ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
VŨ HƯƠNG DỊU
THỰC TRẠNG NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ
TRONG 6 THÁNG ĐẦU CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON
DƯỚI 24 THÁNG TUỔI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI 20 XÃ THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Y HỌC DỰ PHÒNG
Mã số: 60 72 01 63
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HẠC VĂN VINH
ơ
THÁI NGUYÊN - NĂM 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện
một cách nghiêm túc, trung thực, đúng quy trình và đảm bảo tính khoa học.
Các số liệu và kết quả trong luận án không trùng lặp với bất kỳ công
trình nghiên cứu của tác giả nào khác trong, ngoài nước và chưa được công
bố, hoặc sử dụng ở bất kỳ đâu.
Tác giả luận văn
Vũ Hương Dịu
BMHT
: Bú mẹ hoàn toàn
CSSK
: Chăm sóc sức khỏe
NCBSM
: Nuôi con bằng sữa mẹ
SDD
: Suy dinh dưỡng
TCYTTG
: Tổ chức Y tế thế giới.
TĐHV
: Trình độ học vấn
TTDD
: Tình trạng dinh dưỡng
WHO
1.5.2. Tình trạng kinh tế, văn hóa, xã hội......................................................................................................................................................13
1.5.3. Độ tuổi của bà mẹ................................................................................................................................................................................................................13
1.5.4. Phương pháp đẻ và các chính sách về thai sản ............................................................................................................13
1.6. Tình hình ăn bổ sung trên thế giới và ở Việt Nam ......................................................................................................15
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................................................17
2.1. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................................................................................................................................17
2.2. Thời gian nghiên cứu...........................................................................................................................................................................................................17
2.3. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................................................................................................................................17
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu..........................................................................................................................................................................................................17
2.3.2. Cỡ mẫu, địa điểm nghiên cứu và cách chọn mẫu...................................................................................................17
2.3.3. Biến số và chỉ số nghiên cứu........................................................................................................................................................................19
2.3.4. Tiêu chuẩn đánh giá ........................................................................................................................................................................................................20
2.3.5. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu.............................................................................................................................21
2.4. Xử lý và phân tích số liệu............................................................................................................................................................................................21
2.5. Sai số và cách khắc phục ..............................................................................................................................................................................................22
2.6. Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu.....................................................................................................................................................22
Chương 3. KẾT QUẢ .......................................................................................................................................................................................................................23
3.1. Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con
dưới 24 tháng tuổi tại một số xã thuộc tỉnh Thái Nguyên..........................................................................23
3.2. Một số yếu tố liên quan đến việc nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu
của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi....................................................................................................................................27
3.2.1. Các yếu tố liên quan tới việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6
tháng đầu ..................................................................................................................................................................................................................................................27
3.2.2. Các yếu tố liên quan tới việc trẻ được bú mẹ sớm trong vòng 1 giờ đầu
ngay sau khi sinh.......................................................................................................................................................................................................................33
Chương 4. BÀN LUẬN................................................................................................................................................................................................................38
4.1. Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ ...............................................................................................................................................................38
4.1.1. Thực trạng nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu.................................................38
Bảng 3.11. Bà mẹ quay lại làm việc trước 6 tháng và thực hành nuôi con hoàn
toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu........................................................................................................................................30
Bảng 3.12. Nơi sinh trẻ và thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6
tháng đầu......................................................................................................................................................................................................................................31
Bảng 3.13. Tình trạng đẻ của mẹ và thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ
trong 6 tháng đầu..........................................................................................................................................................................................................32
Bảng 3.14. Tình trạng đẻ non và thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ
trong 6 tháng đầu..........................................................................................................................................................................................................32
Bảng 3.15. Cân nặng trẻ khi đẻ và thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ
trong 6 tháng đầu..........................................................................................................................................................................................................33
Bảng 3.16. Tuổi của mẹ và thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau
sinh..........................................................................................................................................................................................................................................................33
Bảng 3.17. Dân tộc mẹ và thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ
đầu sau sinh .......................................................................................................................................................................................................................34
Bảng 3.18. Nghề nghiệp của mẹ và thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ
đầu sau sinh.............................................................................................................................................................................................................................34
Bảng 3.19. Trình độ học vấn của mẹ và thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng 1
giờ đầu sau sinh...............................................................................................................................................................................................................35
Bảng 3.20. Số con của bà mẹ và thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu
sau sinh............................................................................................................................................................................................................................................35
Bảng 3.21. Nơi sinh trẻ và thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau
sinh..........................................................................................................................................................................................................................................................36
Bảng 3.22. Tình trạng đẻ của mẹ và thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng...............................36
Bảng 3.23. Tình trạng đẻ non và thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu
sau sinh............................................................................................................................................................................................................................................37
Bảng 3.24. Cân nặng trẻ khi đẻ và thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng .....................................37
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
bằng sữa mẹ trở thành một thực hành như mong muốn ở Việt Nam [26]. Các
2
chính sách về nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và việc cho
con bú ngay trong giờ đầu tiên sau sinh cũng đã được thông qua và tuyên
truyền vận động, tuy nhiên những nghiên cứu gần đây cho thấy chỉ có 19,6%
trẻ sơ sinh được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và chỉ có một
phần tư các em được bú mẹ ngay trong giờ đầu sau sinh [3]. Nuôi con bằng
bình (bằng các sản phẩm thay thế sữa mẹ) vẫn là một thực hành rất phổ biến
và có xu hướng ngày càng tăng. Cho trẻ ăn, uống quá sớm ngay trong 6 tháng đầu
vẫn là một thách thức lớn đối với công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ sơ sinh và trẻ
nhỏ [43],[1].
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi phía Bắc, đời sống của người dân
vẫn còn nhiều khó khăn. Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ ở đây ra sao? Yếu
tố nào ảnh hưởng đến việc cho nuôi con bằng sữa mẹ? Để có câu trả lời và cái
nhìn toàn diện hơn về vấn đề trên, là cơ sở cho xây dựng kế hoạch và xây
dựng các giải pháp tăng cường công tác nuôi con bằng sữa mẹ tại tỉnh Thái
Nguyên, chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng nuôi
con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con dưới 24 tháng
tuổi và một số yếu tố liên quan tại 20 xã thuộc tỉnh Thái Nguyên”.
Với 2 mục tiêu sau:
1. Mô tả thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà
mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại 20 xã thuộc tỉnh Thái Nguyên năm 2016
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến việc nuôi con bằng sữa mẹ trong
6 tháng đầu của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại địa bàn nghiên cứu.
3
Chương 1
Sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnh nhất thích hợp nhất với trẻ vì có đủ năng
lượng, đủ chất dinh dưỡng cần thiết (đạm, đường, mỡ, Vitamin, muối khoáng)
với tỷ lệ thích hợp cho sự hấp thu và phát triển của trẻ, tránh suy dinh dưỡng
hoặc tăng cân quá mức. [5]
- Protein: hàm lượng protein trong sữa mẹ tuy ít hơn sữa công thức
nhưng có đủ các acid amin cần thiết và dễ tiêu hóa đối với trẻ nhỏ. Protein
của sữa mẹ gồm casein, albumin, lactabumin, β-Lactoglobulin, globulin miễn
dịch (kháng thể) và các glycoprotein khác. Đặc biệt, casein là một chất đạm
quan trọng có tác dụng ngăn chặn bệnh tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp, viêm
tai và dị ứng.[2], [5]
- Lipid: sữa mẹ có các acid béo cần thiết như acid linoleic, là một acid
cần thiết cho sự phát triển hệ thần kinh của trẻ nhỏ, mắt và sự bền vững của
mạch máu của trẻ. Lipid của sữa mẹ dễ tiêu hóa hơn vì có men lipase [2]
- Lactose: trong sữa mẹ có nhiều hơn trong sữa công thức, cung cấp
thêm nguồn năng lượng. Một số lactose trong sữa mẹ vào ruột chuyển thành
acid lactic giúp cho sự hấp thu calci và muối khoáng
- Vitamin: sữa mẹ có nhiều Vitamin A hơn sữa công thức, vì vậy trẻ bú
sữa mẹ sẽ đề phòng được bệnh khô mắt do thiếu Vitamin A. Các Vitamin
khác trong sữa mẹ cũng đủ cung cấp cho trẻ trong 6 tháng đầu nếu bà mẹ
được ăn uống và nghỉ ngơi đầy đủ [2], [16]
- Muối khoáng: nguồn calci và sắt trong sữa mẹ tuy ít hơn sữa công
thức nhưng tỷ lệ hấp thu cao, do đó thỏa mãn nhu cầu hấp thu của trẻ nên trẻ
được bú mẹ ít bị còi xương và thiếu máu do thiếu sắt [16].
