Bộ YTẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
CAO XUÂN BÌNH
THỤC TRẠNG CUNG CÁP DỊCH vụ
VÀ NHẢN THỨC, THÁI ĐÔ, THƯC HÀNH CỦA PHU NỮ
CÓ CON DƯỚI 24 THÁNG TUỔI VỀ LÀM MẸ AN TOÀN
TẠI HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA NĂM 2014
LUẬN ÁN BÁC Sĩ CHUYÊN KHOA CẤP II
THÁI BÌNH2014
Bộ YTÉ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
CAO XUÂN BÌNH
THƯC TRANG CUNG CẤP DICH vu
••••
VÀ NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ, THỤC HÀNH CỦA PHỤ NỮ
CÓ CON DƯỚI 24 THÁNG TUỎI VÈ LÀM MẸ AN TOÀN
TAI HUYÊN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA NĂM 2014
Chuyên ngành: Quản lý Y tế
Mã số: CK. 62 72 76 05
chủ trì, phối hợp với cán bộ viên chức Trung tâm Y tế huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
thực hiện việc điều tra thu thập thông tin. Được sự hướng dẫn, giúp dỡ của các
Thầy giáo, Cô giáo Trường Đại học Y - Dược Thái Bình để hoàn thành Luận án.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong báo cáo này hoàn toàn trung thực theo kết
quả điều tra./.
Thái Bình, tháng 12 năm 2014
Cao Xuân Bình
DANH MUC CÁC CHỮ VIẾT TẮT •
AIDS
BCS
BLTQĐTD
BPTT
Acquired Immunodeficiency Syndrome (Hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải)
BV
Bao cao su
CCDV
Bệnh lây truyền qua đường tình dục
CSSKSS
LMAT
toàn
MMR
Maternal Mortality Ratio (Tỷ suất tử vong mẹ)
NHT
Nạo hút thai
NKĐSS
Nhiễm khuẩn đường sinh sản
PNCT
Phụ nữ có thai
SHTD
Sinh hoạt tình dục
TYT
Trạm y tế
TVM
Trang
Trang
9
ĐẬT VẨN ĐÈ
Sức khỏe sinh sản luôn là mối quan tâm của ngành y tế và cả cuộc đời
người phụ nữ bởi sự liên quan và dề đưa đến những nguy cơ về sức khỏe. Phần lớn
gánh nặng sức khỏe cua phụ nữ đều liên quan tới tình dục và sinh sản đặc biệt là
đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh sản.
Làm mẹ an toàn (LMAT) được hiểu là tất cả phụ nữ đều được nhận sự chăm
sóc cần thiết để được hoàn toàn khoẻ mạnh trong suốt thời gian mang thai, khi sinh
đẻ và sau đẻ, bao gồm cả điều trị cấp cứu sản khoa hoặc khi có tai biến xảy ra [9].
Nhưng hiện nay đôi khi chúng ta vẫn chưa quan tâm đúng mức đến chăm sóc sức
khỏe sinh sản đế người phụ nữ thực hiện chức năng sinh sản một cách an toàn.
Những tai biến của quá trình mang thai và sinh con là nguyên nhân hàng đầu dẫn
tới tử vong và thương tật cho phụ nữ ở độ tuổi 15-49 tại hầu hết các nước đang
phát triển. Vì vậy nếu được chăm sóc tốt hơn trong khi mang thai, khi sinh con và
có cơ hội tiếp cận nhiều hơn tới dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản (CSSKSS) thì
có khả năng làm giảm tử vong mẹ một cách đáng kể.
Tại Việt Nam, năm 2009, “Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc
sức khoẻ sinh sản” được Bộ Y tế ban hành, đây là tài liệu hướng dần cho nhân viên
y tế các tuyến triển khai thực hiện các dịch vụ chuẩn về chăm sóc sức khoẻ sinh
sản, nhằm hạn chế đến mức tối đa các tai biến trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
chuyên môn [5].
Năm 2011 Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sán
1.1.
