Header Page 1 of 132.
-1-
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HẢI PHÒNG
==== ====
LÊ QUANG TRUNG
Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành
phòng, chống HIV/AIDS của học sinh các trường
phổ thông trung học huyện Triệu sơn
LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II
HẢI PHÒNG -2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Footer Page 1 of 132.
BỘ Y TẾ
Header Page 2 of 132.
-2-
AIDS
: Acquired Immuno – Deficency Syndrome
ATTD
: An toàn tình dục( tình dục an toàn)
BKT
: Bơm kim tiêm
BCS
: Bao cao su
CBCNV
: Cán bộ công nhân viên
CLB
: Câu lạc bộ
GDPC AIDS
: Giáo dục phòng chống AIDS.
HIV
TCAT
: Tiêm chích an toàn.
THCN - CĐ - ĐH
:Trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học.
THPT
: Trung học phổ thông.
STDS
: Bệnh lây truyền qua đường tình dục
UBQGPC AIDS
: Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS.
VXHH
: Viện xã hội học
WHO
: World Health Ognization.
Footer Page 3 of 132.
Footer Page 4 of 132.
Header Page 5 of 132.
-5-
trường hợp. Từ năm 1999 đến nay, số nhiễm HIV phát hiện trên 10.000
trường hợp mỗi năm và dịch có xu hướng lan rộng ra cộng đồng, tính đến
ngày 30/6/2009 số người nhiễm HIV hiện đang còn sống trên toàn quốc là
149.653 người, số bệnh nhân AIDS hiện đang còn sống là 32.400 bệnh nhân
và 43.265 bệnh nhân đã tử vong do AIDS [21]. Dịch HIV/AIDS ở Việt Nam
liên quan mật thiết với tình trạng tiêm chích ma túy và bán dâm [4], [45].
Thanh Hoá là một trong những tỉnh đứng đầu trong cả nước về số người
nhiễm HIV/AIDS. Theo báo cáo của ban chỉ đạo phòng chống HIV/ AIDS
tỉnh Thanh Hóa, tính đến 31/11/2010 toàn tỉnh có 4.890 người nhiễm HIV
được báo cáo, trong đó 2347 người đó chuyển sang các giai đoạn AIDS và
826 người đó chết do AIDS, chủ yếu tập trung ở một số huyện thị như
TP.Thanh hóa 26.2%, Quan hóa 9.1%, Thọ xuân 7.6%, Mường lát 5.3%. Đại
dịch không chỉ có ở các thành phố thị trấn mà đã lan tới các huyện vùng sâu,
vùng xa, vùng thuần nông, có tới 79,3%( 506/638) xã phường, và 100%(
27/27) Huyện thị trong tỉnh đã phát hiện có người nhiễm HIV/AIDS.
Triệu Sơn là huyện có địa bàn rộng với diên tích 292km2, được hình
thành 3 vùng kinh tế khác nhau: Đồng bằng, Trung du và miền núi. Phát triển
kinh tế chủ yếu là trồng lúa, có 36 xã, thị trấn với tổng số dân 234.000 người.
Do đặc điểm 3 vùng khác nhau nên trình độ dân trí, phong tục tập quán và
điều kiện kinh tế phát triển không đồng đều, vì vậy tạo nên tình hình bệnh tật
ở các vùng có sự khác nhau, với miền núi các bệnh phổ biến là sốt rét, bướu
cổ, da liễu… Các xã vùng đồng bằng và Trung du phổ biến các bệnh đường
“Thực trạng và các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành
phòng, chống HIV/AIDS của học sinh THPT huyện Triệu Sơn, tỉnh
Thanh hoá năm 2010”.
Nghiên cứu này được tiến hành với các mục tiêu sau:
1. Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống
HIV/AIDS của học sinh trung học phổ thông huyện Triệu Sơn, tỉnh
Thanh Hoá năm 2011.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ thực hành phòng,
chống HIV/AIDS của học sinh THPT huyện Triệu Sơn năm 2011.
Footer Page 6 of 132.
Header Page 7 of 132.
