THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH của cán bộ y tế TRONG xử lý CHẤT THẢI rắn y tế và một số yếu tố LIÊN QUAN tại BỆNH VIỆN tâm THẦN TỈNH VĨNH PHÚC năm 2018 - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

LÊ GIANG LINH

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA
CÁN BỘ Y TẾ TRONG XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN
TÂM THẦN TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2018
Chuyên ngành : Quản lý bệnh viện
Mã số
: 60720701
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS VŨ KHẮC LƯƠNG

HÀ NỘI - 2018


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CT

: Chất thải

CTR

: Chất thải rắn


1.5. Đặc điểm của Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc..............................17
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...................18
2.1. Khung lý thuyết nghiên cứu..................................................................18
2.3. Đối tượng nghiên cứu...........................................................................19
2.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................19
2.4.1.Thiết kế nghiên cứu.........................................................................19
2.4.2. Cỡ mẫu nghiên cứu........................................................................20
2.5. Biến số và chỉ số nghiên cứu................................................................20
2.6. Một số tiêu chuẩn đánh giá, phân loại trong nghiên cứu......................25
2.6.1. Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thực hành của cán bộ y tế.............25
2.6.2. Tiêu chuẩn phân loại theo thời gian công tác.................................26
2.7. Phương pháp và công cụ thu thập số liệu.............................................26
2.7.1. Đánh giá kiến thức của cán bộ y tế................................................27
2.7.2. Đánh giá thực hành của cán bộ y tế................................................27
2.8. Xử lý và phân tích số liệu.....................................................................28
2.9. Sai số và cách khắc phục sai số.............................................................29


2.10. Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu.....................................................29
2.11. Hạn chế của nghiên cứu......................................................................30
Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..........................................31
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu............................................31
3.2. Kiến thức quản lý về phân loại, thu gom chất thải rắn y tế...................32
3.3. Quan sát thực hành về phân loại chất thải rắn y tế................................33
3.4. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về phân loại và thu gom
chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018.......36
3.4.1. Kiến thức về phân loại, thu gom CTRYT tại Bệnh viện Tâm thần
tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018............................................................36
3.4.2. Thực hành về phân loại, thu gom CTRYT tại bệnh viện tâm thần
tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018............................................................38

CTRYT.........................................................................................37
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa thâm niên công tác với kiến thức về quản lý CTYT. .37
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa tham gia các khóa đào tạo với kiến thức về
quản lý CTYT...............................................................................37
Bảng 3.14. Mối liên quan giữa trình độ chuyên môn với thực hành về phân
loại CTRYT..................................................................................38
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa nhóm tuổi với thực hành về phân loại CTRYT....38
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa giới tính với thực hành về phân loại CTRYT.....38
Bảng 3.17. Mối liên quan giữa bộ phận công tác với thực hành về phân loại CTY 39
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa thâm niên công tác với thực hành về phân loại CTYT. 39
Bảng 3.19. Mối liên quan giữa tham gia các khóa đào tạo với thực hành về
phân loại CTYT...........................................................................39
Bảng 3.20. Liên quan giữa kiến thức với thực hành về phân loại CTRYT.. .39


DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1. Khung lý thuyết của nghiên cứu....................................................18


1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay, kinh tế xã hội phát triển thì nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của
người dân càng ngày càng được nâng cao. Để đáp ứng nhu cầu đó, các cơ sở y
tế cũng gia tăng một cách nhanh chóng cả về số lượng lẫn quy mô. Tính đến
2012, trên cả nước có 35 226 cơ sở y tế (trong đó có 1065 bệnh viện, 1081
trung tâm y tế, 998 phòng khám đa khoa và ngoài ra còn có các trạm y tế) [1].
Từ các hoạt động chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế, lượng rác thải y tế
phát sinh tại đây cũng ngày càng tăng theo thời gian. Theo thống kê, mức tăng

hành của CBYT trong bệnh viện về xử lý CTYT ra sao? Có những y tế tố nào
tác động đến kiến thức, thực hành của CBYT về vấn để đó. Để trả lời cho câu
hỏi đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng kiến thức, thực hành
của cán bộ y tế trong xử lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại
Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018”.Với 2 mục tiêu:
1.

Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành của CBYT trong xử lý chất
thải rắn tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018.

2.

Phân tích một số yếu tố liên quan tới kiến thức, thực hành của
CBYT trong xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Tâm thần tỉnh
Vĩnh Phúc năm 2018.


3


4

Chương 1
TỔNG QUAN

1.1. Một số khái niệm về chất thải y tế
Chất thải (CT): Là những vật chất được thải bỏ sinh ra trong quá trình
hoạt động sản xuất, ăn uống, sinh hoạt của con người.
Chất thải rắn (CTR): Là tất cả chất thải không phải nước thải và khí thải.
Chất thải y tế (CTYT): Là tất cả vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải

+ Môi trường nuối cấy từ phòng thí nghiệm.
+ Rác từ phòng mổ nhất là phòng mổ tử thi và bệnh nhân bị nhiễm trùng.
+ Rác từ phòng cách ly bệnh nhân bị nhiễm trùng.
+ Súc vật được tiêm truyền trong phòng thí nghiệm
+ Dụng cụ hoặc vật tiếp xúc với bệnh nhân bị truyền nhiễm.
+ Chất thải sắc nhọn có thể rách hoặc làm tổn thương da như: dao mổ,
kim tiêm…
- Thuốc thải loại: Gồm thuốc quá hạn, vắcxin huyết thanh kể cả chai lọ
đựng chúng…
- Chất thải có độc tính với tế bào: Có thể làm biến đổi gen, gây quái
thai như các thuốc chống ung thư
- Hóa chất có thể dưới dạng rắn, lỏng, khí.
- Rác chứa kim loại nặng, độc như chì, thủy ngân
- Các bình chứa khí nén: Bình Oxy…
- Chất phóng xạ: như tia Xquang…[7],[8]


6
1.2.2. Phân loại chất thải y tế tại Việt Nam
* Phân loại theo dạng tồn tại của chất thải
Tùy theo dạng tồn tại, CTYT được chia thành 3 loại:
Chất thải rắn y tế.
Nước thải y tế
Chất thải khí y tế
- Chất thải rắn y tế:
Chất thải rắn y tế (CTRYT) là chất thải ở thể rắn phát sinh từ các hoạt
động chẩn đoán, xét nghiệm, khám chữa điều trị, các nghiên cứu liên quan…
bao gồm chất thải thông thường và chất thải nguy hại.
Chất thải rắn y tế sau khi phát sinh tại các nguồn được phân loại, thu
gom, sau đó được vận chuyển nội bộ đến nơi lưu giữ tại các cơ sở y tế. Tiếp

trong các phòng xét nghiệm như bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh
phẩm, túi đựng máu, hống cầu, huyết tương.
Chất thải phát sinh từ buồng bệnh nhân truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm:
Mọi chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách li (bệnh nhân SARS, cúm A…).
+ Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô bệnh phẩm của cơ thể
(dù nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn); Các cơ quan, bộ phận cơ thể
người; Rau thai, bào thai.
- Chất thải hóa học nguy hại


8
+ Chất thải dược phẩm bao gồm: Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất
không còn khả năng sử dụng, dược phẩm bị nhiễm khuẩn, các loại huyết
thanh, vắc xin sống giảm độc lực cần thải bỏ…
+ Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế như: Các hóa chất khử
khuẩn sử dụng để làm sạch và khử trùng thiết bị… Các chất quang hóa học,
hóa chất vô cơ.
+ Chất thải chứa chất gây độc tế bào: Thuốc gây độc tế bào được sử
dụng trong quá trình điều trị ung thư và ghép tạng. Các chất gây độc tế bào có
thể tồn tại trong nước tiểu, phân, nôn từ các bệnh nhân được xét nghiệm hoặc
điều trị ít nhất 48h cho đến 1 tuần sau khi tiêm thuốc. Các chất gây độc tế bào
rất nguy hiểm có thể gây đột biến gen, quái thai và ung thư.
+ Chất thải chứa kim loại nặng: Là những hóa chất nguy hiểm, có độc
tính cao như thủy ngân, chì hay một số thuốc có chứa thạch tín.
- Chất thải phóng xạ
Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát
sinh từ các hoạt động liên quan đến bệnh nhân trong quá trình sử dụng hạt
nhân, phóng xạ để chẩn đoán và điều trị như các chất bài tiết, nước rửa tay;
các đồ dùng cá nhân như cốc, quần áo…
- Bình chứa áp suất

