1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Dinh dưỡng là một nhu cầu không thể thiếu của cuộc sống, vấn đề này được
coi là yếu tố sống còn của con người nói riêng và toàn nhân loại nói chung, nhờ có
ăn uống mà nhân loại mới có thể sống và tồn tại. Nhưng dinh dưỡng như con dao
hai lưỡi, nhiều vấn đề sức khỏe có thể được cải thiện hoặc ngăn ngừa nếu có một
chế độ ăn uống khỏe mạnh, một chế độ ăn không khoa học thì lại làm tăng nguy cơ
mắc các bệnh tật. Dù trong hoàn cảnh nào thì việc cung cấp dinh dưỡng cũng rất
cần thiết dù đó là lúc khỏe mạnh, ốm đau hay bệnh tật. Và đặc biệt, việc cung cấp
dinh dưỡng cho đối tượng bệnh nhân là vô cùng quan trọng, điều này sẽ tác động
trực tiếp đến việc điều trị bệnh cho bệnh nhân, khi đó ăn không chỉ để giữ sức khỏe
mà còn là phương tiện để điều trị bệnh, Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông ngay từ
thế kỷ mười sáu và mười tám đã coi trọng việc phòng và chữa bệnh bằng ăn uống .
Trong hơn một thập niên qua, việc điều trị bệnh theo mô hình dinh dưỡng cho thấy
được ảnh hưởng tích cực trong tiến trình điều trị các bệnh lý khác nhau như điều trị
các vết thương khó lành, bỏng, bệnh nhân phẫu thuật hay các bệnh mạn tính. Khi
đến khám, điều trị tại các cở sở y tế, ngoài việc cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh
thì việc cung cấp, tư vấn suất ăn hợp lý với tình trạng bệnh của bệnh nhân là việc vô
cùng có ý nghĩa. Đó là thành phần thiết yếu của dịch vụ chăm sóc sức khỏe toàn
diện cho các bệnh nhân với những bệnh lý đa dạng có thể cải thiện tình trạng sức
khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống bằng cách tiếp cận phương pháp dinh dưỡng
trị liệu .
Bệnh viện ĐHYHN là 1 bệnh viện đa khoa trực thuộc Trường ĐHYHN được
thành lập từ tháng 1 năm 2007 và chính thức mở cửa đón bệnh nhân tháng 8 năm
2008. Bệnh viện luôn hướng tới chăm sóc sức khỏe toàn diện cho bệnh nhân, do đó,
dinh dưỡng cũng là 1 mục tiêu quan trọng cần được chăm sóc bên cạnh điều trị lâm
sàng. Khoa dinh dưỡng lâm sàng Bệnh viện chính thức hoạt động từ tháng 9 năm
2014 và chính thức triển khai các hoạt động khám tư vấn dinh dưỡng cũng như đảm
bảo suất ăn bệnh lý cho bệnh nhân từ cuối năm 2014. Tuy nhiên, đến nay chưa có 1
về năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể .
Chế độ ăn: Là chế độ ăn cho mỗi đối tượng được biểu hiện bằng số bữa ăn
trong một ngày. Sự phân phối các bữa ăn trong những giờ nhất định có chú ý đến
khoảng cách giữa các bữa ăn và phân phối cân đối tỉ lệ năng lượng giữa các bữa ăn
trong một ngày .
Chế độ ăn cũng được định nghĩa theo cách khác: là một thuật ngữ để chỉ một
khẩu phần ăn bao gồm các thực phẩm khác nhau, có thể là các thực phẩm hàng ngày
được một cá thể hay một quần thể sử dụng. Cũng có thể là khẩu phần ăn đã được cải
tiến cho mục đích sử dụng đặc biệt như “chế độ ăn kiêng”, “chế độ ăn giảm béo”,
“chế độ ăn điều trị”, “chế độ ăn hạn chế” .
