BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH
THỰC TRẠNG DINH DƯỠNG TRƯỚC
VÀ SAU PHẪU THUẬT CỦA BỆNH NHÂN UNG
THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG TẠI BỆNH VIỆN
BẠCH MAI VÀ BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y
HÀ NỘI NĂM 2016 - 2017
Chuyên ngành: Dinh dưỡng
Mã số:
62727515
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Phạm Văn Phú
HÀ NỘI – 2017
PGS.TS. Trần Hiếu Học
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng (SDD) là vấn đề thường gặp ở những bệnh nhân nhập viện.
nên hai địa điểm này có lượng bệnh nhân UTĐTT tương đối ổn định đến điều trị.
Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về TTDD và nuôi dưỡng của bệnh
nhân phẫu thuật UTĐTT, tuy nhiên ở Việt Nam, các nghiên cứu về lĩnh vực này còn
chưa nhiều. Nhằm cung cấp những số liệu khoa học cho các nghiên cứu sau này để
có thể điều trị và chăm sóc tốt hơn cho bệnh nhân UTĐTT tại Việt Nam, đề tài: “Thực
trạng dinh dưỡng trước và sau phẫu thuật của bệnh nhân ung thư đại trực tràng
tại bệnh viện Bạch Mai và bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016- 2017” được tiến
hành nhằm các mục tiêu sau:
1.
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân UTĐTT trước và sau phẫu
thuật tại bệnh viện Bạch Mai và bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 20162017.
2.
Đánh giá chế độ nuôi dưỡng của bệnh nhân ung thư đại trực tràng trước
và sau phẫu thuật tại bệnh viện Bạch Mai và bệnh viện Đại học Y Hà Nội
năm 2016- 2017.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đại cương ung thư đại trực tràng
1.1.1 Dịch tễ ung thư đại trực tràng
Ung thư hiện nay là được coi là đại dịch của thế giới, là một trong những nguyên
nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới [9]. Theo cơ sở dữ liệu của Cơ quan
Quốc tế nghiên cứu ung thư (IARC), ước tính năm 2012 có thêm 14,1 triệu ca mắc
bệnh ung thư mới, và 8,2 triệu ca chết vì ung thư [6]. Số lượng các ca mới mắc ung
mao (cấu trúc nhung mao chiếm 25%- 50%). Trong đó các polyp nhung mao có nguy
cơ ung thư hoá cao hơn.
- Tiền sử bị bệnh viêm ruột: bao gồm 2 bệnh là viêm loét đại tràng và bệnh Crohn.
Những người bị bệnh lý viêm ruột sẽ tăng nguy cơ bị UTĐTT lên từ 4 đến 20 lần.
- Tiền sử gia đình mắc UTĐTT hoặc polyp tuyến đại trực tràng: Có tới 20% bệnh
nhân UTĐTT có người thân bị mắc bệnh về đại tràng hoặc UTĐTT. Những người có
từ một người thân thế hệ 1 (bố, mẹ, anh, chị, em) bị UTĐTT hoặc polyp tuyến đại
trực tràng sẽ có nguy cơ cao hơn, đặc biệt là ở những người có tiền sử gia đình nặng
nề như: có người thân thế hệ 1 bị UTĐTT hoặc polyp tuyến đại trực tràng lúc trẻ hơn
60 tuổi, có hơn 2 người thân thế hệ 1 bị UTĐTT hoặc polyop đại trực tràng ở bất cứ
độ tuổi nào. Nguyên nhân có thể là do yếu tố gen di truyền, cùng sống chung một môi
trường hoặc do kết hợp cả hai.
- Các yếu tố gen di truyền
Có khoảng 5% -10% UTĐTT là do di truyền. Các hội chứng di truyền bao gồm:
+ Hội chứng đa polyp tuyến gia đình (FAP: Familial Adenomatous
Polyposis).
+ UTĐTT di truyền không có polyp (HNPCC: Hereditary Nonpolyposis
Colorectal Cancer, còn gọi là hội chứng Lynch).
+ Hội chứng Peutz- Jeghers.
+ Hội chứng Gardner.
1.1.2.2. Các yếu tố môi trường
- Chế độ ăn uống
Chế độ ăn uống có ảnh hưởng mạnh mẽ tới nguy cơ UTĐTT. Sự thay đổi thói
quen ăn uống có thể làm giảm tới 70% số ca UTĐTT. Yếu tố chính gây UTĐTT là
5
chế độ ăn giàu chất béo, đặc biệt là mỡ động vật, hoặc chế độ ăn nhiều thịt, hoặc chế
độ ăn ít chất xơ.