Bú sữa mẹ, trẻ sẽ lớn nhanh, phòng được suy dinh dưỡng, giúp trẻ
thông minh, không bị thiếu Vitamin, thiếu máu do thiếu sắt, không bị thiếu
calci, phosphor [2].
5
1.2. Tầm quan trọng của sữa mẹ
- Thuận lợi vì không cần dụng cụ, không cần đun nấu, pha chế, không mất
thời gian chuẩn bị, không phụ thuộc giờ giấc, bất kỳ lúc nào cũng có thể cho trẻ
ăn ngay.
- Kinh tế vì không phải mua.
- Khi người mẹ ăn uống đầy đủ, tinh thần thoải mái sẽ đủ sữa cho
con bú [2], [5].
1.3. Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
1.3.1. Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ dưới 6 tháng tuổi
Nhu cầu năng lượng của trẻ đủ tháng, cân nặng lúc sinh bình thường
nhìn chung được đáp ứng hoàn toàn bởi sữa mẹ trong 6 tháng đầu nếu bà
mẹ có được tình trạng dinh dưỡng tốt.
Việc sản xuất sữa của người mẹ được điều chỉnh phù hợp theo nhu
cầu của trẻ, bà mẹ sinh đôi sinh ba vẫn đủ sữa, khi nhu cầu của trẻ tăng thì
việc sản xuất sữa cũng tăng theo trong vòng vài ngày, thậm chí trong vòng
vài giờ. Mức tiêu thụ sữa mẹ của trẻ bú mẹ hoàn toàn tăng vào khoảng giữa
tháng 3 đến tháng thứ 6, nếu trẻ ăn bổ sung sớm thì lượng này lại giảm đi.
Việc tiết sữa là linh hoạt vì vậy bà mẹ tăng sản xuất sữa thông qua việc vắt
sữa thường xuyên, và có khả năng cho bú lại sau khi đã dừng [40].
1.3.2. Tầm quan trọng của nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Những năm gần đây, tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng của trẻ em
trên toàn thế giới đã được quan tâm và cải thiện đáng kể. Vấn đề dinh dưỡng
được quan tâm hàng đầu đó chính là chương trình nuôi con bằng sữa mẹ.
Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc đã coi việc NCBSM là một trong bốn biện pháp
quan trọng nhất để bảo vệ sức khỏe trẻ em, nó đáp ứng đủ nhu cầu dinh
dưỡng của trẻ trong 6 tháng đầu đời [2], [4]. Tổ chức Y tế Thế giới cũng
khẳng định: Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu có thể cải
thiện sự tang trưởng và phát triển, kết quả học tập và thậm chí cả khả năng
7
đến 23 tháng . Khi trẻ bị bệnh, nhất là khi trẻ bị tiêu chảy cần cho trẻ bú nhiều
hơn bình thường, không nên cai sữa vì trẻ dễ bị SDD [79], [17].
1.4. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về thực trang nuôi con bằng
sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Từ lâu NCBSM đã được sự quan tâm ở nhiều nước trên thế giới.
Năm 1979 trong một nghiên cứu của Annie Cherian về thái độ thực
hành cho trẻ ăn ở Zaria, Nigeria cho thấy hầu như tất cả các đứa trẻ đều được bú
ngay sau sinh, 31% các bà mẹ tin tưởng vào sữa của mình, tuy nhiên có một tỷ lệ
nhỏ các bà mẹ cho con bú muộn hơn vì họ cho rằng sữa non là không tốt cho sức
khỏe sơ sinh [42].
Theo báo cáo của WHO (1993): tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 4
tháng đầu là 13% ở Srilanca, bú mẹ hoàn toàn ở thành thị thấp hơn ở nông
thôn (7% và 14%). Ở Châu Âu đã có xu hướng tăng cường NCBSM. Tỷ lệ
các bà mẹ NCBSM ở các nước Bungari, Đức, Hungari và Thụy Sỹ dao động
quanh 90%. NCBSM ở các nước Tây Âu thấp hơn, ví dụ: 67% ở Anh, 50% ở
Pháp, 35% ở Ireland [52].
