LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập lóp chuyên khoa cắp II chuyên ngành Quản lý y tế
tại Trường Đại học Y Dược Thái Bình, tôi đõ được Đảng uỷ, Ban Giảm đốc Sở Y tế
Lai Châu; Ban Giảm hiệu, các Thầy, Cô giáo Phòng Quán lý đào tạo sau đại học,
Khoa Y tế công cộng Trường Đại học Y Dược Thái Bình tạo điều kiện cho tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Tỏi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các Thầy, Cô Phòng Quản lý đào
tạo sau đại học, Khoa Y tế công cộng Trường Dại học Y Dược Thái Bình đã truyền
đạt cho tôi những kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp và
phương pháp nghiên cứu khoa học trong thời gian học tập.
Tôi xin chân thành cam ơn thầy giáo PGS.TS. Hoàng Năng Trọng, thầy giáo
TS.Nguyền Đức Thanh đã nhỉêt tình giúp đỡ em hoàn ỉhùnh Luận án tốt nghiệp
chuyên khoa cấp II chuyên ngành Quản lý y tế.
Tôi xin trán trọng cảm ơn Đảng uỷ, Ban Giám đốc Sở Y tế Lai Châu, các
Phòng chức nâng trực thuộc Sớ Y té tỉnh Lai Châu đã giúp đỡ và tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận Ún tốt nghiệp.
Cuối cung, tôi xin bày tỏ lòng cam ơn tới gia đình và bạn bè thân thiết của tôi những người đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt củ quá trình học tập và
nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cám ơn./.
Tác giả luận án
Tôi xin cam đoan đây là công irình nghiên cứu được tiên hành nghiêm túc,
các số liệu và kết quả nêu trong Luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ một công trinh nào khác.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tác giá Luận án
Nguyễn Thế Phong
BPTT
Một số yếu tố liên quan về việc sinh con thứ 3 của phụ nữ nghiên cứu... 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
ĐẶT VÁN ĐÈ
Ờ Việt Nam, côns tác dân số kế hoạch hóa gia đình đã bẳt đầu từ năm 1960.
Kết quả công tác dân sổ kế hoạch hóa gia đình đã đã góp phần rất quan trọníi vào
sự phát triến kinh tế - xã hội, tăng thu nhập bình quàn đầu người hằnạ năm, xóa
đói giảm nghèo và nâng cao mức sống của nhân dân. Với những thành tựu của
công tác dân số kế hoạch hóa gia đình, năm 1999, Việt Nam đã được giải thưởng
dân số của Liên hiệp quốc.
Ngày 01/11/2013 dân số Việt Nam đạt mốc 90 triệu người, chậm hơn so với
dự báo 11 năm. Hon 20 năm qua, Việt Nam giảm sinh được 20,8 triệu trường hợp.
Vói quy mô dân số hiện nay, Việt Nam đứng thứ 3 khu vực Đông Nam Á và thứ
14 trên thế giới. Theo báo cáo cùa Tồng cục Dàn số - KHHGD, năm 2013 Việt
Nam có chi tiêu mức giám sinh đạt o, I %o; tỷ sô giới tính khi sinh là 112,6 trẻ
trai/100 trẻ gái. Bên cạnh những thuận lợi , công tác Dân số - KHHGĐ còn nhiều
khó khăn, đặc biệt là kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia năm 2014 giám tới
35% so với năm 2013. Tổ chức bộ máy , cán bộ làm công tác Dân số - KHHGĐ
tại địa phươnc tuy đã được củng cổ và từng bước hoàn thiện song còn hạn chế [7],
[18].
Trong hoàn cảnh kinh tế - xã hội nước ta chưa phát triển, tình trạng nghèo
đói còn nhiều, tài nguycn thiên nhiên hạn hẹp, qui mô dân số khá lớn vói hơn 82
triệu người, mật độ dân số vào hàng cao nhất thế giới, chất lượng dân số chưa
được cải thiện đáng kể v.v... thì việc dân số tăng nhanh trờ lại SC phá vỡ những
thành quà đã đạt được, cản trờ sự phát triển kinh tế - xã hội và việc nâng cao chất
thời điếm hay trong một khoang thời gian nhất định . Trong thống kê, dân số được
thu thập theo khái niệm “Nhân khấu thực tế thường trú”, khái niệm này phán ánh
7
những người thực tế thường xuyên cư trú tại hộ tính đến thời điểm thống kê đã
được 6 tháng trở lên và những người mới chuyển đến ở ổn định tại hộ, không phân
biệt họ đẫ được đăng ký hộ khâu thường trú tại xà/phường/thị trấn đang ở hay
chưa [6], [19.