+ Suy nhược: bệnh tiến triển kéo dài gây suy mòn
-
Triệu chứng thực thể:
6
+ Thăm trực tràng: giúp phát hiện khối u, đánh giá vị trí, kích thước, tính di
động của u.
+ Thăm khám bụng: có thể sờ thấy u đại tràng phải và đại tràng xích ma.
+ Các dấu hiệu của biến chứng: tắc ruột, viêm phúc mạc.
1.1.3..2. Triệu chứng cận lâm sàng
- Nội soi: nội soi ống cứng hoặc nội soi ống mềm giúp chẩn đoán.
- Chẩn đoán hình ảnh: Có thể sử dụng:
+ X- quang: Chụp X- quang bụng không chuẩn bị, chụp khung đại tràng cản
quang, chụp đối quang kép.
+ Chụp cắt lớp vi tính (CT Scanner).
+ Chụp cộng hưởng từ (MRI) tiểu khung.
+ Siêu âm nội trực tràng.
+ Chụp PET: cung cấp thêm thông tin cho CT và MRI, nhất là các tổn thương di
căn xa.
- Xét nghiệm sinh hoá- huyết học: Xét nghiệm CEA có giá trị trong đánh giá hiệu
quả điều trị, theo dõi và chẩn đoán ung thư tái phát, di căn sau điều trị.
- Xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân: giúp phát hiện sớm UTĐTT.
- Giải phẫu bệnh: giúp chẩn đoán xác định, cho biết thể mô bệnh học, độ biệt hoá
để giúp điều trị và đánh giá tiên lượng bệnh.
* Phân loại mô bệnh học của UTĐTT (WHO-2010)
- Ung thư biểu mô: chiếm 85%- 90%, gồm các loại:
nhân UTĐTT [13]. Tỉ lệ sống sót sau 5 năm sau khi phẫu thuật cắt bỏ khối u UTĐTT
ở giai đoạn 0-III theo vị trí ở đại tràng, đại tràng sigma, trực tràng và chung cho tất
cả các vị trí lần lượt là 83,7%, 81,2%, 77,1% và 81,3% [12]. Đối với UTĐT, phẫu
thuật có vai trò quan trọng và khả năng phẫu thuật triệt căn cao hơn UTTT. Phẫu thuât
nội soi UTĐT giúp hạn chế biến chứng, giảm đau, thời gian nằm viện ngắn hơn, lưu
thông ruột xảy ra nhanh hơn, trong khi đó không làm giảm kết quả về mặt ung thư.
Còn đối với UTTT, việc đánh giá và xếp giai đoạn trước khi điều trị là hết sức quan
trọng giúp lựa chọn phác đồ điều trị cũng như phương pháp phẫu thuật phù hợp. Có
nhiều phương pháp để phẫu thuật UTTT như: cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (TME),
cắt trực tràng đường bụng, phẫu thuật Babcok - Bacon, phẫu thuật cắt đoạn trực tràng
8
Parks - Malafosse, phẫu thuật cắt đoạn trực tràng xuyên cơ thắt (ISR), phẫu thuật
Hartzmann… [10]
* Hoá trị
Hóa trị bao gồm hóa trị bổ trợ UTTT và hóa trị UTTT. Hóa trị bổ trợ UTTT
được áp dụng cho UTTT giai đoạn III và giai đoạn II có yếu tố nguy cơ cao. Các yếu
tố nguy cơ cao bao gồm: khối u dính vào cấu trúc xung quanh, thủng ruột, tắc ruột
hoàn toàn, mất nhiễm sắc thể 18q, tỷ lệ tế bào pha S cao…
Hóa trị UTTT có nhiều phác đồ như: phác độ hóa- xạ trị đồng thời, hóa trị bổ trợ
UTTT đã hóa- xạ trị tiền phẫu và hóa trị bổ sung UTTT không có xạ trị tiền phẫu.
* Xạ trị
Xạ trị được chỉ định trong các trường hợp UTTT trung bình và đoạn thấp, khi
tổn thương T3-4/N(+) dựa trên chẩn đoán trước điều trị. Xạ trị hậu phẫu được chỉ
định trong các trường hợp u đã vượt quá thanh mạc, di căn hạch [10].