Gần đây vấn đề NCBSM vẫn được nhiều nước quan tâm nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu năm 2006 ở Australia cho thấy tỉ lệ bắt đầu NCBSM là
93%, nhưng khi được 6 tháng tuổi thì chưa được một nửa số trẻ được nuôi
bằng sữa mẹ (45,9%) và chỉ có 12% được bú mẹ là chủ yếu [31],[60]. Ở một
bệnh viện của Mỹ, các nghiên cứu được tiến hành trong ba năm liên tiếp
từ1999 đến 2001 cho thấy tỷ lệ cho con bú sữa mẹ sớm vẫn duy trì được ở
mức cao: 87% (1999), 82% (2000), 87% (2001). Tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn có sự
khác nhau: 34% (1999), 26% (2000), 25% (2001) [43].
Trong một nghiên cứu dọc tại Anh cũng chỉ rõ NCBSM giảm dần trong
3 tháng đầu, sang tháng thứ 4 và 5 thì giảm đột ngột: 1 tháng (54,8%), 2 tháng
(43,7%), 3 tháng (31%), 4 tháng (9,6%), 5 tháng (1,6%) [67].
9
10
cả 2 nhóm đủ sữa và thiếu sữa mẹ. Từ 68 – 97% trẻ được ăn thêm trong vòng
4 tháng đầu. Thời gian cai sữa trung bình là 12 tháng, trong đó 13,4% trẻ
được cai sữa trước 12 tháng [9].
Cũng theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đình Quang về thực hành
nuôi con của bà mẹ nội thành và ngoại thành Hà Nội (1996) cho thấy tỷ lệ trẻ
được bú mẹ sớm trong vòng 30 phút đầu sau sinh là 30%, tỷ lệ trẻ bú muộn
trong vòng 24 giờlà 20,1%. Tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
là 20% [28]. Thời gian cho con bú trung bình là 14 tháng. Tỷ lệ trẻ 12 tháng
tiếp tục được bú mẹ là 60%. Những nghiên cứu tương tự như trên còn được
triển khai ở nhiều vùng sâu, vùng xa và vùng dân tộc thiểu số như: nghiên cứu
của Phạm Văn Phú, Nguyễn Xuân Ninh và cộng sự ở 2 huyện Núi Thành và
Thăng Bình tỉnh Quảng Nam cho thấy chỉ có 2/816 trẻ được nuôi bằng sữa
mẹ hoàn toàn trong 4-6 tháng đầu. Tỷ lệ bà mẹ cho ăn, uống trước khi bú lần
đầu cao (42,8%) [34].
Nguyễn Việt Dũng đã nghiên cứu trên 359 trẻ dưới 2 tuổi tại Hà Nội,
kết quả cho thấy có 2/3 số bà mẹ cho con bú trong vòng 1 giờ đầu sau khi
sinh, từ 1 giờ đến 24 giờ là 28,7%, sau 24 giờ chiếm 4,5%. [7].
Cũng theo kết quả nghiên cứu của Mai Thị Tâm về thực hành nuôi con
bằng sữa mẹ cho thấy tỷ lệ trẻ được bú mẹ sớm trong vòng 30 phút đầu sau
sinh là 87,2, tỷ lệ trẻ bú trong vòng 6 giờ là 72,6%. Tỷ lệ trẻ được bú mẹ
hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 32% [32]. Thời gian cho con bú trung bình là
14 tháng. Tỷ lệ trẻ 12 tháng tiếp tục được bú mẹ là 60%. Nghiên cứu của
Nguyễn Lân và Trịnh Bảo Ngọc đánh giá trên 322 trẻ tại huyện Phổ Yên, tỉnh
Thái Nguyên lại cho biết chỉ có 44,4% trẻ được bú ngay trong vòng 1 giờ đầu
sau sinh, 15,2% bà mẹ cho con bú sau 24 giờ và hơn 50% con trẻ ăn/ uống
những thức ăn khác trước khi cho trẻ bú lần đầu [14].