Môt sô khái
niêm • •
Khái niệm về sức khoe’ sinh sản
é
Năm 1994, Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển họp tại Cairô, thủ đô
nước Ai cập đã đưa ra định nghĩa về sức khoẻ sinh sản: “Sức khoè sinh sản là trạng
1
1
thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, không chi đơn thuần là không có
bệnh tật hoặc tàn phế của hệ thống sinh sản [41]. Điều này cũng hàm ý là mọi
người, kể cả nam và nữ, đều có quyền được nhận thông tin và tiếp cận các dịch vụ
chăm sóc sức khoổ, các biện pháp kế hoạch hoá gia đình an toàn, có hiệu quả và
chấp nhận được theo sự lựa chọn của mình, đám bảo cho người phụ nữ trải qua
quá trình thai nghén và sinh đé an toàn, tạo cho các cặp vợ chồng cơ may tốt nhất
để sinh được đứa con lành mạnh”.
Làm mẹ an toàn
é
Làm mẹ an toàn (LMAT) được hiểu là tất cả phụ nữ đều được nhận sự
chăm sóc cần thiết để được hoàn toàn khoẻ mạnh trong suốt thời gian mang thai,
khi sinh đẻ và sau đẻ, bao gồm cả điều trị cấp cứu sản khoa hoặc khi có tai biến
xảy ra. Điều này có thể được hiểu là các bà mẹ cần được cung cấp các dịch vụ
trước sinh như: Khám thai, tiêm phòng uốn ván, uống viên sắt, tư vấn chăm sóc
sức khoe cho cho cả mẹ và thai nhi; khi sinh con các bà mẹ cần được cán bộ y tế
đờ đẻ và tư vấn chăm sóc sức khoẻ và nuôi con bằng sữa mẹ; trong 28 ngày đầu
sau sinh được khám lại cho cả mẹ và con [9],
thực hiện các dịch vụ kỳ thuật chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát hiện dịch sớm,
chữa các bệnh và đỡ đẻ thông thường, vận động nhân dân thực hiện các biện pháp
kế hoạch hóa gia đình (K.HHGĐ), vệ sinh phòng bệnh, tăng cường sức khỏe [8],
Các TYT xã giữ vai trò thực sự quan trọng trong việc đáp ứng nhu câu
CSSKSS cho người dân. Một điều đã được minh chứng là năng lực cung cấp dịch
vụ (CCDV), tính sẵn có và khả năng tiếp cận của dịch vụ với người dân là những
thành tổ quan trọng ánh hướng đến chất lượng CCDV tại các cơ sở y tế trong đó có
các TYT xã [5], [8]. Nằm trong hệ thống CSSKSS của cả nước, các TYT xã có
những khó khăn riêng trong việc đáp ứng các dịch vụ y tế nói chung và dịch vụ
CSSKSS nói ricng. Như được trình bày trong Báo cáo công tác y tế năm 2008 của
Bộ Y tế, chính sách đãi ngộ, tuyển dụng đối với cán bộ y tế còn nhiều bất cập, dẫn
tới khó khăn trong thu hút cán bộ phục vụ tại vùng khó khăn, tuyến cơ sở. Bên
1
3
cạnh đó, nhu cầu đầu tư cho y tế lớn, yêu cầu của nhân dân ngày càng cao nhưng
nguồn lực đầu tư cho y tế còn hạn chế.
Nhân lực của TYT xã giai đoạn trước năm 2001 được xác định tại Quyết
định số 58/TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 03/02/1994 là từ 3-6 biên
chế trong một TYT, từ 4 người trở lên phụ thuộc vào dân sổ hoặc vùng núi, hoặc
vùng cao của từng xã. Từ năm 2001 đến nay, bố trí nhân lực và các hoạt động của
TYT xã được quy định trong Chuẩn Quốc gia về Y tế xã giai đoạn 2001-2010 và
Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV ngày 05/6/2007 của Bộ Y tế và Bộ
Nội vụ hướng dẫn định mức biên chế trong các cơ sở y tế nhà nước, trong đó đáng
chú ý là: TYT xã tối thiểu có 5 cán bộ, tối đa có 10 cán bộ; cần có bác sỹ hoặc y sỳ
đa khoa (đồng bằng phải có bác sỹ); nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản, nhi (đồng bằng phải
có nữ hộ sinh trung học hoặc y sỹ sản, nhi); y tá (đồng bằng phải có y tá trung học
trở lên).