chuyển và xử lý chất thải y tế, hay các biện pháp làm giảm thiểu, tái sử dụng
chất thải y tế [9].
Tại một cơ sở giảng dạy nha khoa ở Ấn Độ, khi đánh giá kiến thức và
nhận thức việc quản lý chất thải y tế của nhân viên y tế (NVYT) và sinh viên
y khoa cho thấy không có nhiều người chú ý đến việc quản lý chất thải nhưng
hầu hết các đối tượng đồng ý với thực tế rằng việc tiếp xúc với chất thải y tế


10
nguy hại có thể gây bệnh hoặc nhiễm trùng. Các kết quả kiểm tra cho thấy
kiến thức và trình độ nhận thức của các đối tượng là không đầy đủ và có sự
thay đổi đáng kể trong thực tế quản lý liên quan đến chất thải y sinh khi được
hỗ trợ về kiến thức. Vì vậy việc cung cấp kiến thức quản lý chất thải y sinh là
một nhu cầu rất lớn để tiếp tục giáo dục và đào tạo trong các chương trình tại
các cơ sở giảng dạy y khoa.
Theo Sarma RK, Shyama S Nagarajan và cộng sự khi nghiên cứu khác
về thái độ và hành vi xử lý chất thải y tế viện khoa học y tế Ấn Độ cho thấy:
Kiến thức đạt của nhà khoa học 86%, y tá 80%, nhân viên vệ sinh 71%. Thái
độ đúng của nhà khoa học 95%, y tá 100%, nhân viên vệ sinh 76%. Thực
hành tốt của nhà khoa học 82%, y tá 100%, nhân viên vệ sinh 48% [10].
Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành của phân loại chất thải y
sinh học trong cán bộ y tế của bệnh viện cấp đại học ở Ấn Độ do Sanni và
cộng sự năm 2005 cho thấy: Kiến thức đúng của bác sỹ là 61%, điều dưỡng là
57%, thái độ đúng của bác sỹ là 70%, điều dưỡng là 98%, thực hành đúng của
bác sỹ là 77%, điều dưỡng là 100% [11] .
Kết quả nghiên cứu của Viện chăm sóc sức khỏe Johannesburg về Kiến
thức, thực hành của các bác sỹ và y tá do Basu Debashis, Ramokate Tuduetso
[12] cho thấy: Kiến thức đạt 98,5%, thực hành tốt đạt 95%.
Một nghiên cứu khác của Kishose J và cộng sự năm 2014 với đối tượng
là cán bộ y tế tại 116 viện dưỡng lão ở hai vùng phía Nam và phía Đông Ấn

thích hợp của việc nâng cao kiến thức. Quản lý chất thải y sinh học phải được
thực hiện nghiêm túc và giám sát có hệ thống.


