1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
HOÀNG THỊ HỒNG XUYẾN
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA ĐIỀU DƯỠNG VỀ AN TOÀN
NGƯỜI BỆNH TRONG CHĂM SÓC SAU PHẪU THUẬT
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN
ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
2
HÀ NỘI - 2017
3
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Các Quý Thầy, Cô trong Bộ môn Tổ chức Quản lý y tế, Viện Đào tạo Y
học dự phòng – Y tế công cộng đã trực tiếp giảng dạy, truyền thụ kiến thức,
kinh nghiệm cho tôi trong suốt thời gian học tập, rèn luyện tại nhà trường và
đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận
văn này.
Các phòng, ban của Viện đào tạo Y học dự phòng – Y tế công cộng,
Trường Đại học Y Hà Nội và của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã tạo điều
kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin xin dành trọn tình yêu thương và lòng biết ơn sâu sắc
sâu sắc tới cha mẹ, anh chị em và bạn bè đồng nghiệp đã luôn giúp đỡ, động
viên, khuyến khích, tạo mọi điều kiện giúp tôi học tập.
Tôi xin ghi nhận những tình cảm quý báu và công lao to lớn đó.
Hà Nội, ngày
tháng 6 năm 2017
Học viên
Hoàng Thị Hồng Xuyến
5
6
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
NVYT
NKBV
NKVM
(Tổ chức nghiên cứu y tế và chất lượng)
Adverse Events (Sự cố không mong muốn)
Bệnh viện
Bác sỹ
Điều dưỡng
Người bệnh
Nhân viên y tế
Nhiễm khuẩn bệnh viện
Nhiễm khuẩn vết mổ
KSNK
Kiểm soát nhiễm khuẩn
SL
USD
WHO
Số lượng
United States Dollar (Đô la Mỹ)
World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
8
MỤC LỤC
Những thành tựu của ngành y tế Việt Nam với chẩn đoán, điều trị hiện
đại đã góp phần quan trọng nâng cao sức khoẻ người dân, giúp phát hiện sớm và
điều trị thành công cho rất nhiều người bệnh, mang lại cuộc sống và hạnh phúc
cho các gia đình, cộng đồng và xã hội. Tuy nhiên, sự cố y khoa hiện đang là một
vấn đề sức khoẻ cộng đồng nghiêm trọng và đang đe doạ đến ATNB. Trên thế
giới đã có nhiều nghiên cứu, báo cáo liên quan đến sự cố y khoa, song ở nước ta
hiện chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về vấn đề này [2].
Đội ngũ điều dưỡng (ĐD) có vai trò đặc biệt trong việc giảm thiểu sự
cố y khoa: dịch vụ do ĐD cung cấp được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đánh
giá là một trong những trụ cột của hệ thống cung cấp dịch vụ y tế (số lượng
đông nhất, tiếp xúc với người bệnh nhiều nhất và số lượng dịch vụ cung cấp
nhiều nhất); hầu hết các chỉ định của bác sỹ điều trị đều thông qua người ĐD
để thực hiện trên người bệnh, công việc chuyên môn của ĐD luôn diễn ra
trước và sau công tác điều trị đảm bảo công tác điều trị an toàn [3].
Những năm gần đây, số lượng người bệnh đến khám và điều trị tại
Bệnh viện (BV) Đại học Y Hà Nội tăng theo từng năm, tiềm ẩn nguy cơ xảy
ra các sai sót, sự cố y khoa. Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Dự tại Bệnh
12
viện Đại học Y Hà Nội năm 2015: 27,6% ĐD không nêu được khái niệm về
sự cố y khoa, 53,5% cho rằng sự cố y khoa gây tổn hại nhẹ cho người bệnh
[4]. Nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào kiến thức cơ bản của ĐD về ATNB
mà chưa đi sâu về vấn đề ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật. Cho đến nay,
vẫn chưa có nghiên cứu nào tập trung về chủ đề này tại Bệnh viện Đại học Y
Hà Nội. Nhằm giúp Bệnh viện có được bức tranh khái quát về kiến thức, thái
độ của ĐD về ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật, từ đó cải thiện và nâng
cao hơn nữa chất lượng chăm sóc sức khoẻ, giảm thiểu những rủi ro, sự cố y
khoa có thể xảy ra trong quá trình khám chữa bệnh, nghiên cứu “Kiến thức,
Sự cố không mong muốn - Adverse Events (AE):
- Theo WHO: Sự cố không mong muốn là tác hại liên quan đến quản lý
y tế (khác với biến chứng do bệnh) bao gồm các lĩnh vực chẩn đoán, điều trị,
chăm sóc, sử dụng trang thiết bị y tế để cung cấp dịch vụ y tế. Sự cố y khoa có
thể phòng ngừa và không thể phòng ngừa [7]. Theo Bộ Y tế và dịch vụ nhân
sinh Hoa Kỳ (United States Secretary of Health and Human Services): Sự cố
không mong muốn gây hại cho NB do hậu quả của chăm sóc y tế hoặc trong y
tế. Để đo lường sự cố y khoa các nhà nghiên cứu y học của Hoa Kỳ dựa vào 3
nhóm tiêu chí. (1) Các sự cố thuộc danh sách các sự cố nghiêm trọng; (2) Các
tình trạng/vấn đề sức khỏe NB mắc phải trong bệnh viện; Và (3) sự cố dẫn đến
14
1 trong 4 thiệt hại nghiêm trọng cho NB bao gồm: kéo dài ngày điều trị, để lại
tổn thương vĩnh viễn, phải can thiệp cấp cứu và chết người [8].