Hướng dẫn chế độ ăn: là lời khuyên đối với cá thể trong cộng đồng với mong
muốn thay đổi hành vi ăn uống và khẩu phần ăn để đạt được mục tiêu sức khỏe cho
cá thể hoặc cộng đồng .
1.1.2. Nguyên tắc xây dựng khẩu phần ăn bình thường hợp lý
- Đảm bảo đủ năng lượng:
Bảng 1.1: Nhu cầu năng lượng cho trẻ dưới 10 tuổi:
Tuổi
Dưới 6 tháng
6-12 tháng
1-3 tuổi
4-6 tuổi
7-9 tuổi
Năng lượng (Kcal)
620
820
1300
1600
1800
Lao động vừa
Lao động nặng
2300
2200
1900
2200
2100
1800
2700
2700
2200
2300
2200
3300
3200
18 30
30-60
>60
18- 30
30- 60
>60
2600
2500
Chế độ ăn hạn chế xơ tương đối hoặc tuyệt đối tùy theo tình trạng của người
bệnh: Tương đối như người bệnh tiêu chảy nhẹ, không bị tổn thương niêm mạc ruột,
tuyệt đối như viêm ruột, xuất huyết tiêu hóa, hậu môn nhân tạo,...Sợi, xơ gây kích
thích nhu động ruột nên đối với những người bệnh bị tổn thương niêm mặc ruột,
tiêu chảy cần hạn chế. Những thức ăn nhiều xơ như rau, khoai, củ, thơm, lê, táo, đu
đủ, sắn, đậu, gạo lức,...; thức ăn ít chất xơ như bơ, sữa, trứng, nước trái cây, thịt
động vật...
- Chế độ ăn hạn chế béo
Cần hạn chế chất béo đối với những người bệnh: có bệnh lý tim mạch, bệnh lý
gan, mật (xơ gan, sỏi mật, viêm túi mật, tắc mật) người bệnh béo phì. Những thức
ăn giàu chất béo: mỡ động vật, chocolate, sữa béo, trứng, gạch tôm cua,...và những
thức ăn ít chất béo như gạo, thịt nạc, cá, thịt tôm, cua, nghêu,...
- Chế độ ăn hạn chế đạm
Áp dụng đối với những người bệnh có bệnh lý ở thận (suy thận, viêm cầu thận
cấp...), người bệnh urê huyết cao. Thức ăn giàu đạm như thịt, cá, trứng, sữa, đậu
nành. Thức ăn ít đạm như trái cây, rau,...Chế độ ăn đối với hội chứng thận hư: lượng
đạm ăn vào bằng lượng đạm thải ra cộng với 0.8g/kg/ngày.
- Chế độ ăn tăng đạm
Trong giai đoạn hồi phục, cần cung cấp năng lượng cho cơ thể để bù vào
lượng mất đi ở giai đoạn toàn phát. Áp dụng với bệnh mạn tính, suy dinh dưỡng,
thiếu máu, người bệnh sau phẫu thuật, chấn thương, vết thương sâu hoặc rộng,
người bị rối loạn chuyển hóa glucid.
- Chế độ ăn hạn chế muối
Đối với các bệnh viêm cầu thận cấp, suy thận cấp, suy tim nặng, phù cấp tính
do những nguyên nhân khác, các bệnh như suy tim nhẹ, phù nhẹ đang điều trị bằng
corticoid. Thức ăn có nhiều muối như rau muống, trứng; thức ăn không có muối
như gạo, đường, cá nước ngọt, khoai tây.
- Chế độ ăn hạn chế đường
Đường huyết cao có thể gây viêm cầu thận, viêm động mạch đầu chi, xơ vữa
động mạch. Nguyên tắc: đảm bảo nhu cầu năng lượng cần thiết 30Kcal/kg/ngày vì
bệnh án.