-7-
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TÌNH HÌNH NHIỄM HIV/AIDS HIỆN NAY
1.1.1 Trên thế giới
Những trường hợp nhiễm HIV/AIDS đầu tiên trên thế giới được báo
cáo vào năm 1981 tại Los Angeles trên 5 trường hợp nam giới có tiền sử tình
dục đồng giới bị viêm phổi do Pneumocystis Carinii và cùng vào tháng đó là
những người nghiện chích ma túy và những bệnh nhân hemophilia được
truyền máu. Đến năm 1983, vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV)
được Luc Montagnier và cộng sự tại Viện Pasteur Paris phân lập từ một bệnh
nhân bị bệnh dịch hạch và đến năm 1984 vi rút này được Robert Galot mô tả
là căn nguyên gây bệnh AIDS. Năm 1985 khi sinh phẩm ELISA dùng cho
chẩn đoán HIV được phát triển thì đã phát hiện hàng loạt trường hợp nhiễm
33,4 triệu [31,1 - 35,8 triệu]
Người lớn:
31,3 triệu [29,2 - 33,7 triệu]
Phụ nữ:
15,7 triệu [14,2 - 17,2 triệu]
Trẻ em dưới 15 tuổi: 2,1 triệu [1,2 - 2,9 triệu]
Số ca mới nhiễm HIV trong năm 2008
Tổng số:
2,7 triệu [2,4 - 3,0 triệu]
Người lớn:
2,3 triệu [2,0 - 2,5 triệu]
Trẻ em dưới 15 tuổi: 430.000 [240.000 - 610.000]
Số ca tử vong do AIDS năm 2008
Tổng số:
2,0 triệu [1,7 - 2,4 triệu]
Người lớn:
1,7 triệu [1,4 - 2,1 triệu]
HIV
(Triệu)
(Triệu)
Cận Sahara- Châu Phi
22,4
1,9
5,2
1,4
Bắc Phi, Trung Đông
0,31
0,035
0,2
0,02
Nam và Đông Nam Á
3,8
0,17
0,6
0,077
Ca ri bê
0,24
0,02
1,0
0,012
Đông Âu và Trung Á
1,5
0,11
0,7
0,087
Tây và Trung Âu
0,85
Tỷ lệ người
lớn hiện
nhiễm HIV
(%)
Số người lớn
và trẻ em tử
vong do
AIDS
(Triệu)
Header Page 10 of 132.
- 10 -
Tại châu Á, dịch HIV lên đến đỉnh điểm vào giữa thập niên 1990, sau
đó hàng năm đã giảm hơn một nửa và khá ổn định từ năm 2000 đến nay.
Trong khi số tử vong do AIDS ở khu vực Nam và Đông Nam Á trong năm
2008 thấp hơn 12% so với tỷ lệ tử vong cao điểm vào năm 2004, thì tỷ lệ tử
vong do AIDS ở Đông Á tiếp tục tăng, với số tử vong trong năm 2008 cao
hơn 3 lần so với năm 2000. Tình hình dịch HIV ở châu Á diễn biến phức tạp
và khác nhau ở các quốc gia. Tại Ấn Độ, số người nhiễm HIV chiếm gần một
nửa số người mắc HIV ở châu Á. Con đường lây truyền qua đường tình dục
chiếm gần 90% số mắc HIV và bắt đầu xuất hiện lây truyền trong những
người tiêm chích ma túy tại khu vực phía Đông Bắc Ấn Độ. Tại Trung Quốc,
các tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV khác nhau, trong khi 5 tỉnh có tỷ lệ mắc HIV cao
nhất chiếm tới 53,4% số mắc, thì 5 tỉnh có tỷ lệ mắc thấp nhất chỉ chiếm dưới
1% tổng số nhiễm HIV. Trong khi tỷ lệ hiện nhiễm tại Căm-pu-chia, My-anma và Thái Lan đang có dấu hiệu giảm thì tại In-do-nê-xia tỷ lệ này đang có
chiều hướng gia tăng. Đặc biệt tại tỉnh Papua của In-do-nê-xia, tỷ lệ nhiễm
trên toàn quốc là 149.653 người, 32.400 bệnh nhân AIDS hiện đang còn sống
và 43.265 người đã tử vong do AIDS [22].