1.2. Các nội dung của ATNB trong chăm sóc sau phẫu thuật
1.2.1. Phòng ngừa sự cố y khoa trong việc xác định người bệnh và cải tiến
thông tin trong nhóm chăm sóc
a. Quản lý thông tin
Để hỗ trợ việc ra quyết định về chuyên môn, thông tin trên hồ sơ NB
phải bao gồm các yêu cầu sau:
- Sẵn sàng để khai thác trên toàn hệ thống,
- Được lưu lại chính xác,
- Hoàn chỉnh,
- Được sắp xếp để trích xuất có hiệu quả các dữ liệu cần thiết,
- Đúng hạn,
- Các dữ liệu và thông tin mang tính so sánh về việc thực hiện phải sẵn
sàng để ra quyết định, nếu áp dụng,
- Cơ sở có khả năng thu thập và tổng hợp dữ liệu và thông tin để hỗ trợ
NB, và cũng hai công cụ ấy phải được gắn kết trực tiếp với thuốc men, các
sản phẩm về máu, các ống chứa mẫu vật lưu (chẳng hạn trên nhãn được dán
vào) [3].
1.2.2. Phòng ngừa sai sót trong sử dụng thuốc
a Sai sót liên quan đến kê đơn thuốc
Một số sai sót thường gặp trong kê đơn thuốc là:
- Thiếu thông tin NB: tên, tuổi…
- Ghi sai tên thuốc,
- Ghi thiếu hàm lượng thuốc,
- Ghi thiếu hướng dẫn sử dụng thuốc,
- Kê các thuốc có tương tác mức độ nguy hiểm,
- Chữ viết quá khó đọc, gây nhầm lẫn khi cấp phát và thực hiện thuốc,
- Viết tắt trong đơn, gây nhầm lẫn,
- Kê đơn bằng miệng.
b. Sai sót trong giai đoạn cấp phát thuốc
Một số sai sót thường gặp trong cấp phát thuốc là:
16
- Không cho NB dùng thuốc đã kê trong đơn.
- Cho NB dùng thuốc không được bác sỹ kê đơn.
c. Sai sót trong thực hành sử dụng thuốc
Một số sai sót trong thực hành sử dụng thuốc là:
- Dùng thuốc sai NB,
- Dùng sai thuốc hay sai dịch truyền,
- Dùng thuốc sai liều hoặc sai hàm lượng,
- Dùng sai dạng thuốc,
- Sai đường dùng thuốc,
- Sai tốc độ dùng thuốc,
- Đọc toa thuốc sai hoặc sai sót trong cấp phát thuốc, bao gồm cả việc
ghi chép không “rõ ràng” trong hồ sơ bệnh án hoặc do nhầm nhãn.
- Thiếu công cụ để chắc chắn mọi thứ được kiểm tra kỹ lưỡng.
- “Nhóm Phẫu thuật” chưa thực sự ăn ý và gắn kết,
- Áp lực giảm thời gian phẫu thuật,
- Phương pháp phẫu thuật yêu cầu các thiết bị hoặc tư thế NB khác biệt,
- Văn hóa tổ chức/ làm việc,
- Mức độ thân thiện, an toàn của môi trường làm việc,
- Chăm sóc / theo dõi tiếp tục sau phẫu thuật,
18
- Đặc điểm NB, nhất là khi NB có nguy cơ như: béo phì, bất thường
giải phẫu,
- Sự hiểu nhầm giữa NB – nhóm phẫu thuật do bất đồng ngôn ngữ:
khách du lịch, dân tộc thiểu số …
- Do bản thân NB gây ra: do rối loạn ý thức, thiếu sự hợp tác [3].