Điều 3: Điều trị bằng chế độ ăn bệnh lý cho người bệnh nội trú: bác sĩ điều trị đánh
giá và ghi nhận xét tình hình dinh dưỡng của người bệnh lúc nhập viện và trong quá
7
trình điều trị. Bác sĩ chỉ đinh chế độ ăn hằng ngày phù hợp với bệnh cử ngưới bệnh,
đồng thời lập kế hoạch can thiệp dinh dưỡng cho bệnh nhân suy dinh dưỡng hoặc
người cần hỗ trợ dinh dưỡng, bên cạnh đó xây dựng thực đơn và chế độ ăn phù hợp
với bệnh lý và áp dụng chế độ ăn bệnh lý theo qui định.
Điều 4: Tổ chức phục vụ dinh dưỡng, tiết chế: người bệnh được bác sĩ chỉ định chế
độ ăn bệnh lý và được cung cấp suất ăn tại buồng bệnh, tại bệnh viện. Bảo quản,
chế biến, vận chuyển suất ăn bảo đảm an toàn thực phẩm.
Điều 6: Giáo dục truyền thông về dinh dưỡng, tiết chế gồm xây dựng tài liệu truyền
thông về dinh dưỡng, tiết chế, an toàn thực phẩm và phổ biến cho người bệnh,
người nhà người bệnh và nhân viên y tế đồng thời tổ chức giáo dục sức khỏe và
hướng dẫn cho người bệnh, người nhà người bệnh thực hiện chế độ ăn bệnh lý và an
toàn thực phẩm.
Cũng trong thông tư, tại điều 10, đã nêu rõ nhiệm vụ của khoa Dinh dưỡng,
tiết chế trong đó có những nội dung quan trọng sau: tổ chức thực hiện chế độ ăn
bệnh lý cho người bệnh trong bệnh viện theo các quy định hiện hành và hỗ trợ dinh
dưỡng (đường ruột, đường tĩnh mạch) cho người bệnh tại các khoa lâm sàng trong
bệnh viện. Khám, tư vấn và điều trị bằng chế độ dinh dưỡng cho người bệnh. Giáo
dục truyền thông về dinh dưỡng và an toàn thực phẩm cho người bệnh và các đối
tượng khác trong bệnh viện đồng thời kiểm tra chất lượng dinh dưỡng, tiết chế và
an toàn thực phẩm đối với đơn vị chế biến và cung cấp suất ăn, dịch vụ ăn, uống
trong bệnh viện bên cạnh đó nghiên cứu khoa học, ứng dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật về dinh dưỡng, tiết chế và an toàn thực phẩm trong điều trị, phòng bệnh và
nâng cao sức khỏe .
1.4. Cơ cấu tổ chức của khoa Dinh dưỡng và Tiết chế bệnh viện Đại học Y Hà
biến và phân phối thức ăn, lưa mẫu thức ăn.
- Các tiêu chuẩn về vệ sinh cho môi trường xung quanh, cho dụng cụ, phương
tiện chế biến, cho thực phẩm và nước sử dụng, cho người lao động làm việc tại
bếp ăn.
- Bộ phận giám sát chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm: xây dựng các
quy định giám sát tại nơi chế biến và phân phát suất ăn.
Tổ chức và quản lý khám, tư vấn và giáo dục truyền thông về dinh dưỡng và an
toàn vệ sinh thực phẩm.
- Tư vấn dinh dưỡng cho tất cả bệnh nhân trong quá trình nằm viện. Viện tư
vấn cho từng bệnh nhân được thực hiện bởi các cán bộ của Bộ môn Dinh dưỡng.
Trước mắt khi chưa có phòng riêng sẽ tư vấn tại khoa hoặc buồng bệnh
9
- Thực hiện khám- tư vấn dinh dưỡng ngoại trú cho các khách hàng có nhu cầu
tại Phòng khám Dinh dưỡng- Tầng 3- Nhà A5
- Ngoài khám và tư vấn dinh dưỡng cho từng người bệnh, khoa tổ chức định
kỳ các buổi hướng dẫn thực hành dinh dưỡng và giáo dục truyền thồng về dinh
dưỡng tại phòng tư vấn.
