1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BỘ Y TẾ
LÊ GIANG LINH
THỰC TRẠNG VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA
CÁN BỘ Y TẾ VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI
BỆNH VIỆN TÂM THẦN TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2018
Chuyên ngành : Quản lý bệnh viện
Mã số
: 60720701
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS VŨ KHẮC LƯƠNG
2. TS. TRẦN QUỲNH ANH
HÀ NỘI - 2018
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CT
: Chất thải
5
DANH MỤC SƠ ĐỒ
6
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, kinh tế xã hội phát triển thì nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của
người dân càng ngày càng được nâng cao. Để đáp ứng nhu cầu đó, các cơ sở y
tế cũng gia tăng một cách nhanh chóng cả về số lượng lẫn quy mô. Tính đến
2012, trên cả nước có 35 226 cơ sở y tế (trong đó có 1065 bệnh viện, 1081
trung tâm y tế, 998 phòng khám đa khoa và ngoài ra còn có các trạm y tế) [1].
Từ các hoạt động chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế, lượng rác thải y tế
phát sinh tại đây cũng ngày càng tăng theo thời gian. Theo thống kê, mức tăng
chất thải y tế hiện nay là 7,6%/năm. Ước tính đến năm 2020 lượng chất thải
rắn y tế (CTRYT) phát sinh sẽ là 800 tấn/ngày. Trong đó có từ 10 – 25% là
chất thải nguy hại [2], nó chứa các tác nhân vi sinh, chất phóng xạ, hóa chất,
các kim loại nặng và các chất độc gây đột biến tế bào là dạng chất thải có thể
gây những tác động tiềm tàng tới môi trường và sức khỏe cộng đồng, đặc biệt
là cán bộ y tế, nhưng người phải tiếp xúc trực tiếp hàng ngày[1].
Tại Việt Nam, nhận thức của cộng đồng nói chung và cán bộ y tế nói
riêng về những nguy cơ tiềm ẩn trong chất thải bệnh viện còn kém. Phương
tiện thu gom, vận chuyển chất thải còn thiếu, chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt
tiêu chuẩn, chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy khi vận chuyển
chất thải y tế nguy hại [3].
Bệnh viện tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập và đi vào hoạt động
từ năm 2006. Năm 2017, bệnh viện đã khám, điều trị cho 12000 lượt bệnh
nhân, trong đó có 11000 bệnh nhân nằm nội trú. Đồng thời bệnh viện thường
8
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Một số khái niệm về chất thải y tế
Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa chất thải y tế là tất cả các loại chất thải
phát sinh trong các cơ sở y tế, bao gồm cả các trung tâm nghiên cứu, phòng
thí nghiệm và các hoạt động y tế tại nhà.
Chất thải y tế (CTYT) là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động
của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông
thường và nước thải y tế [4].
Chất thải y tế nguy hại (CTYTNH) là chất thải y tế chứa yếu tố lây
nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao
gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm [4].
Quản lý chất thải y tế (QLCTYT) là quá trình giảm thiểu, phân định,
phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám
sát quá trình thực hiện [4].
Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát
thải chất thải y tế [4].
Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát
sinh và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên
cơ sở y tế [4].
Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơi
lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử
lý chất thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập
trung hoặc cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất
thải y tế [4].
10
Chất thải lây nhiễm : Chất thải lây nhiễm là loại chất thải chứa các
mầm bệnh (vi khuẩn, virus, kí sinh trùng hoặc nấm) có khả năng gây bệnh
cho con người.
Chất thải lây nhiễm được phân thành 4 loại, bao gồm:
Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các
vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm; bơm liền kim tiêm; đầu sắc
nhọn của dây truyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh; cưa
dùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác.
Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: Chất thải thấm, dính,
chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể, các chất thải phát sinh từ buồng bệnh
cách ly.
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụ
đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các
phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định
số 92/2010.NĐ – CP ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh
học tại phòng xét nghiệm ;
Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác
động vật thí nghiệm.
Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:
Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại;
Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy
hại từ nhà sản suất.
Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và
các kim loại nặng,
Chất hàn răng amalgam thải bỏ.
11
kiến thức và trình độ nhận thức của các đối tượng là không đầy đủ và có sự
thayđổi đáng kể trong thực tế quản lý liên quan đến chất thải y sinh khi được
hỗ trợ về kiến thức. Vì vậy việc cung cấp kiến thức quản lý chất thải y sinh là
một nhu cầu rất lớn để tiếp tục giáo dục và đào tạo trong các chương trình tại
các cơ sở giảng dạy y khoa.
Theo Sarma RK, Shyama S Nagarajan và cộng sự khi nghiên cứu khác
về thái độ và hành vi xử lý chất thải y tế viện khoa học y tế Ấn Độ cho thấy:
Kiến thức đạt của nhà khoa học 86%, y tá 80%, nhân viên vệ sinh 71%. Thái
độ đúng của nhà khoa học 95%, y tá 100%, nhân viên vệ sinh 76%. Thực
hành tốt của nhà khoa học 82%, y tá 100%, nhân viên vệ sinh 48% [10].
Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành của phân loại chất thải y
sinh học trong cán bộ y tế của bệnh viện cấp đại học ở Ấn Độ do Sanni và
cộng sự năm 2005 cho thấy: Kiến thức đúng của bác sỹ là 61%, điều dưỡng là
57%, thái độ đúng của bác sỹ là 70%, điều dưỡng là 98%, thực hành đúng của
bác sỹ là 77%, điều dưỡng là 100% [11].
Kết quả nghiên cứu của Viện chăm sóc sức khỏe Johannesburg về Kiến
thức, thực hành của các bác sỹ và y tá do Basu Debashis, Ramokate Tuduetso
[12] cho thấy: Kiến thức đạt 98,5%, thực hành tốt đạt 95%.
Một nghiên cứu khác của Kishose J và cộng sự năm 2014 với đối tượng
là cán bộ y tế tại 116 viện dưỡng lão ở hai vùng phía Nam và phía Đông Ấn
Độ đã cho thấy 41,7% CBYT có kiến thức đúng về thu gom RTYT để đảm
bảo sức khoẻ, ngăn ngừa lây nhiễm cho cộng đồng. Nghiên cứu phân tích sâu
về kiến thức, thái độ, thực hành của cán bộ y tế đối với thu gom rác thải [13].
Một nghiên cứu kiến thức, nhận thức và thực hành tiêm an toàn và quản lý,
xử lý chất thải y tế trong giảng dạy nhân viên bệnh viện ở phía Đông nam Nigeria
do Enwere, Diwe [14] cho thấy: Chỉ có 45% vẫn đậy nắp kim tiêm sau sử dụng
13
nhưng không phân loại, 54% đã nghe hoặc nhìn thấy mầu hoặc mã thùng. Chỉ có
phân loại, thu gom, vận chuyển đến xử lý ban đầu và xử lý triệt để chất thải y
tế. Việc thu gom, phân loại ngay tại nguồn phát sinh chất thải và xử lý ban
đầu, đặc biệt là chất thải y tế nguy hại sẽ giảm thiểu được nguy cơ lây bệnh
cho NVYT và tiết kiệm rất lớn chi phí cho các cơ sở y tế. Để thực hiện được
điều này, giải pháp hiệu quả là tăng cường nhận thức và thực hành của nhân
viên y tế trong quản lý và xử lý chất thải y tế.
