1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BỘ Y TẾ
LÊ GIANG LINH
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ THỰC TRẠNG
VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN
TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
HÀ NỘI - 2019
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BỘ Y TẾ
LÊ GIANG LINH
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ THỰC TRẠNG
VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN
bước cụ thể và tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn BSCKII Nguyễn Khánh Hải- Giám đốc
Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc, người đã đưa ra những gợi ý ban đầu rất
quan trọng để tôi phát triển nghiên cứu của mình. Đồng cảm ơn phòng Điều
dưỡng, Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, cùng toàn thể các khoa, phòng của
Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc đã hỗ trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để
tôi có thể hoàn thành luận văntốt nghiệp này.
Sau cùng tôi xin dành tình cảm, lòng biết ơn vô hạn gửi đến gia đình và
những người bạn thân thiết, đã luôn giúp đỡ, động viên, khích lệ và chia sẻ
khó khăn trong thời gian tôi học tập để hoàn thành khóa học.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 04 năm 2019
HỌC VIÊN
Lê Giang Linh
4
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
- Phòng Quản lý đào tạo trường Đại học Y Hà Nội
- Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng,
- Bộ môn Tổ chức và quản lý y tế
- Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp
-
Tôi tên là: Lê Giang Linh – Học viên: CH26 Quản lý bệnh viện, Viện
CTR
: Chất thải rắn
CTRYT
: Chất thải rắn y tế
CTYT
: Chất thải y tế
CTYTNH
: Chất thải y tế nguy hại
DD
: Dinh dưỡng
KSNK
: Kiểm soát nhiễm khuẩn
QLCTYT : Quản lý chất thải y tế
6
MỤC LỤC
gây những tác động tiềm tàng tới môi trường và sức khỏe cộng đồng, đặc biệt
là cán bộ y tế, nhưng người phải tiếp xúc trực tiếp hàng ngày [4].
Tại Việt Nam, nhận thức của cộng đồng nói chung và cán bộ y tế
(CBYT) nói riêng về những nguy cơ tiềm ẩn trong chất thải bệnh viện còn
kém. Phương tiện thu gom, vận chuyển chất thải còn thiếu, chưa đồng bộ, hầu
hết chưa đạt tiêu chuẩn, chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy khi
vận chuyển CTYT nguy hại [4]. Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy
định quản lý CTYT, gần đây nhất là thông tư liên tịch số 58/2015/TTLTBYT-BTNMT ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2015 về quy định quản lý
CTYT, áp dụng với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có
hoạt động liên quan đến chất thải y tế trên lãnh thổ Việt Nam [5].
10
Bệnh viện Tâm thần Vĩnh Phúc (BVTTVP) được thành lập từ năm
2003 và đi vào hoạt động chính thức tiếp nhận, khám, chữa bệnh cho người
bệnh từ năm 2006. Trong năm 2017, bệnh viện đã khám, điều trị cho 12000
lượt người bệnh, trong đó có 11000 người bệnh nằm nội trú. Theo báo cáo của
BVTTVP, hiện nay bệnh viện đang tập trung phát triển chuyên môn, nâng cấp
cơ sở hạ tầng của các khu điều trị nên trang bị và cơ sở vật chất, hạ tầng phục
vụ quản lý CTRYT còn nhiều hạn chế như: Kho lưu giữ chất thải chưa được
đảm bảo; các thùng đựng chất thải còn thiếu về màu sắc. Vẫn còn tồn tại tình
trạng CBYT chưa thực hiện đúng quy định về quản lý CTRYT như: Phân loại
sai, xử lý ban đầu chưa đúng, công việc thu gom, vận chuyển chưa đảm bảo
[6]. Quản lý CTRYT tốt sẽ góp phần giảm thiểu được sự lãng phí về kinh tế
cho bệnh viện và đồng thời giảm được nguy cơ rủi do cho CBYT liên quan và
cho cộng đồng nói chung. Phải chăng kiến thức và thực hành về quản lý
CTRYT của cán bộ tại đây còn thiếu hụt nên dẫn tới tình trạng trên. Để trả lời
cho câu hỏi này đề tài: “Kiến thức, thực hành và thực trạng về quản lý chất
thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh
Phúc năm 2018” được tiến hành nghiên cứu với 2 mục tiêu:
quản lý CTYT thì CTYT bao gồm 3 nhóm là: Chất thải lây nhiễm, chất thải
nguy hại không lây nhiễm và chất thải thông thường [5].