Từ các nghiên cứu trên có thể thấy rằng việc NCBSM đã được quan
tâm, tỷ lệ trẻ được bú sớm, bú mẹ hoàn toàn …có tăng lên dần theo thời gian
12
Khu vực sống, trình độ học vấn của mẹ cũng là một trong những yếu
tố liên quan đến việc thực hành bú sớm sau sinh và NCBSM. Nghiên cứu của
Lê Thị Hương và cộng sự tiến hành tại Hà Nội trên 2.690 trẻ em cho thấy
những phụ nữ ở nông thôn có xu hướng cho con bú nhiều hơn ở vùng thành
thị, đồng thời nghiên cứu cung chỉ ra 40% trẻ trai được bú sớm sau sinh tại
thành thị so với 35% ở nông thôn, tỷ lệ trẻ gái ở thành thị và nông thôn được
bú sớm sau sinh lần lượt là 49% và 40% [12]. Tuy nhiên việc NCBSMHT
trong tháng đầu tiên và 3 tháng tiếp theo ở nông thôn phổ biến hơn thành thị
đối với cả trẻ trai và gái [12]. Phụ nữ đã hoàn thành ít nhất trung học cơ sở
có xu hướng cho con bú ít hơn so với những bà mẹ có trình độ văn hóa thấp
hơn, cũng theo nghiên cứu của Lê Thị Hương ở khu vực thành thị số ngày
cho con bú hoàn toàn của các bà mẹ có trình độ học vấn cao thấp hơn so với
các bà mẹ có trình độ học vấn thấp, thời gian trung bình cho bú hoàn toàn
của các bà mẹ học hết cấp 2 là 108 ngày, bà mẹ học hết cấp 3 là 88 ngày
và học đại học hoặc cao hơn là 82 ngày [12].
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cũng đồng quan điểm cho rằng việc cho
con bú sớm phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của mẹ và của trẻ mới sinh,
tuổi của mẹ, thời gian chuyển dạ hay tư vấn của nhân viên y tế. Bà mẹ ít tiết
sữa hoặc có cảm giác đau và khó chịu cũng là nguyên nhân của việc không
cho trẻ bú sớm [66].
Các yếu tố về nhân khẩu học, văn hóa cũng được xác định là có liên
quan đến thực hành cho trẻ bú sớm và NCBSMHT trong 6 tháng đầu của các
bà mẹ và đã được chỉ ra trong một số nghiên cứu tại Việt Nam. Theo kết quả
điều tra của nghiên cứu dọc tại Quảng Xương, Thanh Hóa cho thấy tỷ lệ các
bà mẹ cho con bú sớm sau sinh và bú mẹ hoàn toàn trong tuần đầu tiên khá
cao với 98,3% và 83,6%, tuy nhiên việc các bà mẹ cho con ăn bổ sung sớm
vẫn còn rất phổ biến.
14
bị cắt tầng sinh môn và sinh mổ tương ứng là 54% và 11,3%. Các bà mẹ sinh
mổ có ít khả năng tránh cho trẻ ăn thức ăn lỏng như sữa hơn và có nhiều khả
năng nhất cho trẻ ăn sữa bột cho trẻ sơ sinh trong 3 ngày đầu tiên [1]. Cũng
theo nghiên cứu của A&T, các bà mẹ sinh con tại bệnh viện ít có khả năng
cho con bú mẹ sớm ngay sau khi sinh. Chỉ 45,3% những người sinh con ở
bệnh viện bắt đầu cho con bú trong 1 giờ đầu tiên, so với tỷ lệ 72% ở các bà
mẹ sinh con tại trạm y tế xã và nhà hộ sinh [1]. Bên cạnh đó , NCBSM còn bị
ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa xã hội như sự quan tâm, tham gia của
người cha, bà nội, bà ngoại của trẻ, thói quen cho trẻ ăn bổ sung sớm ảnh
hưởng đến hành vi NCBSMHT trong 6 tháng đầu. Tổ chức dinh dưỡng Nhi
khoa Châu Âu đã khuyến cáo rằng việc đưa các thực phẩm bổ sung cho trẻ
không nên trước 17 tuần. Trên thực tế việc cho ăn bổ sung thường được thực
hiện sớm hơn khuyến cáo. Chính việc tiêu thụ các thực phẩm chuyên biệt có
thể dẫn tới sự thay đổi cơ chế tác động chuyển hóa gây nên việc thừa cân, béo
phì sau này của trẻ [67], [76].