1.2.4. Kiểm soát nhiễm khuẩn trong chăm sóc sau phẫu thuật.
Các nhiễm khuẩn bệnh viện thường gặp.
+ Nhiễm khuẩn đường tiết niệu,
+ Nhiễm khuẩn huyết,
+ Nhiễm khuẩn vết bỏng,
Đường lây nhiễm khuẩn bệnh viện.
+ Đường tiếp xúc,
+ Lây nhiễm qua đường giọt bắn,
+ Lây qua đường không khí,
Nguồn lây nhiễm khuẩn bệnh viện.
+ Từ môi trường: không khí, nước, thực phẩm,
+ Từ NB: Tuổi, tình trạng sức khoẻ, phương pháp điều trị, thời gian nằm viện.
sở và những người chịu trách nhiệm cho các hoạt động cải tiến.
- Các đề xuất cần được xem xét và triển khai khi có thể
- Lãnh đạo cơ sở cần bổ nhiệm một/nhiều người để theo dõi, giám sát
và xử lý những vấn đề về môi trường của cơ sở.
- Người được bổ nhiệm giám sát môi trường có những nhiệm vụ sau:
- Thu thập thông tin liên tục về những thiếu hụt và những cơ hội cải
tiến trong môi trường chăm sóc.
- Phổ biến các nguồn thông tin, chẳng hạn như các thông báo nguy
hiểm hoặc các báo cáo sự việc đã xảy ra.
- Báo cáo những hạn chế, khó khăn, sự ngừng hoạt động, và các sai sót
của người sử dụng liên quan đến việc quản lý môi trường chăm sóc.
20
- Đề xuất, thực hiện và báo cáo kết quả của các hoạt động cải tiến. Đề
xuất cải tiến giải quyết những vấn đề an toàn môi trường trình ít nhất mỗi năm
một lần đến lãnh đạo cơ sở dựa trên sự theo dõi liên tục việc thực hiện các kế
hoạch quản lý môi trường chăm sóc.
- Tham gia vào việc giám sát và báo cáo sự cố.
- Tham gia vào việc triển khai các chính sách an toàn và các phương
thức thực hiện [3].
1.3. Thực trạng kiến thức, thái độ về ATNB trong chăm sóc sau phẫu
thuật của ĐD trên thế giới và Việt Nam.
1.3.1. Thực trạng kiến thức, thái độ về ATNB của ĐD trong chăm sóc sau
phẫu thuật trên thế giới .
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về kiến thức và thái độ của ĐD về
chăm sóc sau phẫu thuật. Những nghiên cứu gần đây cho thấy cả kiến thức và
thái độ chăm sóc sau phẫu thuật của ĐD có ảnh hưởng đến chất lượng chăm
sóc và điều trị sau phẫu thuật.
ngang các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức thái độ về kiểm soát nhiễm khuẩn
của 100 ĐD khoa hồi sức tích cực ở Ấn Độ năm 2013, kết quả cho thấy kiến
thức tổng thể về các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện khác nhau
có 5% ĐD đạt mức xuất xắc, 37% đạt mức tốt, 40% đạt mức trung bình và
18% đạt mức dưới trung bình [16].
Nghiên cứu của Tweed C, Tweed M và cộng sự khảo sát kiến thức
của ĐD ở 3 bệnh viện tại New Zealand năm 2008 cho thấy 89% ĐD có
kiến thức đúng về phòng ngừa loét do tỳ đè sau thực hiện chương trình
đào tạo 20 tuần [17].
Khi nghiên cứu cắt ngang 423 ĐD đang làm việc trong bệnh viện
Amhara Referral khu vực Tây Bắc Ethiopia năm 2015 về kiến thức nhiễm
22
khuẩn vết mổ, tác giả F.A Teshager đã cho thấy tỷ lệ ĐD có kiến thức về dự
phòng nhiễm khuẩn vết mổ sau phẫu thuật là 40,7% [18].
Nghiên cứu của Behrooz Ataei, Mohsen Meidani và cộng sự về kiến
thức, thái độ của nhân viên y tế trong giảng dạy và chăm sóc y tế cho người
bệnh viêm gan B,C năm 2014 tại Isfahan, Iran cho thấy 58,8% là có kiến
thức đúng để giúp tư vấn cho người bệnh, chăm sóc người bệnh tốt hơn
giúp phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện [19].