Kẻ hoạch hóa gia đình : Theo đinh nghĩa của Tố chức Y tế Thế giới
(WHO), kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) là nồ lực có ý thức của các cặp vợ
chồng đổ điều chỉnh số con và khoảng cách sinh con theo ý muốn [39]. KHHGĐ
thường bao hàm việc sử dụng các biện pháp tránh thai nhằm kiểm soát đổ tránh
tăng dân số, nhưng cùng bao gồm cá nồ lực giúp cho các cặp vợ chồng khó sinh
đẻ. Vì thế người ta chia KHHGĐ ra lảm hai hướng đỏ là (1) KHHGĐ dương tính
nhằm tăng phát triển dân số; và (2) KHHGĐ âm tính nhằm làm giảm phát triến
dân số.
Các hiện pháp tránh thai hiện đợi [9]: Theo Hướng dẫn quốc gia về các
dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, các biện pháp tránh thai hiện đang áp dụng ở
nước ta gồm: Dụng cụ tránh thai trong tử cung (DCTC) là một BPTT tạm thời và
hiệu quả; Bao cao su là một BPTT tạm thời, hiệu quả, an toàn và rẻ tiền; Viên
thuốc tránh thai kết hợp là BPTT tạm thời, chứa 2 loại nội tiết là estrogen và
progestin; Viên thuốc tránh thai chi có progestin là BPTT tạm thời, chứa một
lượng nhỏ progestin, không có estrogen; Thuốc tiêm tránh thai là
BPTT tạm thời, chửa nội tiêt progestin. Thuôc cây tránh thai là BPTT tạm thời có
chứa progestin; Triệt sản nam bàng phương pháp thắt và cắt ống dẫn tinh là BPTT
vĩnh viền dành cho nam giới bằng cách làm gián đoạn ống dẫn tinh dẫn đến không
có tinh trùng trong mồi lần xuất tinh; Triệt sản nữ bằng phương pháp thắt và cắt
vòi tử cung là một phẫu thuật làm gián đoạn vòi tử cung, không cho tinh trùng gặp
KHHGĐ và vỉêc sinh nhiều con
Vai trò của công tác DS-KIỈHGĐ
Công tác DS - KHHGĐ và bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở nước ta trong những
thập ký qua đã đạt được nhiều tiến bộ đáng khích lệ, đã được Đảng và Nhà nước
đánh giá cao. Trong những thành tựu, tiến bộ đó có sự đóng góp rất to lớn và có ý
nghĩa quyết định của những người làm công tác DS - KHHGĐ và bảo vệ chăm
9
sóc trẻ em ờ cấp cơ sở, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chuyên trách dân $ố và đội ngũ
cộng tác viên dân số thôn/bản [21]. Có được thành công này là do nhiều nguyên
nhân, trong đó có sự đóng góp quan troné của bộ máy làm công tác Dân số KHHGĐ các cấp. Đe đám báo thực hiện thành công mục tiêu về Dân số KHHGD trong thời gian tới, đòi hỏi phải có một tố chức bộ máy và cán bộ làm
công tác Dân số - KHHGĐ các cấp đủ năng lực, nhiệt tình và ổn định. Nước ta
cần củng cố, kiện toàn tổ chức làm công tác Dân số - KHHGĐ từ Trung ương đến
cơ sở đủ mạnh để quản lý và tổ chức thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục,
vận động và dịch vụ KHHGĐ đến tận tav người dân. Đặc biột quan tâm củng cố,
ôn định, nâng cao năng lực và nhiệt tình cho đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác
DS - KHHGĐ ớ xã, phường, thị trấn và đội ngũ cộng tác viên Dân số - KHHGĐ ớ
các ấp, tô tự quản. Có chính sách khuyến khích thỏa đáng về tinh thần và vật chất
đối với đội ngũ này. Thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế đối với
cán bộ Dân sô - KHHGĐ xã, phường, thị trấn [4J.