Thời gian gần đây qua thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý Nhà
nước về môi trường đã phát hiện một số bệnh viện chưa làm tốt công tác quản
lý, xử lý đã để một số nhân viên lợi dụng sơ hở đưa một số vật tư y tế đã qua
sử dụng bán ra bên ngoài để tái sử dụng dẫn đến không đảm bảo chất lượng,
vệ sinh gây ra những hậu quả khôn lường cho người tiêu dùng… Để xảy ra
điều này là do nhân viên y tế một phần do lợi ích cá nhân trước mắt, công tác
quản lý CTYT chưa được chặt chẽ, vấn đề tuyên truyền phổ biến chính sách
pháp luật về quản lý chất thải y tế cho cán bộ công nhân viên bệnh viện chưa
được thường xuyên. Để tăng cường công tác quản lý chất thải y tế trong bệnh
viện Bộ Y tế đã ra chỉ thị số 05/CT-BYT ngày 6/7/2015 về việc tăng cường
quản lý chất thải y tế trong bệnh viện.
Một nghiên của Sở y tế Hà Nội tiến hành từ năm 2009 đến 2010 với 74
bệnh viện tại Hà Nội về thu gom, phân loại chất thải y tế cho thấy, nhìn chung
phần lớn các bệnh viện đều đã triển khai theo yêu cầu của quy chế quản lý
chất thải y tế về việc sử dụng bao bì, túi, thùng đựng theo mã màu quy định,
một số bệnh viện chưa thực hiện với lý do: nguồn kinh phí hạn chế…
15
Bảng 1.1. Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải y tế tại các bệnh viện
trên địa bàn Thành phố Hà Nội năm 2010
Các yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế
Tỷ lệ tuân thủ
này ở bác sỹ là 82,4%, ở điều dưỡng là 76,8%. Thái độ đúng chiếm 75,6%, tỷ
lệ này ở bác sỹ là 79,2%, ở điều dưỡng 72,4%. Thực hành đạt là 71,9%, trong
đó ở bác sỹ là 76,8%, điều dưỡng là 67,8% [20].
Theo nghiên cứu của Trần Thị Kiệm năm 2012 về đánh giá thực trạng
thu gom và phân loại CTRYT tại bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, Hải Phòng
16
cho thấy 91,7% CBYT thực hành phân loại CTRYT, 91,6% thực hành đúng
về thu gom rác thải [21].
Một nghiên cứu khác về kiến thức, thái độ và thực hành của điều
dưỡng, hộ lý trong công tác phân loại và thu gom CTRYT tại bệnh viện II
Lâm Đồng của tác giả Hoàng Trung Lập và cộng sự năm 2013 cho thấy: Kiến
thức đạt của điều dưỡng là 99,4%, hộ lý là 97,4% [22]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hồng Điệp năm 2013 về
thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan đến kiến thức,
thực hành của nhân viên y tế Bệnh viện đa khoa Thành phố Vinh cho thấy:
98,3% các khoa, phòng phân loại chất thải theo đúng quy định của Bộ Y tế,
96,7% thực hiện thu gom chất thải y tế đạt. Toàn viện chỉ có 13,3% sử dụng
dụng cụ bao bì đạt, 61% nhân viên hiểu được các khâu phân loại, 76,4% thực
hành phân loại đạt [23].
Qua kết quả nghiên cứu kiến thức, thực hành về phân loại, thu gom chất
thải rắn y tế của cán bộ điều dưỡng Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa năm
2014 của tác giả Hoàng Thị Định cho thấy 84% và 78,3% cán bộ điều dưỡng
có kiến thức và thực hành đạt về phân loại, thu gom chất thải rắn y tế [24].
Theo nghiên cứu của Chu Thị Luyến tại bệnh viện Tim Hà Nội cho
thấy có 89,5% CBYT có kiến thức đạt về quản lý chất thải nhưng chỉ có
81,5% thực hành đúng về phân loại rác thải khi tiêm, thay băng, có 6,9% thực
hành đúng khi phân loại chai, lọ đựng thuốc và chỉ có 75% CBYT thực hành
đúng thu gom chất thải [25].
lớn là cán bộ điều dưỡng trưởng các khoa, phòng có nhiệm vụ giám sát, đề
xuất các biện pháp quản lý chất thải y tế.
