Luận văn thạc sĩ kiến thức và thực hành theo dõi phản ứng sau tiêm chủng của bà mẹ có con dưới 1 tuổi và một số yếu tố liên quan tại hai huyện thành phố của tỉnh thanh hóa năm 2016 - Pdf 44

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Kiến thức của người chăm sóc trẻ về phản ứng sau tiêm chủng.... 33
Biểu đồ 3.2. Thực hành của người chăm sóc trẻ sau tiêm chủng................... 37
Biểu đồ 3.3. Nguyên nhân người chăm sóc không cho trẻ ở lại theo dõi đủ 30
phút tại trạm y té..................................................................... 38
Biểu đồ 3.4. Nguyên nhân người chăm sóc trẻ không cho trẻ theo dõi trẻ trong
24 giờ tại nhà.......................................................................... 39
Biểu đồ 3.5. Những thông tin người chăm sóc trẻ cung cấp cho CBYT trước
khi tiêm chủng ........................................................................ 39
Biểu đồ 3.6. Nguồn cung cấp thông tin về các phản ứng sau tiêm chủng cho bà mẹ.... 41
Biểu đồ 3.7. Phương thức truyền thông được người chăm sóc trẻ cho là có
hiệu quả nhất .......................................................................... 43

DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Hệ thống giám sát phản ứng sau tiêm chủng tại Việt Nam............. 17


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương trình Tiêm chủng mở rộng được cộng đồng quốc tế đánh giá là
một trong những chương trình chăm sóc sức khoẻ thiết thực, hiệu quả nhất
thực hiện công ước quốc tế về quyền trẻ em và tiếp tục trở thành chương trình
ưu tiên của mọi quốc gia sau năm 2000 [3]. Tiêm chủng phòng bệnh bằng các
vắc xin là một thành tựu trong y học ở thế kỷ XX, có ý nghĩa to lớn trong y
học dự phòng. Chương trình Tiêm chủng mở rộng đã góp phần làm giảm
đáng kể tỷ lệ mắc và chết của trẻ em dưới 1 tuổi và 5 tuổi về các bệnh truyền
nhiễm. Ước tính hàng năm tiêm chủng đã cứu sống khoảng 1 triệu trẻ em ở
các nước đang phát triển [41].
Tại Việt Nam, trải qua chặng đường hơn 30 năm hoạt động kể từ năm
1985, Chương trình TCMR đã đạt được những thành quả to lớn trong việc

Xuất phát từ vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về: “Kiến
thức và thực hành theo dõi phản ứng sau tiêm chủng của bà mẹ có con
dưới 1 tuổi và một số yếu tố liên quan tại hai huyện/thành phố của tỉnh
Thanh Hóa năm 2016”:
Mục tiêu của nghiên cứu:
1. Mô tả kiến thức và thực hành theo dõi phản ứng sau tiêm chủng của bà
mẹ có con dưới 1 tuổi tại huyện Hoằng Hóa và thành phố Thanh Hóa,
tỉnh Thanh Hoá năm 2016.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành theo dõi
phản ứng sau tiêm chủng của bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại huyện
Hoằng Hóa và thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá năm 2016.


3

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Vắc xin, phân loại và bảo quản vắc xin
1.1.1. Một số khái niệm và định nghĩa
Vắc xin là chế phẩm sinh học chứa kháng nguyên tạo cho cơ thể khả
năng đáp ứng miễn dịch. Vắc xin phải được bảo quản trong hệ thống dây
chuyền lạnh ở điều kiện phù hợp từ khi sản xuất tới khi sử dụng [5],[12].
Tiêm chủng là việc đưa vắc xin vào cơ thể con người với mục đích tạo
cho cơ thể khả năng đáp ứng miễn dịch để dự phòng bệnh tật [8].
Dây chuyền lạnh là hệ thống thiết bị nhằm bảo quản và vận chuyển vắc
xin theo đúng nhiệt độ quy định từ nhà sản xuất đến người sử dụng, bao gồm
buồng lạnh, xe lạnh, tủ lạnh, tủ đá, hòm lạnh, phích vắc xin [8].
Phản ứng sau tiêm chủng là hiện tượng bất thường về sức khỏe bao
gồm các biểu hiện tại chỗ tiêm chủng hoặc toàn thân xảy ra sau tiêm chủng,
không nhất thiết do việc sử dụng vắc xin, bao gồm phản ứng thông thường
sau tiêm chủng và tai biến nặng sau tiêm chủng [8].