Nhiễm HIV ở Việt Nam chủ yếu tập trung trong nhóm tuổi từ 20-39
(83%) và là nam giới (82,0%). Tỷ lệ nhiễm HIV giữa nam và nữ ít thay đổi
qua các năm. Tuy nhiên, trong những năm gần đây tỷ lệ người nhiễm HIV là
nữ giới có xu hướng tăng lên (15,5% năm 2006 tăng lên 17,9% năm 2008).
Hiện nay đã có 100% tỉnh (63/63 tỉnh/thành phố), 97,5% số quận/huyện và
Footer Page 11 of 132.
Header Page 12 of 132.
- 12 -
70,5% số xã/phường trên toàn quốc đã phát hiện có người nhiễm HIV/AIDS
[17], [22].
Số người nhiễm HIV/AIDS vẫn tập trung chủ yếu tại các tỉnh, thành
phố trọng điểm. Đứng đầu là thành phố Hồ Chí Minh cả về tỷ lệ nhiễm HIV
hiện đang còn sống trên 100.000 dân cao nhất (677,8‰) và số liệu tuyệt đối
phát hiện được hiện đang còn sống cao nhất (34.284 trường hợp) chiếm 25,8%
tổng số trường hợp nhiễm HIV hiện đang còn sống báo cáo trên toàn quốc [22].
Bảng 1.3. Mười tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV hiện đang còn sống trên 100.000
dân cao nhất. (Nguồn: Cục phòng chống HIV/AIDS 2009)
STT
Tỉnh/thành phố
Tỷ lệ nhiễm HIV/100.000 dân
6
Thành phố Hà Nội
446
7
Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
433
8
Tỉnh Thái Nguyên
422
9
Tỉnh Yên Bái
388
10
Tỉnh Bắc Cạn
383
23.1
20.5
20
17.3
15
20.2
16.6
14.9
20.3
13.4
10.9
10
5
0
94
95
96
97
5
4.2
4.2
4.4
3.8
4
3.5
3.5
3.8
3.9
3.1
0'7
0'8
3
2.4
2
1.5
0'6
Biểu đồ 1.2. Chiều hướng tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm gái bán dâm
(Nguồn Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương)
Footer Page 13 of 132.
Header Page 14 of 132.
- 14 -
Tại hội nghị tổng kết công tác phòng chống AIDS các tỉnh phía Nam
ngày 12 tháng 11 năm 2000 cho rằng ( Căn cứ vào thống kê tình hình lây
nhiễm HIV/AIDS tại Việt nam số người nhiễm HIV/AIDS thực sự phải bằng
số người phát hiện nhân lên 6 lần). Đáng lo lắng nhất là dịch HIV/AIDS đã đi
vào đối tượng bình thường ngày càng nhiều hơn, nếu như năm 1998 phát hiện
19 thai phụ nhiễm HIV, năm 1999 con số này là 39 ca. Trên các đối tượng
khác thanh niên đi khám nghĩa vụ quân sự từ 2 ca năm 1998 lên 19 ca năm
1999, độ tuổi người nhiễm HIV ngày càng trẻ hoá: Thống kê trên cả nước độ
tuổi 20-29 chiểm tỷ lệ nhiễm cao nhất 44,8%, từ 30-39 tuổi 26,6%. Đặc biệt
năm 1999 có 8% người nhiễm có độ tuổi 13-19 [1]. Khoảng 60% người nhiễm
ở độ tuổi Thanh niên và độ tuổi lao động [4]. Đặc điểm này cảnh báo 1 tác
động nguy hại của đại dịch HIV/AIDS trong thời gian không xa ở Việt Nam
vì đây là độ tuổi có hoạt động tình dục mạnh, là lao động chính trong xã hội.