Công tác DS - KHHGD đã luôn được Dáng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa VII) đã khăng định: “công tác DS KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước và là một
trong những vân đê kinh tê xã hội hàng đâu của nước ta, là yêu tô cơ bản đế nâng
cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đinh và toàn xã hội” [3],
Thông tư số 05/2008/TT-BYT, ngày 14/5/2008 của Bộ Y tế [8] quy định:
Cán bộ chuyên trách Dân sổ - KHHGD xã thực hiện 06 nhiệm vụ của công tác
Dân số - KHHGĐ tại cơ sở. Thông tư số 05/2008/TT-BYT, ngày 14/5/2008 của
Bộ Y tế [8] quy định cụ thể chức năng , nhiệm vụ “Trung tâm Dân số - KHHGĐ
[59].
Một điều đã được minh chứng là năng lực cung cấp dịch vụ, tính sẵn có và
khả năng tiếp cận của dịch vụ với người dân là những thành tố quan trọng ánh
hướng đến chất lượng cung cẩp dịch vụ trong đó có việc cung ứng các BPTT lâm
1
1
sàng. Trong những năm 1960, chi có dưới 10% số phụ nữ có chồng sử dụng các
BPTT, nhưng con số này trong năm 2003 đã tăng lên tới 60% [54],
Tác già Marston
c. (2003) [51] nghiên cứu thấy rằng các dịch vụ gần dân
nói chung, ờ cộng đồng nói riêng, trong đó có dịch vụ giới thiệu và hướng dẫn các
cặp vợ chòng sử dụng các BPTT hiện đại có vai trò thực sự quan trọng trong lĩnh
vực KHHGĐ.
Ờ Việt Nam, những thành công về xóa đói giảm nghèo trong thời gian qua
là kết quá chủ yếu của các chính sách phát triển đi đôi với công bằng xã hội.
Trong hai thập ký qua, Việt Nam luôn là quốc gia có mức tăng trưởng kinh tế cao.
Song song với những chính sách hồ trợ phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho
người nghèo là các chính sách cố hiệu quả về công tác DS - KHHGĐ [2],
Theo đánh giá của Tồng cục DS - KHHGĐ, trong những năm qua, việc xã
hội hóa công tác DS - KHHGĐ đã được Đảng và Nhà nước chú trọng, kết quả đà
có những chuyền biến tích cực. Nội dung DS - KHHGĐ được đưa vào hương ước,
quy ước của cộng đồng, hoạt động của các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội. Mạng
lưới tiếp thị xã hội và thị trường phương tiện tránh thai, dịch vụ chăm sóc SKSS
được mờ rộng; tỷ lệ khách hàng tự chi trả ngày càng tăng. Việc đào tạo cán bộ
chuyên môn nghiệp vụ về DS - KHHGĐ, chăm sóc SKSS được đấy mạnh. Hầu
đình (KHHGĐ) để làm giảm mức sinh là yếu tổ quyết định hàng đầu của việc thực
hiện công tác dân sổ mà tồng tỷ suất sinh (TFR) là mục tiêu chũ yếu của chính
sách dân số. Tại Hàn Quốc, mục tiêu là giảm tỷ lệ gia tăng dân sổ từ 1,58% (1982)
xuống 1,4% (1986) và đã đạt 0,9% (1990). Trong 20 năm đầu thực hiện kế hoạch
hóa gia đình, mức sinh hàng năm giám 0,165 con/1 phụ nữ, 10 năm gần đây mức
sinh mỗi năm giảm 0,1 con/phụ nữ. Tỷ lộ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh áp
dụna các biện pháp tránh thai tăng từ 9% (1964) lên 77% (1988) [45 [, 60],
Tại Trung Quốc, nếu năm 1950 bình quân mỗi phụ nữ trung bình sinh 6,08
con thì sau 43 năm chỉ còn 1,9 con và từ năm 1970 (năm bắt đầu thực hiện
1
3
KHHGĐ) đến nay, hàng năm TFR đã giảm bình quân 0,17 con. Đây là mức phấn
đấu ước mơ của nhiều Quốc gia đang phát triển [61J.