đó sử dụng hóa chất để phá vỡ nó ra và thu thập các kháng nguyên quan
trọng, hoặc có thể sản xuất các phân tử kháng nguyên từ vi khuẩn sử dụng
công nghệ DNA tái tổ hợp. Như vắc xin Ho gà vô bào, Hib, phế cầu (PCV-7,
PCV-10, PCV-13, viêm gan B [39], [ 45].
1.1.2.4. Vắc xin giải độc tố
Các loại vắc xin được sử dụng khi một độc tố của vi khuẩn là nguyên
nhân chính của bệnh do vi sinh vật tiết ra độc tố, hoặc hóa chất độc hại. Các
nhà khoa học đã phát hiện ra rằng họ có thể làm bất hoạt độc tố bằng cách xử
lý chúng với formalin, một dung dịch formaldehyde và nước khử trùng… để
biến độc tố của vi sinh vật được an toàn để sử dụng trong vắc xin. Từ giải độc
tố như Uốn ván, Bạch hầu [12],[31],[45].


5

1.1.3. Bảo quản vắc xin
Vắc xin là một sinh phẩm đặc biệt, cần được bảo quản nghiêm ngặt
trong hệ thống dây chuyền lạnh. Nhiệt độ đảm bảo để giữ vắc xin an toàn ở
tuyến huyện/xã và điểm tiêm chủng là từ +2 độ C đến +8 độ C. Nhiệt độ nóng
và lạnh ngoài khoảng an toàn trên đều có thể làm hỏng vắc xin. Vắc xin cần
phải được bảo quản liên tục trong dây chuyền lạnh từ khi xuất xưởng cho tới
điểm tiêm chủng và trong suốt buổi tiêm chủng. Vắc xin bị phơi nhiễm với
nhiệt độ cao sẽ bị mất hiệu lực. Vắc xin bị đông băng thì không những gây
ảnh hưởng tới hiệu lực bảo vệ của vắc xin mà còn có thể gây ra các phản ứng
không mong muốn [5],[12].
Theo dõi nhiệt độ của buồng lạnh, tủ lạnh hàng ngày (kể cả ngày lễ,
ngày nghỉ) và ghi vào bảng theo dõi nhiệt độ tối thiểu 02 lần/ngày vào buổi sáng
lúc đến và buổi chiều trước khi cán bộ quản lý kho về. Không bảo quản vắc xin
đã hết hạn sử dụng, lọ vắc xin đã pha hồi chỉnh sau buổi tiêm chủng và vắc xin
có gắn chỉ thị nhiệt độ đã đổi màu báo cần hủy trong dây chuyền lạnh. Dây

BCG

Lao

Viêm gan B

Viêm gan B

OPV 1

Bại liệt

Quinvaxem 1
OPV 2

3 tháng tuổi
Quinvaxem 2
OPV 3
4 tháng tuổi
9 tháng tuổi
12 tháng tuổi
18 tháng tuổi
24 tháng tuổi

Phòng bệnh

Quinvaxem 3

Bạch hầu – ho gà – uốn ván – viêm
gan B – viêm màng não mủ do Hib

Chỉ định tiêm vắc xin theo đúng lịch tiêm chủng và thực hiện đúng chỉ
định, chống chỉ định đối với từng loại vắc xin theo hướng dẫn.