1.1.3. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Thanh Hóa và Triệu Sơn
Thanh Hoá là một trong những tỉnh đứng đầu trong cả nước về số người
nhiễm HIV/AIDS. Theo báo cáo của ban chỉ đạo phòng chống HIV/ AIDS
tỉnh Thanh Hóa, tính đến 31/11/2010 toàn tỉnh có 4.890 người nhiễm HIV
nam là 88, nữ 24( Trẻ < 5 tuổi là 3), người < 30 tuổi 89 người >30 tuổi 23.
Trong đó có 68 bệnh nhân AIDS và 37 ngươi đó chết do AIDS, đa phần nằm
trong độ tuổi thanh niên (theo báo cáo của ban chỉ đạo
phòng chống
HIV/AIDS). Đường lây qua tiêm chích 91 người, qua đường tình dục 19
người và lây từ mẹ sang con là 3 người.
Footer Page 15 of 132.
Header Page 16 of 132.
- 16 -
1.2. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC
1.2.1. Các phương thức lây truyền
Virut HIV lây truyền theo 3 phương thức
* Lây truyền qua đường máu.
HIV có thể lây truyền qua máu và các chế phẩm của máu, mức độ lây
nhiễm rất cao trên 90%.
+ HIV lây truyền qua việc nhận máu truyền hay các sản phẩm của máu
có nhiễm HIV.
+ HIV có thể lây truyền qua việc dùng chung bơm kim tiêm bị nhiễm
HIV mà không được tiệt trùng cẩn thận, đặc biệt đối với những người nghiện
trích ma tuý tĩnh mạch.
+ HIV có thể lây qua các dịch vụ y tế do sử dụng các dụng cụ bị nhiễm
HIV như dao chích, kìm nhổ răng, kim châm cứu, dao cắt Amiđan.
+ HIV cũng lây qua các dịch vụ xã hội khác như xăm mình, xăm lông
- Phụ nữ nhiễm HIV khi có thai.
- Bà mẹ cho con bú bị áp xe vú hoặc đau múm vú.
* HIV không lây truyền qua các trường hợp sau:
Các tiếp xúc thông thường: ở chung một nhà; thở chung không khí, ho,
sổ mũi; khi làm việc chung; trong ô tô, trong chợ, siêu thị, trong trường học;
chơi thể thao chung; bắt tay, khoác tay; ôm hôn.
Dùng chung các vật dụng: Nhà vệ sinh, khăn tắm, bồn chậu rửa mặt,
bồn tắm, bể bơi, bát đũa, thìa dĩa, các vật dụng lao động.
Bị côn trùng đốt hoặc các con vật cắn: Bị muỗi đốt, mèo cắn, bị các
con vật khác tấn công.
Ngoài ra, các nhà khoa học cũng đã chứng minh rằng HIV không lây
qua nước mắt, mồ hôi và nước tiểu [1].
1.2.2. Tiến triển tự nhiên và dấu hiệu lâm sàng
1.2.2.1. Các giai đoạn lâm sàng
Nếu không được điều trị bằng thuốc chống virut, bệnh diễn biến từ khi
nhiễm HIV đến tử vong trong bình 10 – 11 năm qua các giai đoạn
sau[1],[2],[5].
Footer Page 17 of 132.
Header Page 18 of 132.
- 18 -
Về lâm sàng, người ta phân quá trình nhiễm HIV thành 4 giai đoạn:
* Giai đoạn sơ nhiễm: Xuất hiện từ 2-8 tuần sau khi nhiễm HIV. Biểu hiện có
thể là đau đầu, đau mình, mệt mỏi, sốt, sưng hạch, phát ban. Các triệu chứng
thường hết sau 7-10 ngày.
* Giai đoạn nhiễm trùng không có triệu chứng: Có thể kéo dài 2-10 năm và
+ Tiêu chảy kéo dài ( trên 1 tháng)
+ Sốt kéo dài ( Trên 1 tháng).
* Các triệu chứng phụ có thể gặp:
+ Ho dai dẳng hàng tháng.
+ Viêm ngứa toàn thân.
+ Chốc rộp lan toả, tái phát liên tục.
+ Nhiễm nấm ở hầu, họng.
+ Sưng hạch, đặc biệt là ở cổ, nách không có nguyên nhân rõ ràng
và kéo dài trên 2 tuần.