Hiện nay, các đối tượng là vị thành niên được cộng tác viên dân số nói
chuyện về các vấn đề sức khoẻ sinh sản mới chiếm tỷ lệ thấp (26,3%), nói cách
khác, có tới 73,7% đối tượng chưa từng được nghe cộng tác viên dân số nói
chuyện về các chù đề này [26].
Theo đánh giá của Tổng cục DS - KHHGD (2011) [31], tỷ lệ sử dụng các
BPTT của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tiếp tục tăng, từ 73,9% (2000)
tàng lên 76,8% (2005), và 80,3% (2010). Việc tiếp tục đáp ứng đầy đủ nhu cầu
tránh thai cho mọi đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ, đặc biệt là đối tượng trẻ, bước
vào tuổi sinh đẻ trong giai đoạn tới là điều kiện cơ bản để duy trì mức sinh thay
thế. Ở Anh, nơi các BPTT đều được cung cấp miễn phí, có ít nhất một phần tư các
trường hợp mang thai kết thúc bằng nạo hút thai mà nguyên nhân là do không sử
dụng BPTT; phần lớn số trường họp còn lại có nguyên nhân là không sử dụng biện
pháp thường xuyên và đúng cách [57], Điều đáng chú ý là đại dịch HIV đã góp
phàn làm gia tăng việc sử dụng các BPTT và dẫn đến nhu cầu cung cấp dịch vụ
dưới một tuối bị nhiễm HIV qua đường lây truyền từ mẹ sang con. Trên
toàn thế giới, có tới 4.000 trẻ sơ sinh bị mù mồi năm do người mẹ mắc lậu; đó là
chưa tính đến con số còn chưa được xác định do bà mẹ mắc herpes hay Chlamydia
trong quá trình mang thai. Đây thực sự là một thách thức đổi với việc cung cấp
dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh hiện nay.
Jiang ZM (2007) [46] nghiên cứu áp dụng mô hình áp dụng ở Trung Quốc
cho phụ nữ cỏ chồng trong độ tuổi sinh đè đã được triển khai thông qua chiến lược
truyền thông giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao kiến thức, thái độ và thúc đấy các
hành vi cá nhân đúng liên quan với hành vi chàm sóc sức khóc, so sánh với nhóm
chứng chi tiến hành các hoạt độnc KI IHGĐ như thường lệ.
Ớ một số quốc gia cũng đã thực hiện việc lồng ghép này, đó là kết hợp việc
khám, chẩn đoán, điều trị và tư vấn về NKĐSS trong quá trình thực hiện công tác
KHHGĐ đã làm tăng hiệu quả công tác phòng chống bệnh như ờ Indonesia [36],
[63], Một mô hình khác là can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe dựa vào
tiường học ở đối tượng vị thành niên. Các tác giá đã đưa chương trình giáo dục về
sức khỏe sinh sản vào trong chương trình giảng dạy của trường trung học phố
thông đế giảng dạy cho học sinh. Sau thử nghiệm cho thấy giải pháp can thiệp đã
nâng cao kiến thức, thái độ về sức khỏe sinh sán đã được cái thiện hành vi nguy cơ
trong nhóm can thiệp [52],
Khi được can thiệp thử nghiệm ở nhóm vị thành niên thông qua giải pháp truyền thông tại
trường học, kết quâ đã làm giảm rỏ các yếu tố nguy cơ đổi với các bệnh LTQĐTD ở nhóm này
và đã được đánh giá là thành công sau quá trình can thiệp. Tác giá đà đề nghị đưa chương
trình giáo dục tỉnh dục vào trong giáo trình giăng dạy cho học sinh ở các trường trưng học
phổ thông [40], Theo WIIO [63], tư vấn đổ giảm số bạn tình và ngăn ngừa quan hộ tình dục
sớm ở vị thành niên làm giảm nguy cơ nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục.