7
1.3.2. Chống chỉ định tiêm vắc xin [9].
- Trẻ có tiền sử sốc hoặc phản ứng nặng sau tiêm chủng vắc xin lần trước
(có cùng thành phần) như: sốt cao trên 390C kèm co giật hoặc dấu hiệu
não/màng não, tím tái, khó thở.
- Trẻ có tình trạng suy chức năng các cơ quan (như suy hô hấp, suy tuần
hoàn, suy tim, suy thận, suy gan,…)
- Trẻ suy giảm miễn dịch (bệnh suy giảm miễn dịch bẩm sinh, trẻ nhiễm
HIV giai đoạn lâm sàng IV hoặc có biểu hiện suy giảm miễn dịch nặng)
chống chỉ định tiêm chủng các loại vắc xin sống. Không tiêm vắc xin BCG
cho trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV mà không được điều trị dự phòng lây truyền
từ mẹ sang con.
Các trường hợp chống chỉ định khác theo hướng dẫn của nhà sản xuất
đối với từng loại vắc xin.
1.3.3. Các trường hợp tạm hoãn [9].
- Trẻ mắc các bệnh cấp tính, đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng.
- Trẻ sốt ≥ 37,50C hoặc hạ thân nhiệt ≤ 35,50C (đo nhiệt độ tại nách).
- Trẻ mới dùng các sản phẩm globulin miễn dịch trong vòng 3 tháng trừ
trường hợp trẻ đang sử dụng globulin miễn dịch điều trị viêm gan B.
- Trẻ đang hoặc mới kết thúc liều điều trị corticoid (uống, tiêm) trong
vòng 14 ngày.
- Trẻ sơ sinh có cân nặng dưới 2.000g.
Các trường hợp tạm hoãn tiêm chủng khác theo hướng dẫn của nhà sản
xuất đối với từng loại vắc xin [13], [ 37].



đau)
BCG
Viêm gan B

90-95%
Người lớn:15%
Trẻ em :5%

-

-

1-6%

-

Hib

5-15%

2-10%

Vắc xin cúm bất hoạt

10-64%

5-12%

Vắcxin sống cúm



9

Phản ứng phụ
Vắc xin

tại chỗ (sưng, đỏ,

Các triệu chứng toàn
Sốt (>38ºC)

chịu, quấy khóc

đau)
DTP – ho gà toàn tế bào

tới 50%

Phế cầu cộng hợp.

thân, kích thích, khó

tới 50%

tới 60%

~20%
~10%


Sau tiêm vắc xin có chứa thành phần ho gà toàn tế bào (DPwT) ghi
nhận trên 50% trường hợp trẻ sau tiêm có phản ứng tại chỗ (sưng, nóng, đỏ,
đau), trên 50% các trường hợp có phản ứng sốt (>380C), khoảng 60% các
trường hợp có triệu chứng toàn thân, kích thích, khó chịu, quấy khóc
[13],[44].
Tai biến nặng sau tiêm chủng là phản ứng bất thường sau tiêm chủng
có thể đe dọa đến tính mạng người được tiêm chủng (bao gồm các triệu chứng
như khó thở, sốc phản vệ hay sốc dạng phản vệ, hội chứng sốc nhiễm độc, sốt
cao co giật, trẻ khóc kéo dài, tím tái, ngừng thở) hoặc để lại di chứng hoặc
làm người được tiêm chủng tử vong [6].