* Chẩn đoán 1 trường hợp AIDS. Theo WHO định nghĩa 1 trường hợp
AIDS trên lâm sàng ở người lớn khi có ít nhất 2 dấu hiệu chính phối hợp
với ít nhất 1 dấu hiệu phụ kể trên ( Trẻ em từ 13 tuổi trở xuống có tiêu
chuẩn chẩn đoán riêng).
Người nhiễm HIV sau từ 3 - 6 tháng mới có thể xét nghiệm máu để
phát hiện được ( thời gian này gọi là thời gian cửa sổ). Trong khoảng thời gian
này, tuy kết quả xét nghiệm âm tính nhưng người nhiễm HIV vẫn có khả năng
lây bệnh cho người khác.
Người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS là nguồn truyền nhiễm duy nhất
của nhiễm HIV. Không có ổ chứa nhiễm trùng tự nhiên ở động vật. Tất cả mọi
người đều có cảm nhiễm HIV.
HIV được phân lập từ máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo, nước bọt, nước
mắt, sữa mẹ, nước tiểu và các dịch khác của cơ thể. Mặc dù có sự phân bố
rộng lớn như vậy của HIV trong cơ thể, nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy
rằng chỉ có máu, tinh dịch và dịch tiết âm đạo đóng vai trò quan trọng trong
việc làm lây truyền HIV. Do đó chỉ có 3 phương thức lây truyền HIV.
Footer Page 19 of 132.
Header Page 20 of 132.
Header Page 21 of 132.
- 21 -
1.3.3 Phòng lây nhiễm từ mẹ sang con.
Thực hiện giáo dục sức khoẻ và tư vấn cho nữ thanh niên về nguy cơ dễ
bị lây nhiễm HIV và hậu quả lây nhiễm cho chồng con.
Có thể xét nghiệm sàng lọc HIV khi kết hôn, khi quyết định có thai và
khi có thai nếu cảm thấy cần thiết.
Tư vấn cho thanh niên đó bị nhiễm HIV không nên xây dựng gia đình,
không nên có thai hoặc nên phá thai.
Những người nhiễm HIV vẫn quyết định kết hôn hoặc có thai cần phải
có tư vấn sâu hơn từ các cơ sở y tế hoặc những người có trách nhiệm.
1.4.THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG
CHỐNG HIV/AIDS CỦA HỌC SINH THPT
Kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS của
TTN. Việc không thực hiện các biện pháp phòng, chống tại một số địa phương
đã làm lây lan ngầm và rộng rải mầm bệnh trong nhân dân là cơ sở trong việc
bùng nổ dịch tại đó trong tương lai không xa.
Hàng năm, Tỷ lệ số thanh niên bị nhiễm HIV trẻ hơn (dưới 30 tuổi)
ngày càng tăng: 16,8% (1993), 23,6% (1994) 25,8%(1995) 35,4%(1996) [34].
Theo ông Trần Xuân Nhỉ Thứ trưởng Bộ GD-ĐT cho biết mục tiêu cụ
thể phòng chống nhiễm HIV/AIDS cho TTN trong trường học là:
+ Về kiến thức: Thấy rõ hiểm hoạ AIDS với cá nhân, gia đình và cộng
đồng trên các mặt: Sức khỏe và tính mạng, kinh tế và xã hội và nòi giống của
dân tộc thấy rõ bản chất nguy hiểm của HIV/AIDS xuất phát từ đặc điểm của
HIV/AIDS từ các con đường lây lan và thực tế và cho tới nay loài người chưa
có vác xin và thuốc phòng ngừa đặc hiệu. Từ đó mỗi TTN cần hểu và biết
nguyên nhân AIDS do vi rút gây ra, vẫn còn 5% trả lời cho là do vi khuẩn,
nấm, ký sinh trùng gây ra. Về các đường lây và các biện pháp phòng chống
kết quả cho thấy 91% số người được hỏi trả lời đúng các đường lây, tuy nhiên
vẫn còn 4% cho rằng AIDS có thể lây nhiễm do muỗi đốt. Có 89,25% nói
đúng các biện pháp phòng chống( chung thuỷ, sử dụng bao cao su, tiệt trựng
bơm kim tiêm, xét nghiệm người cho máu...) tuy vẫn còn 3% hiểu sai rằng cần
phòng chống côn trùng đốt, không quàng áo chung, không bắt tay nói chuyện
với người nhiễm HIV/AIDS. Về phương tiện tiếp cận truyền thông có 89%
Footer Page 22 of 132.