1
6
đạo Hồi. Tuy nhiên sự tác động của tôn giáo, tín ngưỡng của các nước khác nhau
1
7
bởi nó chịu tác động của các yếu tố khác như trình độ văn hóa, giáo dục, đặc biệt
là khi địa vị của người phụ nữ trong xã hội được cải thiện nhiều.
Nhóm yếu tổ kinh tế rất đa dạng và tác động theo nhiều hướng khác nhau.
Có nhiều quan điểm khác nhau về ảnh hưởng cua nó tới biến động mức sinh. Theo
quan điểm đa số của các nhà nhân khẩu học và bằng thực tế người ta đã chứng
minh được rằng, đời sống thấp thì mức sinh đẻ cao và ngược lại. Ảnh hưởng của
trình độ phát triển kinh tế, mức sống tới mức sinh đã là đổi tượng nghiên cứu của
nhiều người. Theo Adam Smith “Nghèo đói tạo khả năng cho sự sinh đẻ”. Còn
theo c. Mác, sau khi nghiên cứu mối quan hộ giữa thu nhập và sinh đẻ đã rút ra kết
luận rằng, dưới chú nghĩa tư bản, số sinh tý lệ nghịch với quy mô của cái mà
người công nhân có. Sau này nhiều nhà khoa học cũng nghiên cứu về mối quan hệ
này và cho rằng quy luật về sự phụ thuộc nghịch giữa mức sống và sinh đẽ mà
C.Mác cũng đúng dưới cả chú nghĩa xã hội và mối quan hệ giữa trình độ phát triển
kinh tế, mức sống và mức sinh trong mồi thời kỳ có khác nhau có thể là thuận
hoặc nghịch.
Trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng, đáng lưu ý là có chính sách đào tạo,
phát triển và sử dụng nguồn nhân lực kết hợp truyền thông giáo dục để gia đình,
cộng đồng, xã hội quan tầm đến người già về các vấn đề: việc làm, đời sống, sức
khoẻ... cần nhân rộng mô hình tốt về chăm sóc, tạo việc làm và tạo cuộc sổng vui
tươi lành mạnh cho người già [1].
Có nghiên cứu chỉ ra rằng khoáng cách giữa các lần sinh ngắn được chứng
minh là có liên hệ với việc đẻ non, suy dinh dưỡng bào thai và là mối nguy cơ dẫn
đến tử vong ờ trẻ em dưới một tuổi [38],
Theo nghiên cứu của Lê Hoàng Ninh [23] về tình hình sử dụng dịch vụ v tế
chuyển đổi thành hành vi của đối tượng. Đe đạt được hiệu quả cao trong truyền
thông, tùy theo từng lĩnh vực can thiệp mà đối tượng cung như nội dung và
phương pháp truyền thông cần được thiết kế cho phù hợp [41]. Hiện nay các
nguồn thông tin về chăm sóc sức khỏe cho người dân chủ yểu là vô tuyến và đài.
1
9
Việc tuyên truyền giáo dục SKSS và đặc biệt là truyền thông thay đổi hành vi cho
người dân là rất quan trọng [52],
Việc còn tỷ lệ chưa cao vị thành niên từng được nghe về các biện pháp
tránh thai, nạo phá thai cũng như các bệnh LTỌDTD cho thấy khoáng trống kiến
thức của các em về vấn đề này. cần có các biện pháp truyền thông bổ sung kiến
thức cho các em, nauy cơ cao của việc mang thai ngoài ý muổn, nạo phá thai cũng
như mắc các bệnh LTỌĐTD [26], [41].
Lình vực truyền thông, giáo dục về chăm sóc SKSS chưa đặt vấn đề tiếp
cận giới trong việc cung cấp thông tin, dịch vụ và bình đắng đối với việc ra quyết
định về SKSS. Các chương trình về SKSS đã được triển khai từ nhiều năm, nhưng
thường tập trung các hoạt động vào đối tượna nữ. Các biện pháp tránh thai tuy đã
được tuyên truyền và hướng dần sử dụng nhưng đổi tượng chính hướng tới vẫn là
phụ nữ khiến cho mọi naười cả nam và nữ đều quan niệm rằng đây là vấn để chí
của riêng phụ nữ. Vì vậy tất cá gánh nặng trách nhiệm trona kế hoạch hoá gia đình
vẫn đặt lên vai người phụ nữ như đẻ nhiều, đé dày, thực hiện các biện pháp tránh
thai, vỡ kế hoạch, không có con, con suy dinh dưỡng, con hư... Vô hình chung
nam giới đã bị đặt ra ngoài, không thu hút được sự tham gia và chia sẻ cúa họ.
