BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐÀO NGỌC PHỨC
THỰC TRẠNG BẠO LỰC BỆNH VIỆN ĐỐI VỚI
ĐIỀU DƯỠNG VIÊN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
HÀ NỘI, 2017
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐÀO NGỌC PHỨC
THỰC TRẠNG BẠO LỰC BỆNH VIỆN ĐỐI VỚI
ĐIỀU DƯỠNG VIÊN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH
VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS PHẠM THU HIỀN
PGS.TS LÃ NGỌC QUANG
DANH MỤC CÁC BẢNG........................................................................................ vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ .................................................................................. vii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ..................................................................................... viii
ĐẶT VẤN ĐỀ.............................................................................................................1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU........................................................................................3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ..........................................................................4
1.1. Khái niệm, phân loại bạo lực và bạo lực bệnh viện .............................................4
1.1.1. Khái niệm và phân loại bạo lực ........................................................................4
1.1.2. Khái niệm và phân loại bạo lực nơi làm việc ...................................................5
1.2 Khái niệm và chức trách nhiệm vụ của điều dưỡng ..............................................7
1.2.1. Khái niệm về điều dưỡng: ................................................................................7
1.2.2. Chức năng nhiệm vụ của điều dưỡng :............................................................7
1.3. Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với nhân viên y tế ...........................................9
1.3.1. Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với nhân viên y tế trên thế giới ..................9
1.3.2. Thực trạng bạo lực với nhân viên Y tế tại Việt Nam .....................................14
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực bệnh viện của nhân viên y tế ......................16
1.5. Giới thiệu về Bệnh viện Nhi Trung ương ..........................................................17
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............................20
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu.....................................................20
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................20
2.1.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu ......................................................................20
2.2. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................20
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu .........................................................................................20
2.2.2.Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu..................................................................20
2.3. Nội dung và biến số nghiên cứu .........................................................................22
2.3.1. Bộ câu hỏi đánh giá bạo lực nghề nghiệp của điều dưỡng viên .....................22
iii
iv
Phụ lục 2: Phiếu đồng ý tham gia trả lời câu hỏi phát vấn........................................65
Phụ lục 4: Phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu ban Giám đốc, trưởng phòng TCCB,
trưởng phòng điều dưỡng ..........................................................................................72
Phụ lục 6: Hướng dẫn thảo luận nhóm ......................................................................76
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLBV
Bạo lực bệnh viện
BN/NNBN
Bệnh nhân/người nhà bệnh nhân
CSBN
Chăm sóc bệnh nhân
ĐDV
Điều dưỡng viên
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Hiện nay bạo lực bệnh viện đang có xu hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng
cũng như mức độ nghiêm trong của sự việc. Bạo lực bệnh viện có thể gây ra thương
tổn về mặt tinh thần, thể chất và gây tổn thất về kinh tế cho người bị bạo lực và các
tổ chức sử dụng lao động. Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, điều dưỡng viên là
nghề có nguy cơ bị bạo lực bệnh viện cao do hàng ngày phải chăm sóc và tiếp xúc
với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân. Để đánh giá thực trạng và tìm ra giải pháp
can thiệp nhằm giảm thiểu bạo lực tại nơi làm việc ở điều dưỡng tại bệnh viện Nhi
trung ương. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với
điều dưỡng viên và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện Nhi Trung ương năm
2017”.
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 04/2017 đến tháng 07/2017 trên 300 điều
dưỡng làm việc tại Bệnh viện Nhi trung ương bằng phương pháp nghiên cứu cắt
ngang có phân tích, kết hợp giữa định lượng và định tính. Kết quả như sau:
Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên:72,7% điều dưỡng bị bạo
lực trong 12 tháng qua. Trong số 65,3% bị bạo lực bằng lời nói thì chửi bới:
57,67%; lăng mạ, xúc phạm và đe dọa: 30%, các hành vi khác chiếm 6,7%. 30,7%
điều dưỡng bị bạo lực thể chất cụ thể đánh đập, xô đẩy: 17,33%, phá đồ đạc: 8%
cấu cắn: 6%; dùng vũ khí: 3%.
Phản ứng của điều dưỡng khi bị bạo lực: 73,4% ĐDV có các hình thức phản ứng
khác nhau: 10,6% báo cáo cho bệnh viện; 18,8% thông báo cho an ninh/công an;
62,4% báo cáo cho người quản lý; 19,7% phản ứng bằng lời nói.