Tổ chức, điều hành và quản lý hoạt động đào tạo
- Tổ chức các buổi tập huấn, nâng cao kiến thức về dinh dưỡng và vệ sinh an
toàn thực phẩm cho nhân viên trong bệnh viện.
- Tiếp nhận đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng của đơn vị
khác gửi đến bệnh viện.
- Có kế hoạch và tham gia biên soạn và viết bài cho các loại sách, báo, tờ rơi
tuyên truyền về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
Tổ chức, quản lý vấn đề Nghiên cứu khoa học và ứng dụng:
- Các tiến bộ khoa học kỹ thuật về dinh dưỡng và an toàn vệ sinh thực phẩm
trong điều trị, phòng bệnh và nâng cao sức khỏe con người.
1.5. Thực trạng khám, tư vấn dinh dưỡng và cung cấp khẩu phần ăn điều trị
RDAs, trong đó liệt kê số lượng thiểu cần thiết để ngăn ngừa sự thiếu hụt). Các lĩnh
vực dinh dưỡng lâm sàng hiện nay càng ngày càng được đưa vào điều trị y tế chính
thống.
Vào cuối thế kỷ trước thế giới đã quan tâm đến việc cung cấp dinh dưỡng cho
các bệnh nhân khi vào viện, vào năm 1999 Allison SP đã nói trong báo cáo của
mình về thực trạng bệnh nhân tại bệnh viện, ông đã viết trong bệnh viện có tớ 40%
người lớn và 15 trẻ em trong tình trạng suy dinh dưỡng và nguyên nhân của việc
này là do chế độ ăn của bệnh viện cung cấp, phản ánh sự bất cập trong quá trình
nuôi dưỡng bệnh nhân tại bệnh viện .
Một cuộc khảo sát được thực hiện tại hai bệnh viện của Thụy Sĩ để đánh giá
thói quen ăn uống, mức độ hài lòng với thực đơn và sự lựa chọn của bệnh viện đã
cho biết 86% được hỏi hài lòng với thức ăn của bệnh viện, 78% hài lòng với cách
phục vụ, bên cạnh đó 28% bệnh nhân cho biết họ ăn hết những thức ăn họ được
phục vụ và 22% chỉ ăn 1 phần nhỏ. Các bệnh nhân đều cho thấy rằng nhiệt độ, hình
thức và mùi thơm của thức ăn là đặc biệt quan trọng .
Một nghiên cứu được thực hiện trên hai mươi chín phường trong bốn bệnh
viện điều tra về các rào cản trong việc lựa chọn thực phẩm và chất lượng thực phẩn
của các bệnh nhân trong bệnh viện, kết quả cho thấy 30% bệnh nhân có cảm giác
11
đói, 29% mắc vào rào cản do khâu tổ chức, 24% gặp rắc rối trong việc lựa chọn
thực phẩm và 21% bị ảnh hưởng bởi chất lượng thực phẩm .
Một nghiên cứu được thực hiện tại một bệnh viện trường đại học có 1200
giường bệnh về việc dùng thực đơn của bệnh viện có đáp ứng được nhu cầu tối
thiểu của các bệnh nhân hay không thì kết quả chi thấy mỗi thực đơn bệnh viện
cung cấp hơn 2000 kcal/ ngày và có thể đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của bệnh
nhân, tuy nhiên có hơn 40% thực phẩm bệnh viện bị lãng phí, điều này cần có chính
sách ăn ở bệnh viện phù hợp hơn với nhu cầu của người bệnh .
Một nghiên cứu được thực hiện trong thời gian năm năm để đánh giá chất
suất ăn cho người bệnh tại khoa và cơ sở vật chất vẫn còn chưa đầy đủ để phục vụ
nhu cầu chăm sóc dinh dưỡng .