* Công tác kiểm tra, giám sát
Công tác kiểm tra giám sát có vai trò quan trọng trong công tác xử lý
rác thải tại bệnh viện. Việc giám sát phải diễn ra liên tục và thường xuyên, từ
nơi phát sinh, phân loại, thu gom và xử lý. Bộ phận được giao giám sát làm
tốt sẽ đảm bảo quá trình xử lý đó được diễn ra thuận lợi và hiện quả. Khoa
Kiểm soát nhiễm khuẩn của bệnh viện có nhiệm vụ chính trong công tác kiểm
tra, giám sát. Khoa có trách nhiệm phối hợp với điều dưỡng trưởng các khoa
18
kiểm tra, giám sát công tác quản lý và xử lý chất thải y tế… định kỳ báo cáo
lên Sở Y tế theo quy định.
Thông qua công tác kiểm tra, giám sát không chỉ làm quá trình thực
hiện tốt hơn mà từ đó còn rút ra được những mặt thuận lợi và hạn chế trong
công tác xử lý rác thải để xây dựng kế hoạch tập huấn, bổ sung kiến thức,
thực hành nhằm đạt kết quả tốt hơn […].
* Công tác tổ chức đào tạo, tập huấn
Do đặc thù ngành y tế, việc học tập, cập nhật kiến thức mới trong công
tác luôn được chú trọng và khích lệ. Nếu việc đào tạo, tập huấn không hoặc
chưa được triển khai sẽ có thể dẫn đến thiếu hụt kiến thức cho nhân viên y tế,
cũng như ảnh hưởng đến kết quả điều trị chăm sóc cho bệnh nhân.
Bên cạnh đó việc tập huấn kiến thức về phân loại, thu gom và xử lý rác
thải cho CBYT mới và các đối tượng học sinh, sinh viên đang học tập và công
tác tại viện cũng rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả công việc xử lý CTYT.
* Trình độ học vấn
Trình độ học vấn liên quan đến thời gian học tập và chương trình học
tập tại các cơ sở đào tạo về y tế. Theo đó, mỗi cấp học, mỗi trình độ học được
tiếp cận với mức độ kiến thức về y học nói chung và kiến thức xử lý CTYT
Thâm niên công tác trong ngành y tế cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến
kiến thức, thực hành của cán bộ y tế trong công tác phân loại, thu gom CTYT.
Theo nghiên cứu về thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức
thực hành của nhân viên Bệnh viện đa khoa Đông Anh năm 2011 do Hoàng
Thị Thúy và cộng sự cho thấy: cán bộ y tế có thâm niên công tác trên 10 năm
thì có kiến thức không đạt cao gấp 2,08 lần so với cán bộ y tế có thâm niên
công tác từ 10 năm trở xuống [19].
Kết quả nghiên cứu của tác giả Lại Thu Trang về thực trạng và một số
yếu tố liên quan đến công tác quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện Hữu Nghị
20
Việt Tiệp, Hải Phòng năm 2012 cho thấy kiến thức về phân loại, thu gom chất
thải có mối liên quan chặt chẽ tới thời gian công tác tại bệnh viện. Người có
thời gian công tác càng lâu thì có kiến thức cao hơn so với những người có
thời gian công tác ít hơn [27].
* Tham gia các khóa đào tạo chuyên môn
Sự tham gia vào các khóa đào tạo, tập huấn về quản lý CTYT dẫn đến
những thay đổi về nhận thức, thực hành của cán bộ y tế trongcông tác phân
loại, thu gom rác thải. Các nghiên cứu trước đây đều cho một phát hiện giống
nhau, đó là các nhân viên y tế tham gia các khóa đào tạo thì có kiến thức và
thực hành đạt cao hơn.
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Chuyên và cộng sự năm
2011 tại 10 bệnh viện khu vực phía bắc trên đối tượng là bác sỹ, dược sỹ, y sỹ
và y tá, hộ lý cho thấy nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự thiếu kiến thức,
thực hành quản lý và xử lý chất thải y tế sai của nhân viên y tế là trình độ học
vấn, thâm niên công tác, tập huấn, số lần tập huấn và thời gian tập huấn.