Ảnh hưởng của bạo lực bệnh viện: Sau khi bị bạo lực có 89,4% bị stress, 92,7% lo
lắng; 26,6% muốn thay đổi nơi làm việc, 76,1%; giảm hiệu suất làm việc; 41,7% bị
chấn thương.
Đánh giá của điều dưỡng về các yếu tố có thể gây nên tình trạng bạo lực bệnh
viện: Trên 90% các điều dưỡng cho rằng thời gian chờ đợi lâu; quá tải bệnh viện;
thiếu hướng dẫn, chỉ dẫn trong bệnh viện; hành vi không phù hợp ở ĐDV; người
nhà bệnh nhân sử dụng chất kích thích; ĐDV thiếu kỹ năng ứng phó bạo lực. Trên
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Ủy Ban Châu Âu thì bạo lực bệnh viện là những rủi ro mà nhân viên làm
việc bị lạm dụng, đe dọa hoặc bị tấn công trong những hoàn cảnh liên quan đến
nghề nghiệp của họ, xuất phát hoặc tác động đến công việc, bao gồm một nguy cơ
rõ ràng hay tiềm tàng tới sự an toàn của họ, sự hạnh phúc hoặc sức khỏe [12].
Theo nghiên cứu tội phạm tại Anh cho thấy điều dưỡng có 5% là nạn nhân của
tấn công thể chất tại nơi làm việc, số liệu cao gấp 4 lần số liệu trung bình toàn
Vương Quốc Anh [6]. Theo phân tích của Bộ lao động Mỹ, có tới 60% người lao
động bị tấn công trong chăm sóc sức khỏe và hầu hết những cuộc tấn công gây ra
bởi các bệnh nhân [9].
Bạo lực bệnh viện có thể gây ra stress nghề nghiệp. Ngoài các tổn thất về tinh
thần, các tổn thất về vật chất liên quan kinh phí điều trị cho nạn nhân bị bạo lực rất
lớn, Theo một nghiên cứu về chi phí điều trị cho điều dưỡng viên bị tấn công ước
tính là 31.643 USD [9].
Bạo lực bệnh viện xảy ra ở điều dưỡng viên với tần suất ngày càng tăng ở các
quốc gia trên thế giới. Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, điều dưỡng viên là nghề
có nguy cơ bị bạo lực bệnh viện cao nhất. Do tính chất công việc, thời gian tiếp xúc
với người bệnh và gia đình người bệnh của điều dưỡng viên là lớn nhất so với các
nhân viên khác trong bệnh viện. Điều dưỡng viên phải giao tiếp với những người
mắc bệnh, rối loạn, bị mắc stress (do bản thân hoặc người nhà bị bệnh), đau đớn và
cảm giác bất lực. Mặt khác, người bệnh và gia đình thường xuyên ở một trạng thái
bị phụ thuộc vào người khác về chăm sóc, có thể là nguyên nhân họ bị áp lực dẫn
tới sự hung hăng [18].
Ở Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu nào đánh giá về bạo lực bệnh viện ở điều
dưỡng viên. Trong khi công việc điều dưỡng hàng ngày phải chăm sóc và tiếp xúc
với bệnh nhân và gia đình người bệnh. Mặt khác, tình trạng quá tải bệnh nhân và
quá tải công việc là vấn đề thường thấy tại các bệnh viện ở Việt Nam, những rối
loạn tâm thần như căng thẳng, lo âu, trầm cảm được ghi nhận ở một số nghiên cứu.
2.
Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng
viên tại bệnh viện Nhi Trung ương năm 2017.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.
Khái niệm, phân loại bạo lực và bạo lực bệnh viện
1.1.1. Khái niệm và phân loại bạo lực
1.1.1.1. Khái niệm bạo lực
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “Bạo lực là hành vi cố ý sử
dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hoặc quyền lực để tự hủy hoại mình, chống lại
người khác hoặc một nhóm người, một tập thể cộng đồng làm họ bị tổn thương hoặc
có nguy cơ bị tổn thương hoặc tử vong hoặc bị sang chấn tâm thần, ảnh hưởng đến
sự phát triển của họ hoặc gây ra các ảnh hưởng khác” [12].
Định nghĩa này của WHO bao gồm cả những hành vi cố ý gây thương tích giữa
người với người và hành vi tự sát cũng như các xung đột vũ trang. Những sự kiện
xảy ra ngoài ý muốn (ví dụ tai nạn giao thông hay cháy nổ) không được coi là bạo
lực.