Một nghiên cứu do tác giả Paudyal P, Simkhada P cùng các cộng sự
tiến hành năm 2007 tại Nepal. Nghiên cứu được thiết kế để đánh giá kiến
thức, thái độ, thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn của các NVYT tại Nepal cho
thấy 27% NVYT đã được đào tạo về kiểm soát nhiễm khuẩn nhưng chỉ có
16% số người được hỏi đã đạt được điểm tối đa cho kiến thức và 14% số
người có thái độ đạt [20].
Trong một nghiên cứu tại thành phố Iowa, Hoa Kỳ về kiến thức, thái
độ thực hành của nhân viên y tế thực hiện vệ sinh tay được thực hiện bởi tác
thuật của ĐD tại Việt Nam
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Lâm tại Bệnh viện Đa khoa Saint
Paul năm 2015 tỷ lệ ĐD đã có kiến thức về ATNB đạt là 40%, tỷ lệ ĐD có
thái độ về ATNB đạt thấp (34,3%); tỷ lệ ĐD có thái độ về ATNB không đạt
chiếm 65,7% [27].
Nghiên cứu Thân Thị Thu Ba, Nguyễn Thị Mỹ Hạnh năm 2010 về đánh
giá kiến thức, thái độ và thực hành quy trình ĐD tại bệnh viện cấp cứu Trưng
Vương, thành phố Hồ Chí Minh cho thấy kiến thức đúng về quy trình ĐD là
là 41,5%, thái độ đúng là 96,8% [28].
Năm 2005, nghiên cứu của Lê Thị Thanh Thủy, Nguyễn Việt Hùng
và cộng sự thực hiện tại một số bệnh viện khu vực phía Bắc cho thấy tỉ lệ
NVYT nhận thức về vệ sinh bàn tay chưa tốt ở mọi đối tượng, mọi lứa
24
tuổi. Trong nghiên cứu này tỉ lệ NVYT có nhận thức tốt về vệ sinh bàn tay
chỉ đạt 42,2% [29].
Năm 2011, nghiên cứu của Tạ Thị Phương tại Bệnh viện Đa khoa
Đống Đa 40% NVYT chưa có kiến thức đúng về vệ sinh bàn tay. Tỷ lệ nhân
viên y tế có thái độ tích cực đạt 94,2% [30].
Theo kết quả nghiên cứu của Phan Thị Dung năm 2016 tại Bệnh viện
Hữu nghị Việt Đức, ĐD tự đánh giá kiến thức về 10 nội dung kiến thức chăm
sóc cắt chỉ vết khâu có điểm trung bình là 8,65 ± 3,19, điểm trung bình kiến
thức về chăm sóc vết thương có dẫn lưu là 5,39 ± 1,63, điểm trung bình kiến
thức về kiểm soát nhiễm khuẩn 6,99 ± 2,12, điểm trung bình kiến thức về giáo
dục sức khoẻ 8,32±0,81, kiến thức về giao tiếp ứng xử 11,86 ± 3,03 [31].
Theo tác giả Lê Bá Thúc, Trần Thuý Hạnh năm 2013, khi nghiên cứu
thực trạng kiến thức và thái độ kiểm soát nhiễm khuẩn của 100 học viên thuộc
3 đối tượng: bác sỹ, ĐD, sinh viên đại học và trung cấp đang học tập tại bệnh
Cu Ba, Hà Nội khi tiến hành khảo sát kiến thức, thái độ vệ sinh tay thường
quy bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 101 BS, ĐD tại 7 khoa lâm sàng
dựa theo bộ câu hỏi của chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn, kết quả cho
thấy 85,1% các BS, ĐD đã hiểu đúng khái niệm vệ sinh tay. Tuy nhiên chỉ có
73,3% đối tượng nghiên cứu cho rằng vệ sinh tay là biện pháp quan trọng và
đơn giản nhất để phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện. 20,8% các bác sỹ, ĐD
có kiến thức chưa đúng về thời gian thích hợp để vệ sinh tay. Chỉ có 48,5%
đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về vị trí vi khuẩn được tìm thấy nhiều
nhất trên bàn tay. Số NVYT có thái độ đúng về 3 thời điểm vệ sinh tay chiếm
tỷ lệ cao nhất: 98%; 90,1%; 95% [36].
Đánh giá kiến thức, thái độ về tiêm an toàn của ĐD, nữ hộ sinh, kỹ
thuật viên tại Trung tâm Y tế Quảng Điền năm 2012, tác giả Phạm Thị Xuân