Trong báo cáo tổng quan ngành Y tế năm 2012 cho thấy cán bộ y tế và người
bệnh chưa coi dinh dưỡng là một trong những phương pháp điều trị. Công tác dinh
dưỡng lâm sáng chưa được coi trọng. Chế độ ăn cho người bệnh chưa được đưa vào
giá dịch vụ vì vậy không thể bắt buộc bệnh viện phục vụ ăn cho toàn thể người
bệnh. Đã có nhiều mô hình cung cấp dinh dưỡng cho người bệnh thông qua đấu
thầu dịch vụ, bệnh viện tự tổ chức bếp ăn cho người bệnh và nhân viên y tế. Theo
kết quả điều tra năm 2009-2010 tại 742 bệnh viện các tuyến, chỉ cố 71.8% bệnh
viện tuyến tỉnh, 40.8% bệnh viện huyện có khoa dinh dưỡng hoặc bộ phận dinh
dưỡng . Cần có biện pháp rà soát và thay đổi quan điểm khoa dinh dưỡng chỉ là mơi
làm tăng nguồn thu của bệnh viện mà phải coi khoa dinh dưỡng là bắt buộc tối thiểu
bảo đảm chất lượng dịch vụ bệnh viện . Một nghiên cứu khác trên tổng số 852 bệnh
viện cho thấy số bệnh viện thành lập khoa dinh dưỡng là 276 và 331 bệnh viện
thành lập Tổ dinh dưỡng chiếm 71.2% và 245 bệnh viện chưa thành lập khoa (tổ)
dinh dưỡng bẳng 28.8% .
Một nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng, mô tả
thực hành nuôi dưỡng và thực hành tư vấn dinh dưỡng bệnh nhân đái tháo đường tại
Bệnh viện Bạch Mai. Kết quả cho thấy: tỷ lệ bệnh nhân ăn tại bệnh viện là 94.3%,
có 69% bệnh nhân hài lòng về suất ăn ở bệnh viện. Bệnh nhân được tư vấn dinh
dưỡng chiếm 75.7%. Trong đó, bệnh nhân được tư vấn rất kỹ và hiểu được nội dung
tư vấn chiếm tỷ 97.2%. Hình thức tư vấn dinh dưỡng chủ yếu là tư vấn theo nhóm
chiếm 84.0%, nội dung tư vấn cho bệnh nhân tập trung vào vai trò của chế độ ăn,
những thức ăn người bệnh nên dùng và chế độ tập luyện .
13
Trong báo cáo của Giám đốc trung tâm Dinh dưỡng lâm sàng bệnh viện Bạch
Mai về tình trạng cung cấp suất ăn bệnh lý tại bệnh viện như sau: bệnh nhân nằm
điều trị nội trú được chỉ định ăn bệnh lý theo chế độ ăn của bệnh viện với hướng
có chỉ định cho ăn vì chờ làm thủ thuật, chuẩn bị phẫu thuật hay nguyên nhân bệnh
lý, 3.8% (21/551) không ăn được vì bác sĩ chỉ định không hợp thói quen như ăn
chay lại cho ăn mặn, hay không quen ăn cá (thực đơn đều có thể đáp ứng), 6.2%
(34/551) không hợp khẩu vị và nguyên nhân khác 2.3% .