Sau một thời gian triển khai thực hiện, nhiều TYT xã đã được xây dựng mới
đơn lẻ nào khác. Trong bản báo cáo “Ước lượng tử vong mẹ năm 2005” của Tổ
Chức Y tế thế giới và Ngân hàng Thế giới đã chỉ ra rằng, trung bình cứ mỗi phút
trôi qua thì có một phụ nữ tử vong do các nguyên nhân liên quan đến thai sản.
Theo ước tính năm 2005, tỷ suất tử vong mẹ (MMR) trên phạm vi toàn thế giới
vẫn còn rất cao (MMR=400). Con số này cao nhất ở khu vực cận Sahara
(MMR=900), tiếp đến là châu Phi (MMR=820), khu vực Nam Á (MMR=490). Tại
các khu vực đang phát triển tỉ lệ này vân cao hơn tỉ lệ chung trên thê giới
(MMR=450). Tỷ suât tử vong mẹ tại khu vực Đông Nam Á (MMR=300) thấp hơn
so với tỷ suất chung của khu vực các nước đang phát triển [63],
Tỷ suất tử vong mẹ có sự khác biệt rõ ràng giữa các nước giàu và nước
nghèo và giữa các châu lục với nhau. Tỷ suất tử vong mẹ ở các nước phát triển là
9/100.000, đối lập sâu sắc với tỷ suất tử vong mẹ lên đến 450/10.000 tại các nước
đang phát triển. Có tới 99% số các trường hợp từ vong mẹ xảy ra ở các nước đang
phát triển, nhiều nhất ở khu vực châu Phi và Nam Á. Ngay trong cùng một châu
lục, sự khác biệt về tỷ suất tứ vong mẹ cũng khá rõ rệt. Tại khu vực châu Á, tỷ suất
1
5
tử vong mẹ cao nhất thuộc về khu vực Nam Á (MMR=490), trong khi tại khu vực
Đông Á con số này chi là (MMR=50). Công bố của Liên Hợp Quốc cũng chỉ ra:
Nhóm phụ nữ 15 tuổi có nguy cơ tử vong do biến chứng liên quan đến thai sản cao
nhất ờ Nigeria (1/7), và nguy cơ thấp nhất ở Ireland (1/48.000) [63], [64],
Các số liệu thống kê đã chỉ ra rằng tỷ suất tử vong mẹ tính chung trên toàn
cầu giảm chậm đồng thời cho thấy tỷ lệ giảm này chủ yếu chỉ diễn ra ở các khu
vực đã có sẵn mức độ tử vong mẹ tương đối thấp, như khu vực Đông Á (MMR
năm 1990 và 2005 lần lượt là 95 và 50), trong khi đó tỷ lệ tử vong mẹ giảm rất
chậm ở những khu vực mà trước đó tỷ lệ tử vong đã cao sẵn, chẳng hạn như khu
vực Cận Sahara (MMR năm 1990 và 2005 lần lượt là 920 và 900) [63], Việc giảm
này quá chậm đế đạt được mục tiêu thiên niên kỷ là đến năm 2015 tỉ lệ này giảm
Tại Việt Nam, kết quả rà soát tại 17 tỉnh cho thấy tổng số có 122 ca tử vong
mẹ trong năm 2007-2008. Tỷ suất tử vong mẹ sau khi hiệu chỉnh là 119/100.000 ca
sinh sống. Tỷ lệ tử vong mẹ tính trên 100.000 phụ nữ 15-49 tuổi tại 14 tỉnh là 8,2.
Nguyên nhân trực tiếp hàng đầu gây tử vong mẹ là băng huyết (43,4%), tiếp theo
là sản giật/tiền sản giật (10,7%). Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tỷ suất tử vong
mẹ của nhóm phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên (283/100.000 ca sinh sông) cao gâp 4
lân nhóm sinh 1 -2 con; ở nhóm kêt thúc thai nghén tại nhà rất cao (156/100.000 ca
sinh sống) và cao gấp 5 lần so với nhóm kết thúc thai nghén tại trạm y tế và bệnh
viện (32/100.000 ca sinh sống) [19].
Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế và tổng cục thống kê, trong thời gian từ
năm 1990 đến năm 2002 tỷ lệ tử vong mẹ giảm từ 200/100.000 trẻ đổ sống xuống
còn 91/100.000. Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm từ 45,1% năm 1994 xuống
còn 26% năm 2000 [22], Tuy đã đạt được những kết quả đáng kể nhưng trên thực
tế công tác CSSKSS cũng còn những tồn tại cần khắc phục. Kết quả điều tra cơ
bán về dịch vụ CSSKSS tại 12 tỉnh UNFPA tài trợ do Trung tâm nghiên cứu Dân
1
7
số và sức khoẻ nông thôn, Trường Đại học Y Thái Bình thực hiện năm 2003 dưới
sự chỉ đạo của Bộ Y tế với sự phối họp của Uỷ ban Dân số gia đình và trẻ em cho
thấy một số thực trạng về cung cấp dịch vụ CSSKSS cần phải được quan tâm.
Theo sổ liệu điều tra của Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ, trong số các sản phụ tử
vong có 65% không đến khám thai lần nào, 22% chỉ đến khám thai một lần và
13% khám thai 2 lần trở lên. Như vậy có thể thấy ý thức chưa chú trọng đến việc
thăm khám thai định kỳ theo hướng dẫn của nhà chuyên môn là một trong những
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tử vong đối với sản phụ. Minh chứng thêm cho nhận
định này là con số 63% trường họp sản phụ tử vong là do điều trị chậm, cao nhất
trong số các nguyên nhân chù quan dẫn đến từ vong. Các nguyên nhân tử vong mẹ
(cao) khác có thể kể đến là: Chuyển tuyến chậm (60%), phát hiện dấu hiệu chậm
ước lượng chính xác tử vong sơ sinh, hoặc những thành tố trước, sau của nó. Ớ
những nước không có đủ thông tin cho việc ước lượng tử vong sơ sinh thì con số
báo cáo thường thấp hơn con số thực tế dẫn đến việc không đánh giá đúng tầm
quan trọng của tử vong sơ sinh và thiếu sự quan tâm thích đáng.
Tương tự như trên, các nguyên nhân tử vong thời kỳ sơ sinh ở khu vực các
nước đang phát triển thường được đo lường một cách nghèo nàn, nên các nguyên
nhân thường được xác định chỉ tập trung vào ngạt khi sinh, các nhiễm khuẩn nặng,
các biến chứng của đẻ non và uốn ván.
Sức khỏe trẻ sơ sinh liên quan chặt chẽ đến sức khỏe bà mẹ, nhiều trường
hợp tử vong sơ sinh sớm liên quan đến việc chăm sóc trong đẻ. Một số yếu tố dẫn
đến tử vong mẹ cũng có thc là nguyên nhân gây hại cho thai nhi hoặc sơ sinh.
Chuyển dạ tắc nghẽn và kéo dài ở bà mẹ dần đến ngạt sơ sinh hoặc thai chết trong
tử cung. Sản giật và cháy máu trước đẻ cũng là những nguyên nhân đe doạ đến sự
sống của thai nhi. Các nhiễm khuấn trong quá trình mang thai hoặc khi sinh có thế
dần đến nhiễm khuẩn thai nhi hoặc sơ sinh. Vì vậy, một số can thiệp thiết yếu để
1
9
giám TVM và giám TVSS là cần thiết.
Theo tông điều tra dân số và nhà ở, tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm
nhanh từ 44,4%0 năm 1990 xuống còn 16/%0 năm 2008-2009. Tuy nhiên, tỷ suất
chết trẻ em dưới 1 tuồi ở nông thôn cao hơn đáng kể so với thành thị; ở vùng núi
cao hơn nhiều so với vùng đồng bằng. Theo kinh nghiệm từ các cuộc điều tra, tử
vong sơ sinh chiếm khoảng 70-75% số tử vong trẻ dưới 1 tuổi. Với cách ước tính
này, tỷ suất TVSS ở Việt Nam năm 2010 vào khoảng 12/100.000 trẻ đẻ sống; tỷ
suất TVSS ước tính này cũng phù hợp với báo cáo mức độ và xu hướng tử vong trẻ
em của các tổ chức Liên hợp quốc công bố tháng 10 năm 2011 [31], [32], Các cuộc
điều tra gần đây cũng cho thấy sự chênh lệch lớn giữa các vùng miền và nhóm dân
tộc: Tỷ suất TVSS ở nông thôn miền núi cao hơn 2 lần so với nông thôn vùng đồng
hiện cuộc sinh đẻ tại nhà. Trong số 240 ca sinh, chỉ có 6,2% được đỡ bởi CBYT
trong khi đó có 38 (15,8%) bà mẹ đã sinh một mình. 57,9% trẻ sơ sinh được bú
trong vòng 1 giờ đầu sau sinh và 85,4% được bú trong vòng 24 giờ [63].