10
Bảng 1.3. Các phản ứng nặng và hiếm gặp sau tiêm vắc xin
Thời gian

Tỷ lệ trên

xuất hiện

1.000.000 liều

-Viêm hạch có mủ

2-6 tháng

100-1000

-Viêm xương BCG


Không

Viêm gan B

Sốc phản vệ

Viêm não Nhật
Bản (bất hoạt)

Biểu hiện thần kinh (viêm
não, bệnh não, thần kinh
ngoại biên)

Sởi/

- Co giật có sốt

6-12 ngày

330

Sởi - quai bị -

- Giảm tiểu cầu

15-35 ngày

30

rubella/


0-1 giờ

1-6

- Áp xe vô trùng

1-6 tuần

6-10

- Khóc thét dai dẳng >3 giờ

0-24 giờ

< 10.000

- Co giật

0-3 ngày


Không rõ nguyên nhân: Không xác định được nguyên nhân
[6],[11],[44].
1.5. Hướng dẫn theo dõi, chăm sóc xử trí phản ứng sau tiêm chủng
1.5.1. Hướng dẫn theo dõi chăm sóc tại trạm y tế
Người được tiêm chủng phải được theo dõi tại trạm y tế ít nhất 30
phút sau tiêm chủng. Các dấu hiệu cần theo dõi sau tiêm chủng gồm:
- Dấu hiệu tại chỗ tiêm: Sưng, đỏ, đau tại chỗ tiêm
- Toàn trạng, tinh thần, dấu hiệu nhịp thở, nhiệt độ, phát ban...
1.5.2. Hướng dẫn chăm sóc tại nhà
Người được tiêm chủng phải được theo dõi tại nhà ít nhất 24 giờ sau
tiêm chủng. Trường hợpngười được tiêm chủng là trẻ em thì người theo dõi
trẻ phải là người trưởng thành và biết chăm sóc trẻ. Các dấu hiệu cần theo dõi
sau tiêm chủng bao gồm:
- Toàn trạng
- Tinh thần, tình trạng ăn, ngủ
- Dấu hiệu về nhịp thở


12
- Nhiệt độ, phát ban
- Các biểu hiện tại chỗ tiêm (sưng, đỏ...)
Đối với trẻ em cần cho trẻ bú mẹ hoặc uống nước nhiều hơn. Bế, quan
sát trẻ thường xuyên và chú ý không chạm, đè vào chỗ tiêm.
Người được tiêm chủng cần được đưa ngay tới cơ sở y tế để theo dõi,
điều trị nếu có dấu hiệu tai biến nặng sau tiêm chủng có thể đe dọa đến tính
mạng của người được tiêm chủng bao gồm các triệu chứng như khó thở, sốc
phản vệ hay sốc dạng phản vệ, hội chứng sốc nhiễm độc, sốt cao co giật, trẻ
khóc kéo dài, tím tái, ngừng thở [7].
1.5.3. Hướng dẫn xử trí các phản ứng thông thường sau tiêm chủng
Nguyên tắc:

hiện mệt lả, giảm đáp ứng thường thoáng qua và tự khỏi không cần điều
trị. Trường hợp xuất hiện tái xanh hay tím ngắt hoặc bất tỉnh cần được đưa
đến cơ sở y tế để theo dõi và điều trị tích cực như sốc phản vệ.
- Viêm hạch bạch huyết kể cả viêm hạch bạch huyết có mủ với biểu
hiện có 1 hạch lympho sưng to > 1,5 cm (bằng 1 đầu ngón tay người lớn)
hoặc có 1 hốc dò rỉ trên 1 hạch lympho. Xảy ra trong vòng 2-6 tháng sau khi
tiêm vắc xin BCG, tại cùng một bên người với chỗ tiêm chủng (đa số là ở
nách). Thường là tự lành và không cần điều trị. Trường hợp tổn thương dính
vào da hoặc bị dò rỉ thì cần đưa đến cơ sở y tế để được phẫu thuật dẫn lưu và
đắp thuốc chống lao tại chỗ.
- Bầm tím và/hoặc chảy máu do giảm tiểu cầu thường là nhẹ và tự khỏi.
Trường hợp nặng cần đưa đến cơ sở y tế để điều trị thuốc steroid và truyền
khối tiểu cầu [7].