1.2. Dinh dưỡng và ung thư đại trực tràng
TTDD của mỗi cá thể phản ánh mức độ cơ thể được thoả mãn nhu cầu sinh lý về
các chất dinh dưỡng. Cân bằng giữa khẩu phần dinh dưỡng và nhu cầu dinh dưỡng sẽ
Sụt cân là một yếu tố tiên lượng suy giảm khả năng sống ở những bệnh nhân
ung thư và liên quan với sự suy giảm chức năng cơ thể, tăng sự lo lắng, chất lượng
cuộc sống thấp [22]. Những bệnh nhân ung thư có sụt cân thì hiệu quả điều trị của
các phương pháp như phẫu thuật, hóa chất, xạ trị bị suy giảm. Đối với bệnh nhân phải
trải qua phẫu thuật thì sụt cân sẽ làm tăng tỉ lệ mắc biến chứng hậu phẫu và tỉ lệ tử
vong. Phần trăm sụt cân trước phẫu thuật được xem là chỉ số tiên lượng tỉ lệ tử vong,
biến chứng sau phẫu thuật cũng như chi phí và thời gian nằm viện [23], [24], [25]. Sụt
cân trong thời gian gần đây được coi là có giá trị hơn cân nặng hiện tại hoặc BMI trong
việc tiên lượng các kết quả kém [25]. Sụt cân được đánh giá là nặng khi bệnh nhân bị
sụt cân từ 10% trọng lượng cơ thể trong vòng 6 tháng hoặc giảm từ 5% trọng lượng cơ
thể trở lên trong vòng 1 tháng [26].
1.2.1.2 Suy mòn trong ung thư đại trực tràng
Suy mòn do ung thư được định nghĩa là một hội chứng do nhiều yếu tố tác động,
được đặc trưng bởi tình trạng mất khối cơ xương tiếp diễn (có thể đi kèm mất khối
mỡ hoặc không) mà không thể đảo ngược lại bằng hỗ trợ dinh dưỡng thông thường
và dẫn tới suy giảm chức năng tiến triển [19]
10
Ung thư
Đáp ứng của cơ thể, các
sản phẩm từ khối u.
Các điều trị
chống ung thư
Chán ăn
Giảm hoạt
(thường gặp ở bệnh nhân ung thư) và chán ăn. Chán ăn ở những bệnh nhân ung thư
là do cơ chế bệnh của ung thư và do chính các phương pháp điều trị ung thư gây ra.
Khi có khối u ác tính, cơ thể có cơ chế đáp ứng và tạo ra các chất cytokine đáp ứng,
cùng với các sản phẩm của khối u dẫn tới mất cân bằng năng lượng (năng lượng ăn
11
vào và năng lượng tiêu hao) và thay đổi chuyển hóa của cơ thể. Điều này dẫn tới rối
loạn chuyển hóa, góp phần vào gây suy mòn ung thư.
Tiêu chuẩn chẩn đoán suy mòn ung thư [19]:
+ Giảm >5% cân nặng trong vòng 6 tháng (mà không bị thiếu ăn) hoặc
+ BMI <20 kg/m2 và giảm >2% cân nặng hoặc
+ Các chỉ số cơ xương phù hợp với Sarcopenia (ở nam
những cá thể khác nhau [40].
Nhiều nghiên cứu thuần tập đã được tiến hành trong thế kỉ qua đã chỉ ra thừa cân
béo phì (thường xác định bằng BMI) có liên quan tới tăng tỉ lệ tử vong do mọi nguyên
nhân, tuy nhiên có nghiên cứu chỉ ra thừa cân (BMI từ 25- 29,9 kg/m2) lại liên quan
với giảm nguy cơ tử vong và béo phì mức độ nhẹ (BMI từ 30-34,5 kg/m2) có nguy
cơ tử vong tương tự với nhóm có BMI trong giới hạn bình thường [33]. BMI và các
biến chứng hậu phẫu không có sự liên quan có ý nghĩa mà sự sụt cân lại có ý nghĩa
hơn trong việc tiên lượng các biến chứng phẫu thuật [25]. Dẫu vậy, BMI lại là chỉ số
có ý nghĩa đánh giá TTDD của bệnh nhân trước phẫu thuật, đồng thời BMI trước
phẫu thuật còn có ý nghĩa tiên lượng tỉ lệ sụt cân sau khi xuất viện 1 tháng [41].