12
1.3.2. Kiến thức, thực hành trong xử lý chất thải y tế tại Việt Nam
Việc quản lý chất thải y tế ngày càng được xã hội quan tâm đặc biệt là
các chất thải có chứa mầm bệnh.Chất thải y tế nếu khôngđược quản lý, xử lý
tốt sẽ là nguồn lây nhiễmnguy hiểm cho con người. Để quản lý hiệu quản chất
thải y tế, cần thực hiện đồng bộ nhiều khâu từ khi chất thải phát sinh cần được
phân loại, thu gom, vận chuyển đến xử lý ban đầu và xử lý triệt để chất thải y
tế. Việc thu gom, phân loại ngay tại nguồn phát sinh chất thải và xử lý ban
đầu, đặc biệt là chất thải y tế nguy hại sẽ giảm thiểu được nguy cơ lây bệnh
cho NVYT và tiết kiệm rất lớn chi phí cho các cơ sở y tế. Để thực hiện được
điều này, giải pháp hiệu quả là tăng cường nhận thức và thực hành của nhân
viên y tế trong quản lý và xử lý chất thải y tế.
Thời gian gần đây qua thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý Nhà
nước về môi trường đã phát hiện một số bệnh viện chưa làm tốt công tác quản
lý, xử lý đã để một số nhân viên lợi dụng sơ hở đưa một số vật tư y tế đã qua
sử dụng bán ra bên ngoài để tái sử dụng dẫn đến không đảm bảo chất lượng,
vệ sinh gây ra những hậu quả khôn lường cho người tiêu dùng… Để xảy ra
điều này là do nhân viên y tế một phần do lợi ích cá nhân trước mắt, công tác
quản lý CTYT chưa được chặt chẽ, vấn đề tuyên truyền phổ biến chính sách
pháp luật về quản lý chất thải y tế cho cán bộ công nhân viên bệnh viện chưa
được thường xuyên. Để tăng cường công tác quản lý chất thải y tế trong bệnh
viện Bộ Y tế đã ra chỉ thị số 05/CT-BYT ngày 6/7/2015 về việc tăng cường
quản lý chất thải y tế trong bệnh viện.
Một nghiên cứu gần đây của Sở y tế Hà Nội tiến hành từ năm 2009 đến
2010 với 74 bệnh viện tại Hà Nội về thu gom, phân loại chất thải y tế cho thấy,
nhìn chung phần lớn các bệnh viện đều đã triển khai theo yêu cầu của quy chế

Khúc Thị Kim Nguyệt và cộng sự [18] cho thấy: Kiến thức chung đạt 79,5%.
Thái độ đúng 83,1%. Hành vi tốt là 82,9%.
Kết quả nghiên cứu về thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và kiến
thức, thực hành của NVYT Bệnh viện đa khoa Đông Anh năm 2011 do Hoàng
Thị Thúy và cộng sự [19] cho thấy: Kiến thức chung đạt về quản lý chất thải
86.6%. Thực hành tốt phân loại chất thải 82.4%.Những người có kiến thức tốt
hơn thì thực hành tốt hơn.
Nghiên cứu thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của NVYT trong
quản lý và xử lý chất thải y tế tại 10 bệnh viện khu vực phía Bắc do Nguyễn
Văn Chuyên và cộng sự năm 2012 cho thấy: Kiến thức đạt chiếm 79,4%, tỷ lệ
này ở bác sỹ là 82,4%, ở điều dưỡng là 76,8%. Thái độ đúng chiếm 75,6%, tỷ
lệ này ở bác sỹ là 79,2%, ở điều dưỡng 72,4%. Thực hành đạt là 71,9%, trong
đó ở bác sỹ là 76,8%, điều dưỡng là 67,8% [20].


14
Theo nghiên cứu của Trần Thị Kiệm năm 2012 về đánh giá thực trạng
thu gom và phân loại CTRYT tại bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, Hải Phòng
cho thấy 91,7% CBYT thực hành phân loại CTRYT, 91,6% thực hành đúng
về thu gom rác thải [21].
Một nghiên cứu khác về kiến thức, thái độ và thực hành của điều
dưỡng, hộ lý trong công tác phân loại và thu gom CTRYT tại bệnh viện II
Lâm Đồng của tác giả Hoàng Trung Lập và cộng sự năm 2013 cho thấy: Kiến
thức đạt của điều dưỡng là 99,4%, hộ lý là 97,4% [22].
Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hồng Điệp năm 2013 về
thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan đến kiến thức,
thực hành của nhân viên y tế Bệnh viện đa khoa Thành phố Vinh cho thấy:
98,3% các khoa, phòng phân loại chất thải theo đúng quy định của Bộ Y tế,
96,7% thực hiện thu gom chất thải y tế đạt. Toàn viện chỉ có 13,3% sử dụng
dụng cụ bao bì đạt, 61% nhân viên hiểu được các khâu phân loại, 76,4% thực

