockwood
Summer (1998) nghiên cứu trong cuốn thay đổi thế giới thông qua giáo dục
truyền thông đã phân tích chi tiết về vai trò của truyền thông trong việc đánh
giá các vấn đề hiện tại như sức khỏe, con người, bạo lực, chủ nghĩa phân biệt.
Nghiên cứu đó nhân viên CTXH có thể áp dụng để thể hiện vai trò vận động
nguồn lực giúp thực hiện thành công kế hoạch truyền thông.
Tác giả Nguyễn Văn Dững (chủ biên) và tác giả Đỗ Thị Thu Hằng biên
soạn; NXB Chính trị Quốc gia – Sư thật( 2012) trong cuốn sách Truyền thông
- lý thuyết và kỹ năng cơ bản cung cấp những kiến thức lý thuyết và kỹ năng
truyền thông cơ bản nói chung, truyền thông - vận động xã hội và truyền
thông đại chúng... nói riêng; cũng như cung cấp một số nội dung, khái niệm,
kỹ năng, tình huống, cơ chế, chức năng... của một số loại hoạt động truyền
thông; chu trình, việc lập kế hoạch truyền thông, giám sát, đánh giá, phương
pháp sử dụng trong giám sát, đánh giá và các hoạt động để duy trì hoạt động
truyền thông. Qua cuốn sách, người đọc sẽ thấy hoạt động truyền thông bao
gồm nhiều cấp độ, từ truyền thông nội cá nhân đến việc giao tiếp liên cá nhân.
Nhưng dù ở cấp độ nào thì truyền thông cũng góp phần quan trọng trong quá
trình phát triển nhân cách cá nhân cũng như hình thành diện mạo văn hóa của
mỗi con người và của cộng đồng, của quốc gia vì những tác động, và sức lan
tỏa, sức truyền dẫn của nó tới công chúng.
18


Trong cuốn kỷ yếu các đề tài nghiên cứu khoa học của hệ truyền thông
giáo dục sức khỏe 2014 của Bộ Y tế có nghiên cứu về tỉnh hình nuôi con bằng


địa vị cụ thể. Nó bao gồm những kỳ vọng được hợp pháp hóa của những
người giữ chức vụ đối với hành vi người khác hướng đến họ. [4]
Theo nhà xã hội học Robertsons “ Vai trò là một tập hợp các chuẩn mực,
hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định”.
Như vậy, khái niệm vai trò được hiểu là chức năng xã hội của con người, là
mô hình những hành vi được xác lập một cách khách quan do vị thế xã hội
của cá nhân trong hệ thống các quan hệ xã hội hoặc hệ thống các quan hệ giữa
các cá nhân. [5;tr.211]
Tóm tại, trong luận văn này tôi hiểu rằng nhân viên CTXH làm việc tại
ban GĐXH có đầy đủ vai trò của một nhân viên CTXH hướng tới đối tượng
là phụ nữ có con dưới 36 tháng tuổi, đặc biệt họ có vai trò xây dựng kế hoạch
truyền thông; vài trò huy động, kết nối nguồn lực; vai trò là người truyền
thông.
1.2.1.2. Khái niệm truyền thông
Theo tác giả Nguyễn Văn Dững truyền thông là quá trình liên tục trao đổi
thông tin, tư tưởng, tình cảm… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc
nhiều người với nhau để gia tăng hiểu biết lẫn nhau và hiểu biết về môi
trường xung quanh nhằm thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và
thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển cá nhân, của nhóm, hoặc của cộng
đồng xã hội nói chung, bảo đảm sự phát triển bền vững. [3. Tr 17]
Về cách hiểu truyền thông trong công tác xã hội không khác với khái
niệm truyền thông nói chung và các ngành nghề khác nói riêng, nó đều có
mục đích là truyền đi thông điệp làm thay đổi nhận thức hành vi của người
được truyền thông một cách hiệu quả nhất.
Như vậy, truyền thông cho phụ nữ có con dưới 36 tháng tuổi là một
trong những hoạt động truyền thông đại chúng đến đối tượng đích là những

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status