12
Chất thải lây nhiễm:
Chất thải lây nhiễm là loại chất thải chứa các mầm bệnh (vi khuẩn,
virus, kí sinh trùng hoặc nấm) có khả năng gây bệnh cho con người [5].
Chất thải lây nhiễm được phân thành 4 loại, bao gồm:
Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các
vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm: Kim tiêm; bơm liền kim tiêm; đầu sắc
nhọn của dây truyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh; cưa
dùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác.
Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: Chất thải thấm, dính,
chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể, các chất thải phát sinh từ buồng bệnh
cách ly.
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụ
đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các
phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định
số 92/2010. NĐ - CP ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh
học tại phòng xét nghiệm;
Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác
động vật thí nghiệm.
Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:
Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại;
Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy
hại từ nhà sản suất.
Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và
các kim loại nặng,
14
Kết quả nghiên cứu tại Viện chăm sóc sức khỏe Johannesburg Nam Phi
năm 2009 cho thấy: Thực hành tốt đạt 95 % [8].
Nghiên cứu kiếntại một bệnh viện Đại học y tế Bangalore năm 2012 cho
thấy: Nhận thức đạt của bác sỹ 76,8 %, của y tá 81,9 %, nhận thức chung đạt
là 95,8 % [9].
Một nghiên cứu khác ở hai vùng phía Nam và phía Đông Ấn Độ năm
2014 cho thấy: Ở khu vực phía nam và phía đông CBYT có thực hành đạt về
thu gom CTYT lần lượt là 58,3 % và 58,9 % [10].
Với một nghiên cứu tại Bệnh viện Đại học Cairo năm 2014 cho thấy tỷ
lệ thực hành đạt của: Y tá là 84 %, bác sỹ là 63 % [11].
* Thực trạng về quản lý CTRYT
Trên thế giới, công tác quản lý CTYT được nhiều quốc gia quan tâm và
tiến hành một cách triệt để, họ có một loạt những chính sách quy định về quản
lý CTYT đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ việc quản lý CTYT. Cụ
thể có các hiệp ước quốc tế, các quy định về quản lý chất thải, đa số các chất
thải đều là loại chất thải nguy hại, trong đó có cả CTRYT cũng được hầu hết
các quốc gia trên thế giới công nhận CTRYT có nguy cơ tiềm ẩn có thể gây
hại tới môi trường và con người. Số lượng CTYT phát sinh phụ thuộc vào
mức thu nhập của quốc gia các nước thu nhập trung bình và thấp có lượng
CTYT phát sinh thấp hơn nhiều so với các nước thu nhập cao [34]. Theo
thống kê, một giường bệnh phát sinh 10kg chất thải mỗi ngày ở một bệnh viện
tại nước có thu nhập cao [35].
CTYT phát sinh ở các quốc gia có thu nhập cao thì tổng lượng CTYT
hàng năm từ 1,1- 12 kg/ người/ năm, trong đó lượng chất thải nguy hại là từ
0,4- 5,5 kg/ người/ năm, các nước có thu nhập trung bình thì tổng lượng
CTYT hàng năm từ 0,8- 6 kg/ người/ năm, trong đó lượng chất thải nguy hại
là từ 0,3- 0,4 kg/ người/ năm và các nước có thu nhập thấp thì có lượng CTYT
16
Nghiên cứu tại 10 bệnh viện khu vực phía bắcnăm 2012 cho thấy:
CBYT có kiến thức về quản lý CTRYT đạt chiếm 79,4 %, trong đó tỷ lệ kiến
thức đạt ở bác sỹ và điều dưỡng lần lượt là 82,4 % và 76,8 % [15].
Một nghiên cứu tại bệnh viện II Lâm Đồng năm 2013 cho thấy: Kiến
thức về quản lý CTRYT của điều dưỡng và hộ lý đạt lần lượt là 99,4 % và
97,4 % [16].
Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa thành phố Vinh cho thấy:
CBYT có kiến thức phân loại CTRYT đạt 61 % [17].
Theo nghiên cứu tại bệnh viện tim Hà Nội năm 2016 cho thấy: có 89,5
% CBYT có kiến thức về quản lý CTRYT đạt 81,5 % [18].
* Thực hành về quản lý CTRYT
Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa Đồng Tháp năm 2015 cho
thấy: Các chất thải được phân loại ngay tại nguồn phát sinh tỷ lệ CBYT các
khoa thực hành phân loại đạt 65% [12].
Một nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi đồng II năm 2008 cho thấy: Tỷ lệ
CBYT thực hành quản lý CTRYT đạt 82,9 % [13].
Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh năm 2011cho
thấy: Tỷ lệ CBYT có thực hành đạt về phân loại chất thải đạt 82,4 % [14];
[32].
Nghiên cứu tại 10 bệnh viện khu vực phía Bắc năm 2012 cho thấy: Tỷ
lệ CBYT có thực hành về quản lý CTRYT đạt là 71,9 %, trong đó tỷ lệ đạt
thực hành tốt ở bác sỹ và điều dưỡng lần lượt là 76,8 % và 67,8 % [15].
Nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Vinh năm 2013 cho thấy:
Có 98,3 % các khoa, phòng phân loại chất thải theo đúng quy định của Bộ Y
tế, đạt 96,7 % thực hiện thu gom CTRYT, toàn bệnh viện sử dụng dụng cụ
bao bì đạt 13,3 % [17].
Theo nghiên cứu tại bệnh viện Tim Hà Nội năm 2016 cho thấy: CBYT
thực hành đúng về quản lý CTRYT trong phân loại rác thải khi tiêm, thay
18
CTRYT tại nơi làm thủ thuật, có bảng hướng dẫn quy định nơi đặt thùng thu
gom và tiến hành thu gom đúng quy định, 70 % các khoa phòng có xe vận
chuyển CTRYT [21].
Một nghiên của Sở Y tế Hà Nội tiến hành từ năm 2009 đến 2010 với 74
bệnh viện tại Hà Nội tỷ lệ tuân thu đạt lần lượt là: Túi đựng chất thải đúng
quy cách về bề dày và dung tích 66,67 %, túi đựng chất thải đúng quy cách về
màu sắc 30,67 %, túi đựng chất thải đúng quy cách về buộc đóng gói 81,33%,
hộp đựng sắc nhọn đúng quy cách 93,9 %, thùng đựng có nắp đậy 58,33 %,
thùng đựng có ghi nhãn 66,67 % [22].
1.4. Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành trong quản lý CTRYT:
1.4.1. Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo
Sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo bệnh viện là yếu tố rất quan trọng
trong công tác quản lý CTRYT của CBYT tại bệnh viện, khi có sự quan tâm,
ủng hộ của lãnh đạo bệnh viện thì việc đề xuất các khóa học, tập huấn và
trang bị những phương tiện làm việc cùng với trang bị bảo hộ lao động được
đầu tư hơn.
Còn ngược lại, nếu như không được quan tâm, tạo điều kiện, dẫn đến
tâm lý CBYT làm qua loa cho có để báo cáo, nhưng thực chất không mang lại
hiệu quả trong công tác quản lý CTRYT của CBYT tại bệnh viện.
Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK), hội đồng KSNK của bệnh viện
là bộ phận đưa ra kế hoạch, chiến lược phát triển và thực hiện nghiêm túc trong
công tác quản lý chất thải y tế, mạng lưới KSNK với các thành viên phần lớn là
cán bộ điều dưỡng trưởng các khoa, phòng có nhiệm vụ giám sát, đề xuất các
biện pháp quản lý chất thải y tế… Ngoài ra còn có phòng (tổ) quản lý chất
lượng bệnh viện với những tiêu chí đánh giá theo từng khoa phòng.