Chính vì thế, việc cung cấp bình đẳng các thông tin về giới và SKSS cùng với
những nỗ lực trong tuyên truyền tới các cặp vợ chồng sẽ khuyến khích sự trao đồi
thông tin trong gia đình, từ đó thúc đẩv sự tham gia của nam giới vào các hành vi
SKSS, góp phần cải thiện tình trạng bình đẳng trong gia đình [17], [32],
chính sách dân số, trong những năm gần đây tốc độ tăng dân số đã giảm đáng kể.
Chẳng hạn các chương trình kể hoạch hóa gia đình, khuyển khích sử dụng các
biện pháp tránh thai, cho phcp nạo phá thai, quy định tuổi kết hôn và các chính
sách khác có ảnh hưởng trực tiếp tới mức sinh. Ngoài ra chính sách cũng tác động
gián tiếp tới mức sinh chẳng hạn: chính sách cung cấp cấp đất hoặc nhà ớ cho
những gia đình có ảnh hướng tới tuổi kết hôn và số con đẽ ra. Chính sách giảm
học phí cấp 2, chính sách cung cấp cơ hội việc làm, chính sách cấp điện cho các
2
1
địa phương xa giúp họ tìm hoạt động văn hóa phong phú hơn, nâng cao hiểu biết
sức khỏe, biện pháp tránh thai, cải thiện lối sổng.
Bộ Y tế hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy Dân sốKc hoạch hoá gia đình ở địa phương đã quv định rõ về trình độ và ycu cầu cần đào
tạo của cán bộ chuyên trách DS - KHHGĐ. Trước nhiệm vụ và nhu cầu thực tiễn
cúa công tác Dân số dang ngày được nâng cao, đặc biệt trong lĩnh vực nâng cao
chất lượng dân số, công tác chuẩn hóa, nâng cao năng lực chuycn môn, nghiệp vụ
của đội ngũ cán bộ làm công tác dân số tại các cấp nói chung, tại tuyến xã nói
riêng trong đó có đội ngũ cán bộ chuyên trách dân sổ xã cần được chú trọng và
đang ngày càng dược quan tâm [8],
Trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng, đáng lưu ý là cần có chính sách đào
tạo, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực kết hợp truyền thông giáo dục đế gia
đình, cộng đồng, xã hội quan tâm đến người già về các vấn đề: việc làm, đời sống,
sức khoẻ... cần nhân rộng mô hình tốt về chăm sóc, tạo việc làm và tạo cuộc sống
vui tươi lành mạnh cho người già [I]. Kinh nghiệm của Đài Loan và Hàn Quổc
cho thấy cần có chính sách phát triển kinh tế và xã hội phù hợp với đặc điểm và
trình độ của dân sổ, và có chính sách nâng cao trình độ lao động [24],
Trong những năm gần đây, hàng loạt các văn bán pháp quy liên quan tới
công tác DS - KHHGĐ đà được ban hành. Có thể nhận thấy rằng, với các chiến
vấn của người cung cấp dịch vụ (Y tế và Dân sổ), theo đó: Tư vấn KHHGĐ có
chung các kỹ năng và các bước như trong tư vấn chăm sóc SKSS. Tư vấn giúp
khách hàng tự lựa chọn một BPTT thích họp trong một giai đoạn sinh sản nhât
định. Nội dung tư vân cân được đáp ứng nhu câu của khách hàng chứ không xuất
phát từ ý muốn chủ quan của người tư vấn.