Header Page 23 of 132.
- 23 -
được nghe thông tin về HIV/AIDS qua đài truyền hình, truyền thanh, báo chí.
75% nghe qua cán bộ y tế, 60% nghe qua bạn bè [33].
Theo Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (1999) (Văn phòng UBQG PC AIDS)
trên 602 học sinh, sinh viên thấy rằng kết quả hiểu biết của HS, SV như nhau:
Đối tượng nhiễm HIV là ai? thì có 23,8% cho rằng chỉ ở nhóm có nguy cơ cao
(ma tuý, mại dâm...) và 75,1% cho rằng tất cả mọi người đều có thể bị nhiễm
HIV và không rõ là 1,2% có nghĩa là 24,9 % HS,SV cho rằng HIV không
phải là nguy cơ đối với tất cả mọi người mà chỉ lây truyền trong những người
có nguy cơ cao, như vậy họ sẽ chủ quan không chủ động phòng ngừa.Về
đường lây có 71,3% HS,SV biết cả 4 đường lây QHTD,TCMT, truyền máu,
mẹ - con), 28,7% HS,SV không biết đủ 4 đường lây truyền của HIV thường
xảy ra nhất hiện nay và nếu có dự phòng thì số HS,SV này sẽ không dự phòng
đầy đủ.
Có tới 98,8% HS PTTH ở Hà Nội, Quảng Ninh, Nghệ An cho rằng
nam là 81,3% cao hơn ở nữ là 78,3%. Tỷ lệ hiểu biết về tiếp xúc thông thường
không làm lây bệnh ở nam là 81,8% cao hơn ở nữ là 78,1%. Tỷ lệ hiểu biết về
muỗi đốt không làm lây bệnh ở nam 59,3% và nữ là 50,9%.
+ Về thái độ đối với người nhiễm HIV: 71% ở nam và 71,6% ở nữ cho
rằng nên chăm sóc người nhiễm HIV mà không phải cách ly.
+ Về hành động tham gia phòng chống AIDS: 29,8% ở nam và 27% ở
nữ có tham gia một hoạt động phòng chống AIDS ở địa phương [13].
Theo báo cáo số 1136/ GDTC ngày 23/9/98 của Bộ GD- ĐT về việc
kiểm điểm đánh giá việc thực hiện Chỉ thị 52 CT/TƯ có nhận định về kiến
thức, thái độ, hành vi về HIV/AIDS của học sinh:
+ Về kiến thức: 84% HS,SV cho rằng AIDS là nguy hiểm nhất hiện
nay. 96,8% HS,SV hiểu đúng tác nhân gây nên AIDS là loại vi rút. Có 96%
HS,SV nắm được đường lây truyền HIV/AIDS. 87% HS,SV biết các biện
pháp phòng tránh AIDS.
+ Về thái độ: 91,8% HS, SV có thái độ đúng với người thân của mình
nếu họ bị nhiễm HIV/AIDS, 66% HS, SV có thái độ đúng nếu như mình bị
nhiễm HIV/AIDS.
Footer Page 24 of 132.
Header Page 25 of 132.
- 25 -
+ Về niềm tin: 84,8% HS, SV tin tưởng vào lối sống lành mạnh là 1
biện pháp tránh lây nhiễm HIV/AIDS, 83,7% HS, SV tin rằng việc tuyên
truyền giáo dục là biện pháp quan trọng nhất để phòng tránh AIDS.
+ Về thực hành: 93,15% biết cách xử lý đúng trước các hành động nguy
cơ lây nhiễm HIV/AIDS, 84,4% HS, SV biết cách xử lý đúng trước các nguy