14

1.5.4. Hướng dẫn xử trí các tai biến nặng sau tiêm chủng [21]
Nguyên tắc: Phải khẩn trương tiến hành cấp cứu, chẩn đoán nguyên
nhân, xử trí và điều trị tại cơ sở y tế.
Một số tai biến nặng sau tiêm chủng và các biện pháp xử trí và điều trị:
- Sốc phản vệ: Thường xuất hiện trong hoặc ngay sau khi tiêm chủng
với các triệu chứng như kích thích, vật vã; mẩn ngứa, ban đỏ, mày đay, phù
Quincke; mạch nhanh nhỏ khó bắt, huyết áp tụt có khi không đo được; khó
thở (kiểu hen, thanh quản), nghẹt thở; đau quặn bụng, ỉa đái không tự chủ;
đau đầu, chóng mặt, đôi khi hôn mê; choáng váng, vật vã, giãy giụa, co giật.
Cần dừng ngay việc tiêm vắc xin và tiến hành cấp cứu sốc phản vệ theo phác
đồ của Bộ Y tế và chuyển bệnh nhân đến đơn vị hồi sức tích cực của bệnh
viện gần nhất.
- Phản ứng quá mẫn cấp tính: Thường xảy ra trong vòng 2 giờ sau khi

1.6.1. Phản ứng sau tiêm chủng trên thế giới
Mặc dù đã có nhiều bằng chứng về sự an toàn của vắc xin, tuy nhiên
vẫn có những trường hợp hiếm hoi xảy ra các phản ứng phụ nặng sau tiêm
chủng thậm chí tử vong. Dưới đây là kết quả nghiên cứu về một số phản ứng
phụ sau tiêm chủng ở trẻ dưới 1 tuổi để lại hậu quả nặng nề.
Sốc phản vệ rất hiếm khi xảy ra sau tiêm chủng, sốc phản vệ rất nguy
hiểm và có nguy cơ gây tử vong, nguy cơ bị sốc phản vệ là ít hơn 2 trường
hợp trên 1 triệu liều vắc xin tiêm cho trẻ em [2]. Một nghiên cứu trong 10
năm của Chương trình tiêm chủng Quốc gia Mỹ ghi nhận 5 trường hợp tử
vong do sốc phản vệ sau khi tiêm [28]. Một nghiên cứu khác công bố năm
2003 sử dụng cơ sở dữ liệu các bệnh án thấy rằng sau khi 7.644.049 liều vắc
xin được tiêm ở trẻ, có 5 trường hợp liên quan đến sốc phản vệ, tuy nhiên cả 5
trường hợp này đều không xảy ra tử vong sau đó. Trung tâm phòng ngừa và
kiểm soát dịch bệnh khuyến cáo nên sàng lọc những bệnh nhi có tiền sử dị


16
ứng trước khi tiêm chủng [29]. Mặc dù vậy, sốc phản vệ sau tiêm chủng
không phải lúc nào cũng có thể dự đoán và phòng ngừa trước được vì thế các
bác sĩ cần chuẩn bị sẵn sàng cấp cứu cho những trường hợp sốc phản vệ nếu
xảy ra.
Có ít nhất 6 báo cáo trường hợp tử vong ở trẻ suy giảm miễn dịch có
liên quan đến nhiễm trùng vắc xin sởi, trong đó có 1 trường hợp nhiễm HIV
bị viêm phổi sau khi tiêm vắc xin và 1 trường hợp viêm màng não sau khi
tiêm ở trẻ 21 tháng tuổi. CDC khuyến cáo nên sàng lọc trước khi tiêm chủng
để có các biện pháp phòng ngừa bao gồm việc chẩn đoán hệ thống miễn dịch
trước tiêm [1].
Một số nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ nhân quả giữa việc tiêm vắc
xin và ngất, liên quan đến mũi tiêm. Sau khi tiêm bệnh nhân bị ngất có thể
dẫn đến chấn thương bao gồm chấn thương đầu. Một báo cáo mô tả sự cố tử

lượng dịch vụ tiêm chủng ngày càng được nâng cao, đòi hỏi việc pháp quy hóa
về tổ chức, văn bản cũng như chuẩn hóa về quy trình kỹ thuật, từ đó hình thành
Hệ thống giám sát phản ứng sau tiêm chủng ở các tuyến trên toàn quốc.