Đe tạo điều kiện tiếp cận tốt hơn các cơ sở và dịch vụ y tế, Nhà nước đă xây
dựng một mạng lưới rộng khắp các trạm y tế xà, bệnh viện tỉnh và huyện tại các
tỉnh nơi tập trung nhiều các nhóm dân tộc thiểu số. Mặc dù vẫn còn có nhóm
người, đặc biệt là người nghèo ở nông thôn và phụ nữ dân tộc thiểu số có xu
hướng không sử dụng các dịch vụ y té công cộng khi có những ốm đau thông
2
3
thường do khoảng cách đi lại, do tập tục hoặc do nhận thức nhưng nhìn chung tỷ
lệ người dân tộc thiếu số liên hộ và sử dụng các dịch vụ y tế đã tăng lên theo thời
gian [28].
Tác giả Nguyền Đình Cử trong nghiên cứu về Mức sinh và các yếu tố ảnh
hường ở Việt Nam [15] đă khuyến nghị trong dó có đồ cập tới Chương trình
KHHCỈD cần tập trung vào các vùng có mức sinh cao, không dàn trải như 20 năm
về trước, KHHGĐ cần chuyển từ bề rộng sang bề sâu, từ số lượng sang chất lượng
dịch vụ. Các chiến lược phát triển kinh tế, xâ hội của Việt Nam cần phải chủ động
thích ứng với xã hội mức sinh thấp, lồng ghép sự biến động quy mô, cơ cấu dân số
trong các kế hoạch phát trien, đặc biệt tận dụng lợi thế “cơ cấu dân số vàng’ hiện
nay thông qua các chính sách y tế, giáo dục.
Trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng, đáng lưu ý là cần có chính sách đào
tạo, phát triền và sử dụng nguồn nhân lực kết họp truyền thông giáo dục đế gia
đình, cộng đồng, xã hội quan tâm đến người già về các vấn đề: việc làm, đời sống,
sức khoe... cần nhân rộng mô hình tốt về chăm sóc, tạo việc làm và tạo cuộc sống
phươníỉ tiện có ích cho các bà mẹ muốn sinh thêm con với giới tính mà mình
mong muốn
Trons» các nguyên nhân tử vong liên quan tới sức khõe tình dục và sinh
sản có nguyên nhân nạo hút thai. Điều đáng chú ý là các nguyên nhân này đều có
thể phòng tránh được [44], Trở ngại về mặt pháp lý đối với nạo hút thai đã làm
cho phụ nữ phải tìm kiếm dịch vụ nạo hút thai không an toàn khi họ mang thai
ngoài ý muốn [35], Một số nghiên cứu [55], [62] cũng đà phát hiện thấy các phụ
nữ trẻ thường ít nhận được sự chăm sóc trước sinh, và khi nạo hút thai thì thường
là nạo hút thai không an toàn, đặc biệt ở những nước luật pháp không cho phép
nạo hút thai. Ở nhiều nước trên thế giới, việc tiếp cận với dịch vụ nạo hút thai an
toàn của phụ nữ còn bị nhiều hạn chế.
Một số nghiên cứu đã cho thấy ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông
nghiệp, đánh bát hải sản có liên quan tới sức khỏe của người lao động nói chune,
phụ nữ nói riêng . Việc phụ nữ bị sảy thai hoặc thai chết lưu có liên quan tới việc
2
5
phơi nhiễm với hóa chất , thuốc trừ sâu, diệt cỏ. phụ nữ làm việc trong môi trường
như vậy có thể bị giảm khả năng sinh sản và khá năng thụ thai [43]. Người ta cùng
đã phát hiện thấy việc phụ nữ có tuồi mãn kinh sớm hơn bình thườnc. biếu hiện
như sớm khô âm đạo, có liên quan tới sự phơi nhiễm của họ với các chất thuốc trừ
sâu [34].
Bcn cạnh dó, có sự liên quan chặt chẽ với một số yếu tố như: dộ tuối, trình
độ học vấn, nghề nghiệp, sự hiểu biết về bệnh phụ khoa, việc thực hành vệ sinh
khi giao hợp, sổ lần sinh con, nguồn nước sinh hoạt cua hộ gia đình, và số thế hệ
cùng sống trong một nhà [36]. vấn đề giới cũng có ảnh hưởng đến nhu cầu và chất
lượng dịch vụ chăm sóc SKSS. Người ta cho rằng cần đưa nam giới, đặc biệt là
nam giới trẻ, tham gia vào chương trình SKSS nói chung, phòng chống các bệnh