1.1.1.2. Phân loại bạo lực
Theo WHO (2002), bạo lực được phân loại theo phạm vi bạo lực hoặc loại
hành vi bạo lực. Phạm vi bạo lực bao gồm:
Bạo lực tự thân: Được chia làm 2 thể chính là:
-
Bạo lực tinh thần
-
Kỳ thị/phân biệt đối xử/hắt hủi/xa lánh/thờ ơ.
1.1.2. Khái niệm và phân loại bạo lực nơi làm việc
1.1.2.1. Khái niệm bạo lực nơi làm việc
- Bạo lực nơi làm việc: Là những rủi ro mà nhân viên làm việc bị lạm dụng, đe
dọa hoặc bị tấn công trong những hoàn cảnh liên quan đến nghề nghiệp của họ, nó
xuất phát hoặc tác động đến công việc, bao gồm một nguy cơ rõ ràng hay tiềm tàng
tới sự an toàn của họ, sự hạnh phúc hoặc sức khỏe [12].
- Tấn công/hành hung: Là hành vi có chủ đích gây hại cho người khác về mặt thể
chất [12].
- Bắt nạt: Hành vi tấn công lặp lại, qua thời gian bằng thù oán, hung ác, hoặc có
ác tâm cố gắng làm nhục hoặc hủy hoại một người hoặc một nhóm người [12].
- Lạm dụng: Hành vi làm nhục, hạ thấp hoặc các biểu lộ khác một sự thiếu tôn
trọng với phẩm giá và giá trị một cá nhân [12].
- Bạo lực tinh thần: Còn được gọi là bạo lực tình cảm/tâm lý. Đây là loại bạo lực
khá phổ biến nhưng nó khó nhận dạng được so với bạo lực thể chất. Nạn nhân phải
chịu các kiểu hành hạ như chửi mắng, hạ nhục với những lời lẽ thô thiển, nặng nề
xâm phạm đến nhân phẩm và danh dự. Không những thế, bạo lực tinh thần nhiều
khi còn tồn tại dưới nhiều dạng như đe dọa tinh thần, khủng bố tâm lý...[12].
- Quấy rối: Mọi hành xử dựa trên tuổi tác, khuyết tật, nhiễm HIV, hoàn cảnh gia
đình, giới tính, tình trạng tình dục, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo, chính trị,
6
7
1.2 Khái niệm và chức trách nhiệm vụ của điều dưỡng
1.2.1. Khái niệm về điều dưỡng:
Điều đưỡng là một nghề nghiệp trong hệ thống y tế nhằm bảo vệ, nâng cao, tối
ưu về sức khỏe và các khả năng; dự phòng bệnh và sang thương; xoa dịu nỗi đau
qua chẩn đoán và điều trị đáp ứng con người; tăng cường chăm sóc các cá nhân, gia
đình, cộng đồng và xã hội.
Ngày nay, điều dưỡng đã được công nhận là một nghề nghiệp độc lập, cùng cộng
tác với các bác sĩ, dược sĩ, kỹ thuật viên và các thành phần trong hệ thống y tế để
cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội,
người làm nghề điều dưỡng gọi là điều dưỡng viên
1.2.2. Chức năng nhiệm vụ của điều dưỡng :
1.2.2.1. Chức năng của điều dưỡng :
Chức năng chủ động (chức năng độc lập)
- Chức năng chủ động của người điều dưỡng là thực hiện những nhiệm vụ chăm sóc
cơ bản thuộc phạm vi kiến thức đã được đào tạo. Người điều dưỡng thực hiện
những nhiệm vụ này một cách chủ động.
- Thực hiện chức năng chủ động, thực chất là chủ động đáp ứng các nhu cầu cơ bản
của bệnh nhân, bao gồm các nhu cầu về: hô hấp, dinh dưỡng, bài tiết, vận động, duy
trì thân nhiệt, vệ sinh cá nhân, thay mặc quần áo, ngủ và nghỉ, an toàn, giao tiếp, tín
ngưỡng, lao động, học tập, hỗ trợ tinh thần.
- Chủ động thực hành các kỹ thuật điều dưỡng, trong tiếp đón bệnh nhân đến khám
bệnh và thực hiện sơ cứu, cấp cứu ban đầu các trường hợp bệnh nặng, tai nạn, tai
biến.
- Người điều dưỡng hiện đại có trách nhiệm chủ động, tích cực hoạt động xây dựng
ngành Điều dưỡng, hoạt động huấn luyện, đào tạo và nghiên cứu khoa học chuyên
ngành điều dưỡng.