Một nghiên cứu tương tự tại Nigeria được thực hiện vào năm 2008 cho
thấy, trong số 300 bà mẹ sinh tại nhà được phỏng vấn, 66,7% trường hợp chủ định
sinh tại nhà và 33,3% còn lại không chủ định. 13,4% cuộc sinh được CBYT đỡ và
15,7% trường họp sinh một mình. 65,3% trẻ sơ sinh được bú trong vòng một giờ
sau sinh và 95,7% trong vòng 24 giờ [63],
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, các kết quá thống kê cho thấy các
nội dung LMAT ở nước ta đã được thực hiện tốt thông qua các chỉ số như số lần
khám thai, tỷ lệ phụ nữ sinh con được cán bộ y tế đỡ. Tỷ lệ phụ nữ có thai được
quán lý thai (khám thai ít nhất 1 lần) tăng từ 75,6% năm 2000 lên 94,2% năm
2008. Tỷ lệ phụ nữ đẻ được khám thai 3 lần trở lèn trong thai kỳ đã tăng từ 69,7%
lên 86,5% và tỷ lệ phụ nữ đẻ được CBYT đỡ năm 2008 là 94,7% [35]. Theo số liệu
Niên giám thống kê y tế năm 2010, 93,5% phụ nữ có thai được tiêm chủng uốn ván
2
1
từ 2 lần trở lên, 97,09% đẻ được CBYT chăm sóc và 87,78% được khám sau sinh
[31 ].
Tuy vậy, các chỉ số này rất khác nhau giữa các vùng, tốt hơn ở khu vực
thành thị so với các vùng sâu, vùng xa nơi có điều kiện kinh tế xã hội còn khó
khăn. Tỷ lệ khám thai ít nhất 3 lần trong thời gian mang thai ở những khu vực
vùng sâu, vùng xa có tăng lên trong những năm gần đây song cũng chỉ đạt khoảng
50%. Một thống kê năm 2006 cho thấy, nhóm phụ nữ thuộc nhóm hộ gia đình
nghèo, nhóm dân tộc thiểu số có xác suất không được khám thai cao gấp 3,06 lần
(95% CI 1,27-7,41) và không được CBYT đỡ đẻ cao gấp 6,27 lần (95% CI 2,3716,6) so với nhóm không nghèo [17].
Tỷ lệ thấp phụ nữ khám thai đủ số lần theo quy định và sinh con tại CSYT
thường tập trung ở những tỉnh thuộc khu vực Đông Bắc, Tây Bắc và Tây Nguyên.
Kết quả kiểm kê số liệu số sách tại 200 Trạm Y tế của 30 huyện thuộc 5 tỉnh
Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Kon Turn và Gia Lai cho thấy: Tỷ lệ phụ nữ đẻ năm
2010 được khám thai ít nhất 3 lần trong một thai kỳ còn thấp (49,5%), cao nhất ở
Kon Turn (62%) và thấp nhất ở Điện Biên (41,4%). Tỷ lệ phụ nữ đẻ được tiêm
phòng uốn ván từ 2 mũi trở lên đạt 77,7%, cao nhất ở
Kon Tum (88,1%) và thâp nhât ở Điện Biên (67,8%). Tỷ lệ phụ nữ đẻ trong nghiên
cứu được cán bộ y tế đã qua đào tạo về chăm sóc thai sản của Trạm Y tế, nhà hộ
sinh, của bệnh viện đỡ đạt 54,9%, cao nhất ở Sơn La (72,5%) và thấp nhất ờ Lai
Châu (33,6%) [36].