Y tế thôn bản

Hình 1.1 Hệ thống giám sát phản ứng sau tiêm chủng tại Việt Nam


18
Chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) đã được triển khai từ năm
1985 đến nay với việc sử dụng và mở rộng dần các vắc xin cho trẻ em và phụ
nữ. Từ tháng 6 năm 2010, vắc xin phối hợp phòng 5 bệnh bạch hầu, ho gà,
uốn ván, viêm gan B, viêm phổi/viêm màng não do vi khuẩn Hib được triển
khai trong Chương trình TCMR, tiêm 3 mũi thay thế cho vắc xin DPT ở trẻ
lúc 2, 3 và 4 tháng tuổi. Đến năm 2015 đã có 12 loại vắc xin được sử dụng
trong tiêm chủng mở rộng. Ước tính hàng năm có khoảng hai mươi triệu mũi
tiêm đã được thực hiện tiêm chủng phòng bệnh cho trẻ em và phụ nữ là đối
tượng của chương trình. Năm 2015 là năm tỷ lệ tiêm chủng mũi 3 vắc xin này
đạt cao nhất với tỷ lệ 97%. Trong 11 năm thuộc giai đoạn 2005-2015, có 10
năm tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi đạt trên 90%. Đây là một
chỉ tiêu quan trọng mà Chính phủ giao cho dự án tiêm chủng thuộc chương
trình mục tiêu Quốc gia về Y tế [22],[16],[18],[20].
Năm 2013, tỷ lệ tiêm chủng vắc xin DPT-VGB-Hib3 đạt thấp là 59,4%.
Và năm 2014 ngành Y tế đã phải rất nỗ lực trong việc triển khai tiêm bù các
mũi vắc xin cho trẻ dưới 1 tuổi để đảm bảo độ bao phủ tiêm chủng [16],[18].
Đồng thời qua số liệu của hai cuộc điều tra được tiến hành gần đây vào năm
2009 và 2015 cũng cho thấy tỷ lệ bỏ mũi giữa các vắc xin DPT1-3 là cao hơn
vào năm 2015 so với 2009. Kết quả này đã ghi nhận số trường hợp các bà mẹ
từ chối một số mũi tiêm nhắc và không tiêm chủng đầy đủ tăng hơn ở năm

dừng triển khai việc tiêm VGB sơ sinh, cán bộ y tế cũng rất thận trọng khi chỉ
định tiêm VGB sơ sinh dẫn đến tỷ lệ tiêm VGB sơ sinh trong vòng 24 giờ
trong năm 2013 đã giảm xuống còn (56%), đặc biệt thấp ở các tháng từ tháng
8 đến tháng 12/2013 [22],[25].


20

1.6.3. Một số nghiên cứu về kiến thực, thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm
chủng và một số yếu tố liên quan
Nghiên cứu tại xã miền núi Đà Bắc tỉnh Hòa Bình năm 2009 cho thấy
tỷ lệ bà mẹ biết đến các phản ứng sau tiêm như sốt 78,4%, quấy khóc 64,7%,
các dấu hiệu nặng được rất ít bà mẹ biết đến như co giật là 11,9%, bỏ bú là
1,24% [23].
Một nghiên cứu năm 2011 cho thấy việc thực hành chăm sóc trẻ sau
tiêm chủng của các bà mẹ tại TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh được ghi nhận
có giữ gìn và bảo quản sổ tiêm chủng cá nhân cho trẻ đạt 100%; thực hiện
theo dõi trẻ sau tiêm tại nhà đủ 24 giờ đạt 91,4%; chăm sóc và xử trí sốt đúng
cách đạt 98%. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn có việc thực hành chưa tốt
được ghi nhận như thời gian theo dõi trẻ sau tiêm tại TYT không đủ 30 phút
sau tiêm là 60,5%; không chủ động cung cấp thông tin về sức khỏe của trẻ và
tiền sử phản ứng lần tiêm trước cho CBYT là 11,4%; xử trí phản ứng tại chỗ
sau tiêm không đúng cách là 27,2% [35]. Nghiên cứu này cũng cho thấy: Có
mối liên quan giữa thái độ và thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm của bà mẹ. Bà
mẹ có thái độ tích cực thì tỷ lệ thực hành chăm sóc sau tiêm đúng cao gấp
2,15 bà mẹ có thái độ không tích cực (p
không tích cực 22,5%.
Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành của các bà mẹ trong việc
chăm sóc trẻ sau tiêm vắc xin Quinvaxem tại Hải Phòng năm 2016 cho thấy
Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đạt trong việc theo dõi và chăm sóc trẻ sau tiêm vắc


