ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
-----------
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI
PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI THÀNH
PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
TRẦN HỮU HOÀNG
Niên khóa:2012- 2016
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
-----------
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp để hoàn
thiện công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại
thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
Sinh viên thực hiện: Trần Hữu Hoàng
HTX
: Hợp tác xã
CN – TTCN
: Công nghiệp – tiểu thủ công
CN
: Công nghiệp
SXNN
: Sản xuất nông nghiệp
BVMT
: Bảo vệ môi trường
VSMT
: Vệ sinh môi trường
nghiệp
DANH MỤC CÁC BẢNG
Quảng Trị
-
Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp quản lí chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với
yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
2. Phương pháp nghiên cứu
-
Phương pháp thu thập số liệu
-
Phương pháp chuyên gia chuyên khảo
-
Phương pháp thống kê mô tả
-
Phương pháp điều tra chọn mẫu
3. Các kết quả mà nghiên cứu đạt được
-
Đề tài đã trình bày được tình hình quản lí chất thải rắn sinh hoạt ở Thành phố Đông
trường sẽ làm vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường, dẫn đến ô nhiễm môi
trường trầm trọng.
Theo Tổng cục thống kê (GSO) và Quỹ dân số liên hợp quốc (UNFPA) tại
Việt Nam đến hết năm 2014 dân số Việt Nam khoảng 90,5 triệu người,đứng thứ
mười ba trên thế giới và thứ ba trong khu vực Đông Nam Á, tỉ lệ tăng dân số bình
quân là 1,06%. Cũng theo điều tra có 33,1% dân số Việt Nam sống ở thành thị. Đến
năm 2013 cả nước có khoảng 726 đô thị, trong đó có hai đô thị đặc biệt (TP Hồ Chí
Minh và Hà Nội), 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 63 thành phố trực thuộc tỉnh,
47 thị xã và 615 thị trấn. Tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 3,4%/năm. Trong những năm
qua, rất nhiều thị xã được nâng cấp lên thành phố, nhiều thị trấn nâng cấp thành thị
xã và nhiều thành phố được mở rộng diện tích. Theo Bộ Tài Nguyên và Môi Trường
CTRSH ở các đô thị năm 2010 là hơn 26.000 tấn/ngày. Dự kiến đến năm 2020,
lượng rác thải đô thị phát sinh là 61.000 tấn/ngày. Phần lớn lượng rác phát sinh chủ
yếu tại các thành phố lớn như Hà Nội, TPHCM, Hải Phòng…
Quá trình đô thị hóa và sự gia tăng dân số quá nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều
mặt, dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường và phát triển không bền vững. Lượng
chất thải rắn phát sinh tại các khu công nghiệp và đô thị với nhiều thành phần phúc
tạp đã gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng ở nhiều vùng khác
nhau.
Thành phố Đông Hà được thành lập theo Nghị quyết số 33/NQ – CP của
Chính phủ vào ngày 11 tháng 8 năm 2005. Có thể nói đây là sự kiện có ý nghĩa vô
cùng to lớn đối với thành phố Đông Hà nói riêng và tỉnh Quảng trị nói chung trong
sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ
và những nỗ lực của nhân dân, nền kinh tế Đông Hà đã những phát triển vượt bậc
và đạt được những kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực, đóng góp vào sự tăng
trưởng kinh tế chung của toàn tỉnh.
Là một thành phố mới được thành lập, so với nhiều thành phố khác trên cả
nước, Đông Hà là thành phố có tiềm năng phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch
môi trường và phát triển bền vững
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài là các địa điểm mà chất thải rắn sinh hoạt
phát sinh như: các hộ gia đình, các cơ quan, trường học, các chợ…
Tất cả các đối tượng trên đều có liên quan tới phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
trên địa bàn. Đề tài tiến hành sẽ điều tra phỏng vấn 50 hộ gia đình về công tác quản
lý CTRSH trên địa bàn Thành phố Đông Hà.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
-
Phạm vi không gian: Nghiên cứu này được thực hiện trên địa bàn Thành phố Đông
-
Hà – Tỉnh Quảng Trị
Phạm vi thời gian: số liệu điều tra từ năm 2010 - 2016
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
-
Các số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội,thực trạng rác thải trên địa
bàn nghiên cứu… Các báo cáo của Phòng Tài Nguyên và Môi Trường Thành phố
Đông Hà, Công ty TNHH MTV Môi Trường Công trình Đô thị Đông Hà, Phòng
-
4.4 Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp này được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu
thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau. Trong phạm
vi đề tài này phương pháp được trình bày thực trạng quản lí rác thải tại Thành phố
Đông Hà nhằm khái quát định hướng mục tiêu và những giải pháp chủ yếu nhằm
mục đích nâng cao hiệu quả quản lí rác thải trên địa bàn nghiên cứu
4.5 Phương pháp điều tra chọn mẫu
Điều tra chọn mẫu là điều tra không toàn bộ. Từ tổng thể hiện tượng cần
nghiên cứu người ta chọn ra một số đơn vị mang tính chất đại biểu cho tổng thể
điều tra. Kết quả điều tra được dung suy rộng cho tổng thể. Trong phạm vi nghiên
cứu của đề tài này, tôi đã chọn ra 50 mẫu để đại diện cho tổng thể nghiên cứu.
PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về CTRSH
a, Khái niệm về chất thải rắn (CTR)
CTR là toàn bộ các vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động KT –
XH của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự
tồn tại của cộng đồng...). Quan trọng nhất là các chất thải sinh ra từ các hoạt động
sản xuất và các hoạt động sống như CTRSH, chất thải rắn nông nghiệp, công
nghiệp.
Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại.
b, Khái niệm chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt: là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con
người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các
thu gom rác của thành phố, đô thị... giai đoạn này có sự tham gia của người dân và
có sự ảnh hưởng lớn đến hiệu quả thu gom. Hệ thống thu gom này chủ yếu bằng thủ
công bao gồm thu gom rác đường phố và rác từ các hộ dân cư.
Thu gom thứ cấp: Là quá trình thu gom từ những thiết bị thu gom của thành
phố đưa đến nơi tái chế, xử lý (nhà máy tái chế dẻo, PVC, PE, phân hữu cơ hay bãi
chôn lấp,...). Trong đó bao gồm rác thải được các xe chuyên dùng chở đến các nhà
máy xử lý đến bãi chôn lấp những nhà máy tái chế.
b. Quản lý CTR
Quản lý CTR là các hoạt động thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng,
tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải và phải quản lý được các vấn đề sau:
+Xác định nguồn, lượng phát sinh, thành phần CTR của nguồn phát sinh.
+Thu gom các chất thải.
+Phương tiện vận chuyển: loại phương tiện, số lượng để vận chuyển và số
điểm để chuyển rác đến.
+Xử lý chất thải này ở đâu và bằng cách nào.
+Công nghệ xử lý các quá trình này.
+Trong chất thải ấy chất nào có thể tái chế được và ai thu gom, cơ sở nào tái
chế.
+Có chiến lược giảm thiểu tại nguồn và bằng cách nào, được bao nhiêu. Kinh
phí để xử lý CTR đối với các khâu trên là bao nhiêu và từ nguồn nào.
+Có kế hoạch quản lý chất thải và tiến độ rõ ràng.
c. Tái sử dụng CTR
Tái sử dụng là một hoạt động thu hồi chất thải có trong thành phần của CTR
đô thị sau đó được chế biến thành những sản phẩm mới phục vụ cho sản xuất và
sinh hoạt.
1.1.3 Nguồn gốc, thành phần chất thải rắn sinh hoạt
1.1.3.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Hiện nay, chất thải rắn đô thị ngày càng gia tăng do tác động của sự bùng nổ
nhựa, kim loại hay các chất thải nguy
trạm sửa chữa.
Nhà máy chế biến thực
hại.
phẩm, nhà máy sản xuất
Các loại rác thải từ các thực phẩm chế
vật liệu xây dựng, nhà
biến, các vật liệu xây dựng và các loại
máy sản xuất hàng tiêu
rác thải nguy hại.
dùng...
Trường học, bệnh
Giấy, các sản phẩm bằng nhựa, thủy
viện,văn phòng, công sở tinh, kim loại và một số ít chất thải
nhà nước.
Đường phố, công viên,
nguy hại.
Thực phẩm dư thừa, thối rửa, các rác
nông trại và các vườn
thải nguy hại như bao bì hay chai lọ
cây ăn quả.
đựng thuốc trừ sâu.
(Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ và cộng sự, 2001)
1.1.3.2 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt
Thành phần của rác thải tại từng quốc gia, khu vực là rất khác nhau, tùy thuộc
vào trình độ phát triển kinh tế, khoa học, kĩ thuật, tính chất tiêu dung và nhiều yếu
tố khác. Tùy theo cách phân loại, mỗi loại rác thải có một số thành phần đặc trưng
nhất định. Có rất nhiều thành phần chất thải rắn trong các rác thải có khả năng tái
chế, tái sinh. Vì vậy việc xác định thành phần của chất thải rắn có ảnh hưởng rất lớn
đến sự lựa chọn phương pháp xử lý, thu hồi và tái chế, hệ thống, phương pháp và
quy trình thu gom.
Bảng 2: Thành phần chất thải rắn sinh hoạt theo tính chất vật lý
Thành phần
% Trọng lượng
Khoảng giá trị
Trung bình
Chất thải thực phẩm
0–2
0,5
Da vụn
0–2
0,5
Rác làm vườn
0 – 20
12
Gỗ
1–4
2
Thủy tinh
4 – 16
8
Can hộp
cư và thương mại có thành phần rác thải đặc trưng là chất thải thực phẩm, giấy,
carton, nhựa, vãi, cao su, rác vườn, gỗ, nhôm… Rác thải từ dịch vụ như rửa đường,
hẻm phố chứa bụi, rác, xác động vật…
Bảng 3: Hàm lượng C, H, O, N trong CTR
Tính theo phần trăm trọng lượng khô
STT
Thành phần
1
Carbon
Hydro
Oxy
Nitơ
Tro
Lưu
huỳnh
Thực phẩm
48.00
6.40
5.90
44.60
0.30
5.00
0.20
4
Plastic
60.00
7.20
22.80
-
10.00
-
5
Vải
Da
60.00
8.00
11.6
10.0
10.00
0.40
8
Rác làm vườn
47.80
6.00
38.0
3.40
4.50
0.30
0.20
(Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ và cộng sự, 2001)
Qua số liệu ở bảng 3 ta thấy rằng, các thành phần hóa học trong rác thải sinh
hoạt chủ yếu là cacbon và oxy. Tỷ lệ Cacbon rất lớn, dao động từ 44,0% - 78%, còn
tỉ lệ Oxy dao động từ 11,6% - 44,6%, còn lại là các thành phần khác
Nếu rác thải đô thị phân hủy một cách vô tổ chức thì môi trường, đặc biệt là
nguồn nước sẽ bị ô nhiễm một cách nghiêm trọng. Ngược lại, nếu chúng được xử lí
thì thành phần hữu cơ trong rác thải sẽ chính là nguồn dinh dưỡng khổng lồ, giúp
tạo ra sự cân bằng về sinh thái.
1.1.4 Tác động của chất thải rắn sinh hoạt đến sức khỏe con người và môi trường
1.1.4.1 Tác động của chất thải rắn sinh hoạt đến sức khỏe con người
Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các đô thị nếu không được thu gom và xử
lí đúng cách sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng dân cư
và làm mất mỹ quan đô thị.
Thành phần chất thải rắn sinh hoạt rất phức tạp, trong đó có chứa các mầm
bệnh từ người hoặc gia súc, các chất thải hữu cơ, xác súc vật chết… tạo điều kiện
tốt cho muỗi, chuột, ruồi… sinh sản và lây mầm bệnh cho con người, nhiều lúc trở
thành dịch.
Một số vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng… tồn tại trong rác có thể gây
bệnh cho con người như bệnh: sốt rét, bệnh ngoài da, dịch hạch, thương hàn, tiêu
chảy, giun sán, lao…
Phân loại, thu gom và xử lí không đúng cách là nguy cơ gây bệnh cho công
nhân vệ sinh, người bới rác, nhất là khi gặp phải chất thải rắn nguy hại từ y tế, công
nghiệp như: kim tiêm, ống chích, mầm bệnh… Mặt khác, việc xử lí rác thải nếu
không có biện pháp xử lí triệt để, các chất ô nhiễm dạng rắn có thể dịch chuyển
hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày càng bị
suy thoái, diện tích đất bình quân trên đầu người giảm.Vì vậy suy thoái tài nguyên
đất do chất thải rắn sinh hoạt là rất đáng lo ngại và nghiêm trọng.
Môi trường nước
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hóa học –
sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể rắn, lỏng làm cho nguồn nước
trở nên độc hại với con người và sinh vật.
Lượng rác thải không được thu gom hoặc rơi vãi nhiều, ứ động lâu ngày, khi
gặp mưa rác thải sẽ theo dòng nước chảy, các chất độc hòa tan trong nước, qua cống
rãnh, ao, hồ, sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nước mặt tiếp nhận.