Trong một báo cáo hội nghị của trường Đại học KTYT Hải Dương cho thấy
việc sử dụng dịch vụ chăm sóc dinh dưỡng bệnh nhân trong bệnh viện còn thấp: tỷ
lệ bệnh nhân được tư vấn dinh dưỡng trong thời gian nằm viện là rất thấp (26.5%),
người tư vấn chủ yếu là bác sỹ (86.3%), nội dung tư vấn rất chung chung, chưa
mang tính thực hành. Tỷ lệ mua thức ăn của căng tin bệnh viện chỉ đạt 10.9%. Đồng
thời nhu cầu sử dụng các dịch vụ chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân trong bệnh
viện lại rất cao: có tới 90.7% thấy sự cần thiết của khoa dinh dưỡng trong bệnh
viện. Nếu được lựa chọn, có tới 40.4% lựa chọn nơi cung cấp thức ăn cho bệnh
nhân từ khoa dinh dưỡng trong bệnh viện . Cũng trong một báo cáo của viện Bỏng
Quốc Gia Lê Hữu Trác về hoạt động dinh dưỡng tiết chế cho biết 100% bệnh nhân
vào viện được đo chiều cao, cân nặng và ghi vào hồ sơ bệnh án, đồng thời người
bệnh mà bác sĩ chỉ định chế độ ăn bệnh lý được cung cấp suất ăn tại buồng bệnh,
100% với các bệnh nhân bỏng >50% DTCT với người lớn, >30% DTCT với trẻ em,
bệnh nhân nặng thì được nhân viên khoa dinh dưỡng chuyển chế độ ăn đến tận khoa
bằng các chế độ theo tình trạng bệnh lý như: cháo, súp, sữa cơm trung bình 200 suất
ăn/ngày, bệnh nhân nhẹ hơn theo chỉ định của bác sĩ dinh dưỡng, nhân viên của
khoa đặt và giám sát trực tiếp chế độ ăn, dinh dưỡng dưới khu phục vụ dinh dưỡng
tập trung của viện .
Trong một nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của bệnh nhân nội trú về tình hình
cung cấp thức ăn tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương vào năm 2008 cho biết có
88.3% bệnh nhân ăn suất ăn dinh dưỡng hài lòng về nhân viện, và 99.8% bệnh nhân
ăn suất ăn dinh dưỡng hài lòng về thời gian, có 52.2% bệnh nhân nhận xét với khẩu
phần ăn cung cấp đó thì vừa đủ no, và 25.8% bệnh nhân nhận xét thiếu khẩu phần ăn, có
81.8% bệnh nhân nhận xét suất ăn dinh dưỡng có dụng cụ đựng sạch sẽ, số còn lại cho là
tạm được . Cũng khảo sát về sự hài lòng của bệnh nhân nhưng tại bệnh viện Nhi Đồng II,
Phạm Thị Mãnh và CS đã cho biết hơn 98% bệnh nhân hài lòng về chế độ ăn cháo, về
rõ về mục đích của nghiên cứu
- Các đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu nhưng không hợp tác trong quá
trính nghiên cứu
2.4.Phương pháp nghiên cứu
2.4.1.Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang (Cross- Sectional study)
2.4.2.Cỡ mẫu
Áp dụng công tính tính cỡ mẫu theo tỷ lệ:
17
n = Z2(1- α/2)
p(1 p)
( p. ) 2
trong đó:
n: là cỡ mẫu nghiên cứu
Z: độ tin cậy mong muốn tương đương với độ chính xác α= 0.05 nên Z= 1.96
P: theo nghiên cứu thử nghiệm trước khi tiến hành nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân sử
dụng suất ăn bệnh lý là 30% nên p=0.3
ε : chọn ε= 0.2
Thay các giá trị tương ứng vào công thức, cỡ mẫu cần nghiên cứu là 224 làm tròn
số dự phòng các trường hợp bỏ cuộc khi nghiên cứu thì cỡ mẫu cuối cùng là 250.
2.4.3.Chọn mẫu
Mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng. Mỗi tầng là mỗi khoa
Nhu cầu khám, tư vấn dinh Tỷ lệ bệnh nhân được khám Phỏng vấn sử dụng bộ
dưỡng cho bệnh nhân
và tư vấn dinh dưỡng
câu hỏi
Lý do bệnh nhân không được
khám và tư vấn dinh dưỡng
Mức độ hài lòng của bệnh
nhân về việc khám và tư vấn
dinh dưỡng
Tần suất bệnh nhân được
khám và tư vấn dinh dưỡng
Tần suất tư vấn dinh dưỡng
Nhu cầu cung cấp suất ăn
mà bệnh nhân mong muốn
Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng suất
điều trị tại bệnh viện
ăn tại bệnh viện
Lý do bệnh nhân không sử
dụng suất ăn tại bệnh viện
Số lượng bữa ăn điều trị mà
bệnh nhân dùng trong 1 ngày
Sự hài lòng của bệnh nhân về
suất ăn điều trị
2.6.Sai số và khống chế sai số
- Sai số nhớ lại: thiết kế bộ câu hỏi chuẩn và giám sát hoạt động trong suốt quá
trình điều tra phiếu.