Nghiên cứu tiến cứu trong 16 năm của Eugenia và CS cho thấy nhóm có tỉ lệ
BMI ≥40 kg/m2 có tỉ lệ tử vong tính theo tất cả các loại ung thư cao hơn so với nhóm
có BMI trong giới hạn bình thường là 52% (ở nam giới) và 62% (ở nữ giới). BMI có
liên quan tới ung thư nói chung và UTĐTT nói riêng. Mối liên quan này cũng phụ
thuộc vào giới và tuổi.
13
Doleman và CS tiến hành tổng quan các nghiên cứu phân tích sự ảnh hưởng của
BMI tới tỉ lệ tử vong do tất cả các nguyên nhân và tỉ lệ tử vong riêng phần do ung
thư. Kết quả cho thấy những bệnh nhân UTĐTT bị béo phì hoặc CED đều có tăng
nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân, nguy cơ tử vong riêng phần do ung thư, sự tái
phát, và có thời gian sống không có bệnh kém hơn so với những bệnh nhân có BMI
trong giới hạn bình thường. Những bệnh nhân thừa cân không có tăng nguy cơ đối
với các chỉ số nêu trên [34]. Tương tự, nghiên cứu của Schlesinger và CS cũng cho
kết quả những bệnh nhân UTĐTT CED sẽ tăng nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân
[35]. Đối với những bệnh nhân phẫu thuật UTĐTT, chảy máu trong quá trình phẫu
thuật cũng như thời gian phẫu thuật tăng lên ở những bệnh nhân thừa cân béo phì so
với những bệnh nhân có cân nặng bình thường. Tỉ lệ biến chứng sau phẫu thuật cũng
𝑥 100
𝐶â𝑛 𝑛ặ𝑛𝑔 𝑡ℎườ𝑛𝑔 𝑐ó
Sụt cân được đánh giá theo bảng sau:
Bảng 1.1 Phân loại mức độ sụt cân [44]
Thời gian
Sụt cân đáng kể
Sụt cân nghiêm trọng
1 tuần
1-2%
> 2%
1 tháng
5%
>5%
3 tháng
7.5%
>7.5%
6 tháng
đơn vị nồng độ albumin máu so với mức bình thường sẽ làm tăng 49% tỉ lệ tử vong
và 24% tỷ lệ bệnh trạng. Trong các mối liên quan giữa nồng độ albumin thấp và các
biến chứng sau phẫu thuật thì mối liên quan với các biến chứng ngoài vị trí mổ lại là
mối liên quan chặt chẽ hơn cả, đặc biệt là thời gian nằm viện [47].
1.2.2.5. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp tổng thể chủ quan
(Subjective Global Assesment- SGA)
Phương pháp đánh giá tổng thể chủ quan SGA đã được phát triển và áp dụng 40
năm qua với kĩ thuật đơn giản, có thể tập huấn cho nhân viên y tế để họ dễ dàng đánh
giá được TTDD cho bệnh nhân, đồng thời SGA có tính chính xác và thống nhất cao
nên SGA còn được công nhận là tiêu chuẩn để kiểm tra tính chính xác của các phương
pháp đánh giá và sàng lọc dinh dưỡng khác [48], [49]. SGA còn được khuyến khích
ưu tiên sử dụng nhờ tính chính xác, đơn giản, chi phí thấp và không tốn nhiều thời
gian so với các phương pháp đánh giá phức tạp khác cũng như các chỉ số hóa sinh
giúp đánh giá TTDD [50].
SGA là phương pháp đánh giá TTDD được Detsky và CS phát triển, dựa trên 2
cấu phần là đánh giá tiền sử và khám lâm sàng [48]. Đây được coi là phương pháp
vừa giúp đánh giá TTDD, vừa có giá trị tiên lượng biến chứng, thời gian nằm viện, tỉ
lệ bệnh tật và tỉ lệ tử vong. SGA còn là công cụ đơn giản để sàng lọc dinh dưỡng.
SGA thiếu tính nhạy cảm khi đánh giá sự thay đổi TTDD cấp tính, bởi vậy kết quả
16
của SGA không thống nhất cao với các phương pháp sàng lọc dinh dưỡng mới [49].