Những đối tượng có thâm niên công tác lâu năm, trình độ học vấn cao, được
tập huấn thường xuyên thì có kiến thức và thực hành về quản lý và xử lý chất
thải tốt hơn [23].
23
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
-
Địa điểm: Các khoa lâm sàng, cận lâm sàng, khối hành chính và khoa Dược
thuộc Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc.
-
Thời gian nghiên cứu: Từ 1/3/2018 đến 30/5/2019, trong đó thu thập số liệu từ
tháng 9 năm 2018 đến tháng 5/2019.
2.3. Đối tượng nghiên cứu:
-
Đối tượng nghiên cứu: Cán bộ y tế đang làm việc tại các khoa, phòng của
Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Tiêu chuẩn lựa chọn: Toàn bộ cán bộ y tế đang công tác tại các khoa,
phòng của bệnh viện tại thời điểm nghiên cứu.
. Đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Tiêu chuẩn loại trừ:
CBYT không có mặt tại bệnh viện trong thời gian nghiên cứu.
Không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Các cấp quản lý: Đại diện ban giám đốc, lãnh đạo khoa Kiểm soát
nhiễm khuẩn, khoa lâm sàng, khoa cận lâm sàng, hành chính, khoa dược.
(phỏng vấn sâu)
- Sổ sách, tài liệu, hồ sơ có liên quan tới quản lý và xử lý chất thải y tế
+Tiêu chuẩn lựa chọn: các sổ sách, tài liệu, bệnh án, bài báo, báo cáo có
liên quan tới nội dung và chủ đề nghiên cứu.
+ Tiêu chuẩn loại trừ: Tài liệu, thông tin, số liệu không có độ tin cậy cao.
thập thông tin
thông tin
Phát vấn/tự Bộ câu hỏi tự
điền
điền
Phỏng vấn sâu Biên bản ghi
chép/Ghi âm.
Chọn chủ Ban giám đốc;
đích, đại Khoa Kiểm soát
diện
nhiễm khuẩn
Khoa lâm sàng
Khoa cận lâm sàng
Hành chính
Khoa Dược
3 Sổ sách,
Chủ đích Liên quan
Thống kê
tài liệu,
trong 5 năm
hồ sơ
từ năm 2012
đến 2017
2.5. Biến số và chỉ số nghiên cứu
Bảng trống
Bảng 2.1: Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Nhóm
được căn cứ để trả lương
Là bằng cấp chuyên môn Tự điền
cao nhất được căn cứ để
xếp ngạch lương
Là thời gian tính từ lúc
Tự điền
đối tượng nghiên cứu bắt
đầu làm việc trong lĩnh
Phương
pháp
thu thập
Bộ câu
hỏi
Bộ câu
hỏi
Bộ câu
hỏi
Bộ câu
hỏi
Bộ câu
hỏi
25
Tập huấn quy
chế QLCTRYT
Thực trạng
tập huấn
Kiến thức của
vực chuyên môn đến
hiện tại.
Đối tượng nghiên cứu đã Tự điền
được phổ biến, hướng
dẫn về quy chế
QLCTRYT
Số lần đối tượng tham
Tự điền
gia tập huấn quy chế
Đơn vị làm công tác tập Tự điền
huấn quy chế cho đối
tượng
quản lý CTRYT tại Bệnh viện Tâm thần
Là hiểu biết của đối
tượng nghiên cứu về
những ảnh hưởng của
CTRYT đối với sức khỏe
Là hiểu biết của đối
tượng nghiên cứu về
những người dễ bị ảnh
hưởng bởi CTRYT.
Là hiểu biết của đối
tượng về số nhóm và tên
các nhóm CTRYT
Là hiểu biết của đối
tượng về thời điểm phân
loại CTRYT
Là hiểu biết của đối
Tự điền
Bộ câu
hỏi
Tự điền
Tự điền
Bộ câu
hỏi
Bộ câu