22
xin Quinvaxem là thấp (36,8%). Sốt, quấy khóc nhẹ là hai biểu hiện phản ứng
sau khi tiêm chủng ở trẻ được các bà mẹ biết đến nhiều nhất (tương ứng
93,9% và 47,5%). Tỷ lệ các bà mẹ nhận thức được khả năng trẻ có thể xảy ra
các phản ứng nặng sau tiêm chủng là cao (82%). “Gây tử vong” là hậu quả
của phản ứng nặng sau tiêm chủng được đa số (88,5%) các bà mẹ biết đến.
Các hậu quả khác như “Đe dọa tính mạng người bệnh”, “Gây hậu quả dai
dẳng”, “Ốm yếu/Tàn tật”, ít được biết đến hơn (lần lượt là 16,7%; 13,9% và
12,1%). Số bà mẹ hiểu biết đầy đủ về dấu hiệu bất thường cần được xử trí kịp
thời là 4,3%. Số bà mẹ có đầy đủ kiến thức về các dấu hiệu phản ứng thông
thường sau tiêm là 14,3% [27].


23

Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại huyện Hoằng Hóa và thành phố Thanh
Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Lựa chọn ngẫu nhiên 1 đơn vị thành thị và 1 đơn vị nông thôn trong tổng
số 27 huyện thị của tỉnh Thanh Hóa. Tại 2 đơn vị trên tiến hành lập danh sách
các xã/phường của thành phố Thanh Hóa và huyện Hoằng Hóa. Lựa chọn
ngẫu nhiên 4 phường của thành phố Thanh Hóa và 4 xã của huyện Hoằng Hóa

cứu mô tả cắt ngang

n = Z12−α / 2

p(1 − p )
d2

Trong đó:
- P: Là tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thực hành chăm sóc trẻ sau tiêm
chủng đúng cách. Kết quả về tỷ lệ này của các nghiên cứu trước dao
động từ 28,4% đến 78,2%, và với các nội dung cụ thể về kiến thức
thực hành không hoàn toàn giống nghiên cứu này, do vậy nghiên cứu
chọn p=0,5 [33],[34].
- d: Là độ chính xác tuyệt đối, chọn d=0,05.
- Lấy α=0,05 (độ tin cậy 95%), tra bảng Z có Z=1,96.
Thay vào công thức ta có n = 385 trẻ, làm tròn cỡ mẫu là 400 trẻ.
2.3.2.2. Phương pháp chọn mẫu
Số trẻ dưới 1 tuổi trong danh sách hẹn tiêm tại 8 xã, phường này tương
đương với cỡ mẫu được tính ở trên, do đó nghiên cứu đã tiến hành chọn mẫu
toàn bộ trẻ dưới 1 tuổi (sinh từ 1/10/2015 đến 30/9/2016) đủ tiêu chuẩn vào
nghiên cứu. Thực tế tổng số trẻ được lựa chọn vào nghiên cứu là 399, là số
mẫu phân tích trong kết quả nghiên cứu này.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status