Sự ảnh hưởng của chính sách thai sản:
Một yếu tố liên quan khác có tác động khá nhiều đến thực hành
NCBSM đó là điều kiện làm việc cũng như chế độ nghỉ thai sản của bà mẹ.
Việc bà mẹ phải đi làm sớm được cho là một rào cản lớn đối với
NCBSMHT, hầu hết các bà mẹ đều phải tham gia công việc bên ngoài nhà
trước tháng thứ 4. Theo kết quả của một nghiên cứu định tính được tiến
hành trên toàn quốc về đánh giá tác động của các chính sách đến việc nuôi
con bằng sữa mẹ, nhiều ý kiến của các nhà lãnh đạo và hoạch định chính sách
cho rằng NCBSMHT trong 6 tháng đầu là rất khó.
Nghiên cứu của Skafida V tiến hành tại Scotland từ năm 2004 2005 cho thấy có mối liên quan giữa nghề nghiệp và thời gian nghỉ đẻ của bà
mẹ tới việc NCBSM trong 6 tháng đầu, những bà mẹ làm việc toàn thời
gian có nguy cơ cho con dừng bú cao gấp 1,6 lần so với những bà mẹ không
thêm là mẹ bận đi làm xa (54,9%), mẹ không đủ sữa cho con bú (16,9%), còn
16
lại là các lí do khác (trẻ cứng cáp hơn, sợ không đủ chất cho trẻ [19]. Tỷ lệ
các bà mẹ cho con ăn bổ sung sớm rất cao: có tới 4,5% số trẻ ăn bổ sung trong
tháng đầu, 13,5% ăn trong thời gian 1-2 tháng tuổi, trong 4 tháng đầu có tới
88,9% số trẻ đã ăn bổ sung. Chỉ có 2/322 bà mẹ (0,7%) cho con ăn bổ sung
trong thời gian từ 5-6 tháng tuổi [19]. Theo nghiên cứu của Từ Ngữ và cộng
sự về thực hành cho ăn bổ sung ở trẻ tại Phú Thọ thì đến tháng thứ 4, đã có
73,3% trẻ được cho ăn bổ sung, và đến 6 tháng tuổi thì hầu hết trẻ đã ăn bổ
sung (98,7%). Trên thực tế, đa số các bà mẹ đều cho rằng thời điểm cho ăn bổ
sung như vậy theo họ là sớm (73,3%), chỉ có 24,3% cho là đúng thời gian và
2% cho là muộn. Phân tích kỹ hơn thì những bà mẹ cho rằng trẻ đã ăn bổ sung
sớm thì thời điểm trung bình là 3,25 tháng; đúng thời gian khi độ tuổi trung
bình là 5,05 tháng và muộn là 6 tháng; tính chung thì trung bình, trẻ bắt đầu
ăn bổ sung khi được 3,75 tháng tuổi (±1,4) và các bà mẹ có nhận biết tương
đối đúng về thời điểm ăn bổ sung, chỉ là họ không thực hiện được. Sở dĩ các
bà mẹ quyết định thời điểm cho ăn bổ sung của trẻ như vậy là do một số lý do
sau: mẹ phải đi làm (63,1%), trẻ khóc/đói/mẹ không đủ sữa (63,8%), đúng
thời điểm (19,5%) và một số ít là theo lời khuyên của họ hàng/hàng xóm
(2,6%). Trong số 95 bà mẹ phải đi làm sớm nên phải cho trẻ ăn bổ sung sớm
thì có 29% phải cho trẻ ăn từ tháng thứ 2 và 78% phải cho trẻ ăn trước 4
tháng. Thực tế ở nông thôn bà mẹ phải trở lại công việc đồng áng sớm sau khi
sinh là một trở ngại chính khiến trẻ không được bú mẹ hoàn toàn trong 4 (6)
tháng đầu. Việc cho bú bị gián đoạn do công việc của mẹ làm cho trẻ bị cắt
nguồn cung thực phẩm, khiến trẻ đói và khóc, đồng thời việc sản xuất sữa
của mẹ theo cơ chế sinh lý cũng bị giảm sút. Tất cả những yếu tố đó khiến
người mẹ phải quyết định cho trẻ ăn bổ sung dù biết đó chưa phải thời
điểm đúng [25].
n: Cỡ mẫu.
2
p(1 p)
. p 2