mái che, trong đó có 45,3% đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải.
* Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo
Quá trình phân loại, thu gom, xử lý CTYT ở các bệnh viện chị ảnh
hưởng rất nhiều từ sự quan tâm và chỉ đạo của lãnh đạo bệnh viện. Khi có sự
quan tâm, ủng hộ của lãnh đạo bệnh viện thì việc đề xuất các khóa học, tập
huấn, việc trang bị những phương tiện làm việc cùng với trang bị bảo hộ lao
động được đầu tư hơn. Từ đó đảm bảo đầy đủ về nhân lực, vật lực và chi phí
để đảm bảo công tác xử lý đó sẽ đảm bảo đạt kết quả cao.
Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh
viện xây dựng đường lối, chính sách phát triển và vận hành hệ thống xử lý rác
thải tại bệnh viện. Mạng lưới kiểm soát nhiễm khuẩn với các thành viên phần
lớn là cán bộ điều dưỡng trưởng các khoa, phòng có nhiệm vụ giám sát, đề
xuất các biện pháp quản lý chất thải y tế….
* Công tác kiểm tra, giám sát


16
Công tác kiểm tra giám sát có vai trò quan trọng trong công tác xử lý
rác thải tại bệnh viện. Việc giám sát phải diễn ra liên tục và thường xuyên, từ
nơi phát sinh, phân loại, thu gom và xử lý. Bộ phận được giao giám sát làm
tốt sẽ đảm bảo quá trình xử lý đó được diễn ra thuận lợi và hiện quả. Khoa
Kiểm soát nhiễm khuẩn của bệnh viện có nhiệm vụ chính trong công tác kiểm
tra, giám sát. Khoa có trách nhiệm phối hợp với điều dưỡng trưởng các khoa
kiểm tra, giám sát công tác quản lý và xử lý chất thải y tế… định kỳ báo cáo
lên Sở Y tế theo quy định.
Thông qua công tác kiểm tra, giám sát không chỉ làm quá trình thực
hiện tốt hơn mà từ đó còn rút ra được những mặt thuận lợi và hạn chế trong
công tác xử lý rác thải để xây dựng kế hoạch tập huấn, bổ sung kiến thức,
thực hành nhằm đạt kết quả tốt hơn.


với nữ giới hơn là nam giới
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Chuyên và cộng sự năm 2012,
nghiên cứu cho thấy nữ giới có tỷ lệ kiến thức đạt cao gấp 1,4 lần nam giới [23].
* Bộ phận công tác
Mỗi một bộ phận khác nhau sẽ liên quan khác nhâu đến sự phát sinh
CTYT. Từ đó thái độ với CBYT với xử lý rác thải cũng khác nhau.
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Tĩnh năm 2012 về
kiến thức, thái độ, thực hành về xử lý chất thải y tế của nhân viên bệnh viện
huyện, tỉnh Kiên Giang và một số yếu tố liên quan cho thấy nhân viên y tế
thực hành đúng ở khối lâm sàng và cận lâm sàng chiếm tỷ lệ tương đối cao
tương ứng 76,8% và 89,5% so với khối hành chính là 66% [26].


18
* Thâm niên công tác
Thâm niên công tác trong ngành y tế cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến
kiến thức, thực hành của cán bộ y tế trong công tác phân loại, thu gom CTYT.
Theo nghiên cứu về thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức
thực hành của nhân viên Bệnh viện đa khoa Đông Anh năm 2011 do Hoàng
Thị Thúy và cộng sự cho thấy: cán bộ y tế có thâm niên công tác trên 10 năm
thì có kiến thức không đạt cao gấp 2,08 lần so với cán bộ y tế có thâm niên
công tác từ 10 năm trở xuống [19].
Kết quả nghiên cứu của tác giả Lại Thu Trang về thực trạng và một số
yếu tố liên quan đến công tác quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện Hữu Nghị
Việt Tiệp, Hải Phòng năm 2012 cho thấy kiến thức về phân loại, thu gom chất
thải có mối liên quan chặt chẽ tới thời gian công tác tại bệnh viện. Người có
thời gian công tác càng lâu thì có kiến thức cao hơn so với những người có
thời gian công tác ít hơn [27].
* Tham gia các khóa đào tạo chuyên môn
Sự tham gia vào các khóa đào tạo, tập huấn về quản lý CTYT dẫn đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status