Kết quả điều tra cuối kỳ tại 7 tỉnh tham gia Chương trình quốc gia cho thấy
tỷ lệ khá cao phụ nữ biết cần phải đi khám thai ít nhất 3 lần trong một thai kỳ
(90,4%) và phụ nữ đẻ được khám thai 3 lần trở lên (84,8%). Tỷ lệ phụ nữ có thai
tiêm phòng uốn ván đủ mũi đạt 68,6%. Tỷ lệ phụ nữ sinh con tại CSYT là 86,6%
và tỷ lệ phụ nữ đẻ được CBYT đỡ là 88,6%. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng,
2
3
kiến thức của phụ nữ về LMAT vẫn còn hạn chế. Đa số phụ nừ được phòng vấn
mới nêu được hai dấu hiệu nguy hiếm trong thời gian mang thai là “đau bụng”
(56,6%) và “chảy máu” (59,3%) [36].
Kết quả Điều tra ban đầu Dự án hỗ trợ y tế vùng duyên hải Nam Trung bộ
cho thấy, có 81,6% số phụ nữ đang nuôi con nhỏ nhất năm 2009 được phỏng vấn
đã đi khám thai từ 3 lần trở lên; 90,8% được tiêm phòng đầy đủ trong lần mang
thai gần đây nhất. Phần lớn phụ nữ được phỏng vấn trong nghiên cứu cho biết họ
đã đến cơ sở y tế nhà nước đổ đò trong lần sinh con vừa rồi. Nhiều nhất là bệnh
viện (BV) huyện (40,2%), tiếp đến là TYT xã (23%), BV tỉnh (22,7%) [41],
Nghiên cứu tại 4 tỉnh Điện Biên, Hòa Bình, Thanh Hóa và An Giang năm
2011 cho kết quả như sau: 91,9% phụ nữ đang nuôi con dưới 3 tuối được phỏng
vấn biết đúng về số lần cần khám thai trong một thai kỳ và 89,5% đã đi khám thai
LMAT còn bao gồm cả khâu chăm sóc sản phụ và trẻ sơ sinh ngay sau sinh.
Phụ nữ ngay sau sinh cần được theo dõi đố phát hiện sớm nhằm xử trí kịp thời đối
với các tai biến như băng huyết, nhiễm trùng, sản giật... Ngoài ra, họ còn cần được
hướng dẫn về chế độ dinh dưỡng nhằm đảm bảo dinh dưỡng cho cả mẹ và con; và
một điêu rât quan trọng là khâu kê hoạch hóa gia đình
nhằm nâng cao chất lượng sức khỏe bà mẹ, tránh thai ngoài ý muốn hoặc các
bệnh liên quan đến bộ phận sinh dục. Người mẹ và người chăm sóc trẻ cũng
cần được hướng dẫn cách chăm sóc trẻ sơ sinh như việc cho bú sữa mẹ sớm
ngay trong vòng 30 phút sau sinh, cách phòng chống nhiễm khuẩn các bệnh
như viêm phế quán phổi, nhiễm trùng rốn, viêm mắt sơ sinh v.v... LMAT
nhằm bảo đảm sức khỏe và chất lượng sống cho cả người mẹ và trẻ, giảm tai
biến, giảm tử vong, muốn đạt được hiệu quả cần phải có sự phối hợp thực
hiện của cả người dân và cơ quan chuyên môn. Theo đó, người dân cần nâng
cao ý thức về việc chăm sóc đúng cách đối với phụ nữ mang thai và thai phụ
2
5
ngay sau sinh; cơ quan chuyên môn cần thực hiện một cách đầy đủ và kịp thời
các khâu hướng dẫn, chăm sóc thai phụ, sản phụ.
1.4.
Cơ sở và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sán tại Việt Nam.
••••
Trong những năm qua công tác CCSSK nhân dân nói chung và công tác
CSSKSS nói riêng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ. Hệ thống các dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ trẻ em, KHHGĐ được mở rộng, với chất lượng
ngày càng cao, tình hình sức khoe bà mẹ trẻ em được cải thiện đáng kể. Theo số
liệu thống kê của Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê, trong thời gian từ 1990 đến 2002