1.4.5. Giới tính
Nghiên cứu tại 10 bệnh viện khu vực phía Bắc năm 2012, nghiên cứu
cho thấy nữ giới có tỷ lệ kiến thức đạt cao gấp 1,4 lần nam giới [15]
Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa năm 2014
cho thấy: CBYT nữcó kiến thức về phân loại và thu gom CTRYT cao hơn
1,2lần so với CBYT nam [20].
Một nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2016 và một
số yếu tố liên quan cho thấy nữ giới có tỷ lệ kiến thức đạt cao gấp 2,01 lần
nam giới [24].
1.4.6. Bộ phận công tác
Theo tính chất công việc của từng khoa phòng mà sự tiếp xúc nhiều hay
ítvới CTYT có thể ảnh hưởng đến kiến thức cùng với công tác thực hành của
CBYT.
Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa năm 2014
cho thấy: Tỷ lệ CBYT ở các khoa phòng như; phòng nội soi, khoa truyền
nhiễm có kiến thức đạt cao hơn 1,1 lần so với phòng xét nghiệm [20].
Nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2016 cho thấy:
Yếu tố liên quan của CBYT có kiến thức về quản lý CTRYT trong phân loại
CTYT ở khối cận lâm sàng chiếm tỷ lệ đạt cao gấp 6,4lần so với khối lâm
sàng [24].
1.4.7. Thâm niên công tác của CBYT:
Theo nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh năm 2011 cho thấy:
CBYT có thâm niên công tác trên 10 năm thì có kiến thức không đạt cao gấp
2,08 lần so với cán bộ y tế có thâm niên công tác từ 10 năm trở xuống [14].
Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp, Hải Phòng năm
2012 cho thấy: Kiến thức về phân loại, thu gom chất thải có mối liên quan chặt
21
chẽ tới thời gian công tác tại bệnh viện, người có thời gian công tác càng lâu thì
trên 5000 người bệnh [6].
Bản đồ chỉ dẫn Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc
Ghi chú:
Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.
Khung
thuyết
-Kiến
thức vềlýphân
loại nghiên cứu
- Phân loại
đúng CTRYT
- Kiến thức về thu gom
đúng CTRYT
- Kiến thức đúng về lưu
giữ đúng CTRYT
- Kiến thức về vận
chuyển đúng CTRYT
- Kiến thức đúng về xử
lý đúng CTRYT
- Thu gom
- Vận chuyển
- Lưu giữ
- Xử lý
Yếu tố liên quan đến kiến
thức quản lý CTRYT
- Tuổi
- Giới tính
- Nghề nghiệp
-Trình độ học vấn
- Thâm niên công tác
- Đào tạo tập huấn
- Cơ sở vật chất, trang thiết
bị
Yếu tố liên quan đến thực
hành quản lý CTRYT
- Tuổi
- Giới tính
- Nghề nghiệp
-Trình độ học vấn
- Thâm niên công tác
- Đào tạo tập huấn
- Cơ sở vật chất, trang
thiết bị
Sơ đồ 2.1. Khung lý thuyết của nghiên cứu
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
-
Địa điểm: Các khoa lâm sàng, cận lâm sàng, khối hành chính và khoa Dược
thuộc Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc.
Sổ sách tài liệu , hồ sơ Các sổ sách, tài liệu,
quy định có liên quan hồ sơ, tạp chí, bài báo,
tới quản lý CTRYT
báo cáo có liên quan
tới nội dung và chủ đề
nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trư
- CBYT không có
mặt tại bệnh viện
trong
thời
gian
nghiên cứu.
- Không đồng ý và có
thể dừng tham gia
nghiên cứu
- Thời gian công tác
tại bệnh viện dưới 6
tháng
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu:
-
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định tính và định
lượng.
25
4
Sổ sách,
tài liệu,
hồ sơ,
quy định;
thông tư
-Phó giám đốc phụ trách
chuyên môn;
-Lãnh đạo khoa Kiểm
soát nhiễm khuẩn
(KSNK)
Lãnh đạo khoa lâm sàng
Khoa cận lâm sàng
Hành chính
Khoa Dược
- 3 khoa lâm sàng
-2 khoa cận lâm sàng
Chủ Liên quan tới nội dung
đích và chủ đề nghiên cứu.
Phương
pháp thu
Công cụ thu
thập thông thập thông tin
tin
Tự điền