Rác thải không thu gom hết ứ đong trong các ao, hồ là nguyên nhân gây mất
vệ sinh và ô nhiễm các thủy vực. Khi các thủy vực bị ô nhiễm hoặc chứa nhiều rác
thì có nguy cơ ảnh hưởng đến các loài sinh vật, do hàm lượng oxy hòa tan trong
nước giảm, khả năng nhận ánh sang của các tầng nước cũng giảm, dẫn đến ảnh
hưởng đến khả năng quang hợp của thực vật thủy sinh và làm giảm sinh khối các
thủy vực.
Các loại rác thải sinh hoạt phân hủy tạo ra các yếu tố độc hại ngấm dần vào
trong đất làm ô nhiễm nước ngầm trong khu vực.
Tại các bãi rác, nếu không tạo đưcc lớp phủ đảm bảo để hạn chế tối đa mức
mưa thấm qua thì cũng có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt.
Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề
đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.
Môi trường không khí
Ô nhiễm môi trường không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi
quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra
sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa do bụi
Rác thải hữa cơ phân hủy tạo ra mùi và các khí độ hại như CH 4,CO2,NH3…
0,1 – 1,0
SOx, NH2, Mercaptan…
0 – 1,0
H2
0 – 0,2
CO
0 – 0,2
Chất hữu cơ bay hơi
0,01 – 0,6
(Nguồn: Handbook of Soil Waste Management, 1994)
Rác thải làm giảm mỹ quan đô thị
Rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lí hay thu
gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ lộ thiên…đều
là những hình ảnh gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng đến mỹ quan
đường phố, thôn xóm.
Tình trạng mất mỹ quan đô thị chủ yếu là do ý thức của con người chưa cao.
Tình trạng vứt rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương, rãnh vẫn còn phổ biến.
Do tính chất quan trọng của chất thải rắn nên cần phải có một hệ thống quản lí
chất thải rắn hiệu quả để khống chế ô nhiễm. Hiệu quả hoạt động của hệ thống quản
lý trong lĩnh vực này tác động hàng ngày, hàng giờ đến chất lượng cuộc sống của
mỗi một người dân trên địa bàn thành phố. Việc xây dựng đồng bộ hệ thống quản lý
chất thải rắn, bao gồm quản lý hành chính (cơ cấu tổ chức, văn bản pháp luật, nhân
lực và tài chính công) và kỹ thuật – công nghệ (thu gom, trung chuyển và vận
chuyển, tái chế và xử lý, chôn lấp vệ sinh) sẽ quyết định hiệu quả trên, và giữa
chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau.
1.1.5.3 Tổng quan về vấn đề phân loại, thu gom và xử lí CTRSH
a. Phân loại CTRSH
Phân loại CTRSH là quá trình tách riêng biệt các thành phần có trong RTSH,
nhằm chuyển chất thải từ dạng hỗn tạp sang dạng tương đối đồng nhất. Qúa trình
này cần thiết để thu hồi những thành phần có thể tái sinh có trong RTSH, tách riêng
những thành phần mang tính nguy hại và những thành phần có khả năng thu hồi
năng lượng.
Nhằm tách lọc ra những thành phần khác nhau phục vụ cho công tác thu gom
và xử lí được thuận tiện hơn cũng như để phục vụ cho công tác tái chế, tái sử dụng.
Các hình thức tổ chức phân loại rác thải sinh hoạt
- Phân loại rác sinh hoạt tại nguồn
Rác thải hiện nay đang là một vấn đề nan giải của xã hội và môi trường, phân
loại rác thải tại nguồn nếu được thực hiện tốt sẽ làm giảm chi phí, tạo thuận lợi cho
quá trình xử lí, tái chế và làm giảm tác động tới môi trường.
Phân loại rác tại nguồn phát sinh được hiểu là các loại chất thải cùng loại,
cùng giá trị sử dụng, tái chế hay xử lí…được phân chia và chứ riêng biệt. Ví dụ,
thống thường tại mỗi hộ gia đình hay công sở, mỗi đơn vị, chất thải như các loại
can, hộp, chai lọ có thể chứa trong một thùng hay túi nhựa màu vàng; loại giấy hay
sách báo, carton được chứa trong một thùng hay túi nhựa màu xanh; loại bao gói
-
xử lý. Những phương pháp xử lý chính là tái chế, đốt, chôn lấp, làm phân rác. Tuỳ