-
Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe;
-
Chăm sóc về tinh thần;
-
Chăm sóc vệ sinh cá nhân;
-
Chăm sóc dinh dưỡng;
9
-
Chăm sóc phục hồi chức năng;
-
Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật;
-
Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh;
của các tác giả khác nhau trên thế giới về các loại bạo lực nói trên. Một nghiên cứu
phân tích gộp về bạo lực đối với tổng cộng 136 bài báo cung cấp dữ liệu về 151.347
điều dưỡng. Kết quả đã cho thấy khoảng 1/3 điều dưỡng trên toàn thế giới bị bạo
lực thể chất, khoảng 1/4 bị quấy rối tình dục, và khoảng 2/3 chỉ ra bạo lực lời nói.
Bạo lực thể chất phổ biến nhất ở các khoa cấp cứu, lão khoa, và cơ sở tâm thần. Bạo
lực thể chất và quấy rối tình dục phổ biến nhất nước Anh, trong khi đó bạo lực lời
nói là phổ biến nhất ở Trung Đông. Bệnh nhân là đối tượng chủ yếu gây nên bạo lực
thể chất ở châu Âu, người nhà và và bạn bè của bệnh nhân lại là đối tượng chính
gây nên bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng ở khu vực Trung Đông [23]. Đa số
các nghiên cứu đều mô tả bạo lực xảy ra với điều dưỡng viên nói chung.
Theo các nghiên cứu đã thực hiện cho thấy tỷ lệ bị bạo lực bệnh viện đối với
nhân viên y tế tùy thuộc vào từng nghiên cứu nhưng đều nằm trong khoảng từ 40%
- 70% cụ thể như:
Tỷ lệ bạo lực chung: Tại Châu Phi, trong nghiên cứu về tình trạng bạo lực bệnh
viện đối với điều dưỡng tại Gambia. Nghiên cứu được thực hiện trên 219 điều
dưỡng bằng cách sử dụng bảng câu hỏi tự đánh giá và 35 cuộc phỏng vấn sâu. Việc
10
thu thập dữ liệu được tiến hành từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2014 tại 14 cơ sở chăm
sóc sức khoẻ cộng đồng. Kết quả thu được là phần lớn số người trả lời (62,1%) cho
biết có tiếp xúc với bạo lực trong 12 tháng trước cuộc điều tra; tiếp xúc với lạm
dụng lời nói, bạo lực thể xác và quấy rối tình dục là 59,8%, 17,2% và 10%. Các thủ
phạm chủ yếu là bệnh nhân / người nhà bệnh nhân [22].
Một nghiên cứu khác về thực trạng và các yếu tố nguy cơ của bạo lực tại nơi làm
việc đối với nhân viên chăm sóc sức khoẻ tại khoa cấp cứu ở Ismailia, Ai Cập của
tác giả Abdellah. Kết quả có 59,7% nhân viên y tế trả lời có bị bạo lực bệnh viện.
Bạo lực bằng miệng được chiếm tỷ lệ nhiều nhất (58,2%), bạo lực thể chất là
15,7%. Các yếu tố gây nên tình trạng bạo lực là thời gian chờ đợi và sự mong đợi
không báo cáo, 38,2% chủ động báo cáo, và 13,8% đã hỏi ý kiến của đồng nghiệp
[5].
Nghiên cứu của Teris Cheung và cộng sự về tình trạng bạo lực tại nơi làm việc
đối với bác sĩ và điều dưỡng ở Ma Cao, Trung Quốc cho thấy có 57,2% đã bị bạo
lực bệnh viện trong năm trước[7].
Trong nghiên cứu của Mingli Jiao và cộng sự năm 2014 trên đối tượng là 588
điều dưỡng tại tỉnh Hắc Long Giang Trung quốc cho kết quả có 7,8% điều dưỡng
trả lời có bị bạo lực thể chất 71,9% cho biết bị bạo lực tinh thần trong năm trước đó.
Người gây bạo lực là bệnh nhân hoặc họ hàng của họ (93,5% và 82%), và 24% các
y tá gặp phải bạo lực phi thể chất liên quan đến tổ chức Yi Nao (nhóm đối tượng
chuyên gây rối tại các bệnh viện) [13].