- Sai số thu thập thông tin: phỏng vấn thử và hoàn thiện bộ câu hỏi trước khi
tiến hành nghiên cứu.
- Sai số không trả lời: hướng dẫn cho người được phỏng vấn mục đích nghiên
cứu, động viên đối tượng hợp tác nghiên cứu.
2.7.Đạo đức nghiên cứu
20
- Mọi đối tượng đều có quyền được từ chối không tham gia nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở tự nguyện của đối tượng nghiên cứu,
không gây tác động làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, công việc cũng như quá trình
điều trị bệnh của đối tượng.
- Nghiên cứu được thực hiện đúng qui định đạo đức nghiên cứu của Bộ Y Tế
- Tất cả những thông tin đối tượng cung cấp sẽ được giữ bảo mật, tất cả thông tin
sẽ chỉ nhằm mục đích phục vụ cho nghiên cứu này và không có bên thứ 3 được biết.
- Sau khi phỏng vấn, đối tượng sẽ được cung cấp thêm kiến thức về dinh
dưỡng, an toàn vệ sinh thực phẩm
21
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1.Thông tin chung của đối tượng
Biểu đồ 3.1: Phân bố đối tượng (bệnh nhân) theo giới:
Nhận xét:
Nhân viên nhà nước, ngoài nhà
Tần số (n)
Tỷ lệ (%)
51
20.40
54
53
15
77
250
21.60
21.20
6.00
30.80
100
nước
Nông nghiệp
Nghỉ hưu
Sinh viên
Tự do
Tổng
Nhận xét:
26.80
6.00
2.80
2.00
100
Nhận xét:
Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo từng khoa được tính toán dựa trên công thức
tính mẫu của mẫu phân tầng, sau khi tính phần trăm số lượng bệnh nhân nằm điều
trị tại từng khoa thì ta được kết quả như trên.
23
Với 32.4% bệnh nhân khoa Ngoại, 22% bệnh nhân khoa Nội, 8% bệnh nhân
khoa Tim mạch, 26.8% bệnh nhân Ung Bướu, 6% bệnh nhân Tai mũi họng, 2%
bệnh nhân Cấp cứu
3.2.Nhu cầu khám, tư vấn dinh dưỡng và cung cấp suất ăn bệnh lý cho bệnh
nhân
3.2.1.Thực trạng khám và tư vấn dinh dưỡng
Tình hình khám và tư vấn dinh dưỡng:
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ (%) người bệnh được khám, tư vấn dinh dưỡng
Nhận xét:
60.4% bệnh nhân tham gia nghiên cứu được tư vấn dinh dưỡng ít nhất một lần
từ khi nhập viện đến thời điểm nghiên cứu bởi cán bộ y tế (tại khoa dinh dưỡng
cũng như bác sĩ điều trị)
39.6% bệnh nhân còn lại không được tư vấn dinh dưỡng từ khi nhập viện đến thời
điểm nghiên cứu
-
Nhận xét:
41 bệnh nhân trong tổng số 99 bệnh nhân được khám, tư vấn dinh dưỡng chiếm
-
41.41% rất hài lòng về việc khám và tư vấn dinh dưỡng.
54 bệnh nhân (54.54%) ở mức hài lòng.
4 (4%) bệnh nhân không hài lòng với việc khám, tư vấn dinh dưỡng.