Các hình thức bạo lực là khác nhau. Nghiên cứu của Teris Cheung và cộng sự về
tình trạng bạo lực tai nơi làm việc đối với bác sĩ và điều dưỡng ở Ma Cao, Trung
Quốc. Thời gian thu thập dữ liệu kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2014. Kết
quả cho thấy có 57,2% đã bị bạo lực bệnh viện trong năm trước. Các hình thức bạo
lực ở nơi làm việc phổ biến nhất là lạm dụng lời nói (53,4%), bạo lực thể xác
(16,1%), bắt nạt / quấy rối (14,2%), quấy rối tình dục (4,6%) và quấy rối chủng tộc
(2,6%). Hầu hết các hành vi bạo lực xảy ra bởi bệnh nhân và người thân, đồng
nghiệp, và người giám sát [7].
Tỷ lệ bạo lực lời nói là tương đối cao trong các nghiên cứu:
Tại châu Phi: Một nghiên cứu về thực trạng và các yếu tố nguy cơ của bạo lực tại
nơi làm việc đối với nhân viên chăm sóc sức khoẻ của khoa cấp cứu ở Ismailia, Ai
Cập của tác giả Abdellah. Kết quả có 59,7% nhân viên y tế trả lời có bị bạo lực
bệnh viện. Bạo lực bằng miệng được chiếm tỷ lệ nhiều nhất (58,2%)[3].
12
Nghiên cứu về tình trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng tại Gambia.
Nghiên cứu được thực hiện trên 219 điều dưỡng bằng cách sử dụng bảng câu hỏi tự
13
Tại châu Á: Có nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ bị bạo lực thể chất tương đối thấp như
nghiên cứu của TerisCheung tỷ lệ bị bạo lực thể chất 16,1%[7].
Trong nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện của trường đại học ở Seoul, Hàn
Quốc năm 2014 là 22,3%[20].
Nghiên cứu về bạo lực tại nơi làm việc của điều dưỡng làm việc tại bệnh viện ở
Iraq của Abu AlRub và cộng sự cho thấy có 49 trong số 116 người tham gia cho
rằng họ đã bị tấn công về thể chất trong công việc [4].
Trong nghiên cứu của Pai HC, Lee S về tình trạng bạo lực bệnh viện của điều
dưỡng viên lâm sàng tại Đài loan năm 2011 cho thấy trong số những người tham gia
có 19,6% đã từng bị bạo lực thể chất, 51,4% bị ngược đãi, 29,8% đã từng bị bắt nạt
/ bạo lực [19].
Ngoài ra nhân viên y tế còn bị một số loại bạo lực khác như: Nghiên cứu của
Teris Cheung và cộng sự về tình trạng bạo lực tại nơi làm việc đối với bác sĩ và điều
dưỡng ở Ma Cao, Trung Quốc. Thời gian thu thập dữ liệu kéo dài từ tháng 8 đến
tháng 12 năm 2014. Kết quả cho thấy quấy rối tình dục (4,6%) và quấy rối chủng
tộc (2,6%) [7]. Trong nghiên cứu này tác giả có chỉ ra các loại bạo lực khác nhau
mà nhân viên y tế gặp phải, tuy nhiên tỷ lệ này lại rất thấp. Trong nghiên cứu của
Pai HC, Lee S về tình trạng bạo lực bệnh viện của điều dưỡng viên lâm sàng tại Đài
loan năm 2011 cho thấy trong số những người tham gia có 12,9% đã từng bị quấy
rối tình dục [19].
Tỷ lệ điều dưỡng viên bị quấy rối tình dục có cao hơn. Nghiên cứu tại Bệnh viện
của trường đại học ở Seoul, Hàn Quốc năm 2014 cho thấy trong tỷ lệ điều dưỡng
viên bị quấy rối tình dục (19,7%) [20].
Đối tượng gây ra bạo lực với nhân viên y tế: Nghiên cứu về tình trạng bạo lực
bệnh viện đối với điều dưỡng tại Gambia, các thủ phạm chủ yếu là bệnh nhân /
người nhà bệnh nhân [22].
Trong nghiên cứu về bạo lực đối với nhân viên y tế tại các Trung tâm Y tế gia
đình ở Saudi Arabia, người gây ra bạo lực đối với nhân viên y tế chủ yếu là bệnh
Hiện nay tình trạng bạo lực trong ngành Y tế đang có xu hướng gia tăng tại Việt
Nam cả về số lượng cũng như tính chất của sự việc. Những vụ việc này ảnh hưởng
nghiêm trọng đến công tác khám chữa bệnh. Hiện nay chúng tôi chưa tìm thấy các
nghiên cứu về tình trạng bạo lực bệnh viện đối với nhân viên y tế nói chung và điều
dưỡng viên nói riêng tại Việt Nam. Tuy nhiên theo thống kê khi bạo lực bệnh viện