Nhờ các ưu điểm kể trên mà SGA được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu
ở các nước để đánh giá TTDD của đối tượng trong nhiều chuyên khoa, trong đó có
ung thư. Đối với UTĐTT nói riêng, không có bộ công cụ đơn lẻ đặc biệt nào được sử
dụng riêng. Tính chính xác của các bộ công cụ sử dụng để đánh giá TTDD trong
nhiều nghiên cứu UTĐTT khi đem so sánh với SGA (hoặc PG-SGA) có giá trị rất
khác nhau. Bởi vậy khi đánh giá TTDD trên những bệnh nhân UTĐTT, SGA (hoặc
nhưng có thể liên quan tới sự tích tụ đường máu trong cơ thể. Đái tháo đường ức chế
phản ứng viêm, nguyên bào sợi và hoạt động của tế bào nội mô, làm chậm lắng đọng
chất nền, chậm tái tạo vết thương và đóng mép da. Hơn nữa, tăng đường huyết gây
ức chế cạnh tranh với acid ascorbic vào nguyên bào sợi và bạch cầu [57]. Do đó cần
duy trì mức đường huyết ổn định ở giới hạn bình thường để tạo thuận cho quá trình
liền vết thương cũng như phục hồi sau phẫu thuật. Nghiên cứu cũng cho thấy việc
cho bệnh nhân dùng carbohydrate trước phẫu thuật làm giảm nhẹ số ngày nằm viện
của bệnh nhân [58].
Sự thiếu hụt protein nặng làm chậm lành vết thương do giảm tổng hợp collagen,
gia tăng nhiễm trùng, giảm độ căng da. Trong số các acid amin, có hai loại quan trọng
trong quá trình liền viết thương. Một là arginine, là tiền chất để tổng hợp collagen,
duy trì cân bằng nito, phóng thích yếu tố phát triển và kích thích lympho bào T và
liên quan đến tổng hợp ure, nitric oxide và creatinine phosphate. Creatinin glutamine,
là nguồn năng lượng cho tế bào lympho T và cần cho tăng sinh lympho bào, cũng có
vai trò trong kích thích đáp ứng viêm.
Vitamin A, vitamin C cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình liền vết
thương. Khi thiếu vitamin C sẽ làm chậm liền vết thương, bệnh nhân dễ bị nhiễm
trùng và nhiễm trùng nặng hơn. Cơ chế là do giảm tổng hợp collagen, thiếu màng
ngăn chặn vi trùng, suy giảm chức năng bạch cầu trung tính và bổ thể. Vitamin A có
tác dụng kích thích biểu mô hoá và lắng đọng collagen, gia tăng đáp ứng viêm. Những
bệnh nhân tổn thương nặng hay stress dẫn đến tăng nhu cầu vitamin A. Người ta thấy
vitamin A huyết thanh giảm sau bỏng, gãy xương và phẫu thuật. Ngoài ra, vitamin B
cũng ảnh hưởng đến quá trình lành vết thương do tác động lên sức đề kháng của bệnh
nhân [59].
Với những bệnh nhân thiếu protein năng lượng thường đi kèm với thiếu hụt
nhiều chất dinh dưỡng và vi chất, do đó sẽ tác động nhiều lên quá trình liền vết thương
18
19
Các loại rò tiêu hoá có thể gặp: rò ruột – da, ruột – ruột, ruột – bàng quang, ruột
– âm đạo.
+ Suy gan cấp: hiếm khi xảy ra, nhưng có tỉ lệ tử vong rất cao (80%).
Theo Bozetti và CS, có sự liên quan giữa các biến chứng sau phẫu thuật với sự
giảm cân và nồng độ albumin thấp [60], [61]. Các nghiên cứu chỉ ra, nhóm bệnh nhân
bị SDD trước phẫu thuật có tỉ lệ bị các biến chứng cả nhiễm trùng và không nhiễm
trùng đều cao hơn so với nhóm có TTDD tốt với odds ratio là 3,09, tỉ lệ tử vong cũng
cao hơn ở nhóm SDD [62], [63].
Ở những bệnh nhân phẫu thuật UTĐTT, tình trạng SDD trước phẫu thuật có ảnh
hưởng tới thời gian phẫu thuật, mất máu trong thời gian phẫu thuật, các biến chứng
phẫu thuật và tỉ lệ tử vong trong vòng 30 ngày [42]. Ở những bệnh nhân phẫu thuật
vùng đại trực tràng, tỉ lệ gặp rò miệng nối cao có thể từ 3,1%-11,6%. Đây là nguyên
nhân hàng đầu dẫn tới tử vong ở những bệnh nhân phẫu thuật đại trực tràng, thường
xảy ra vào ngày thứ 5 đến ngày thứ 8 sau phẫu thuật. Thừa cân béo phì là một trong
những yếu tố nguy cơ của rò miệng nối. Ngoài ra, trên những bệnh nhân được mổ nội
soi đại trực tràng thì BMI được coi như một yếu tố tiên lượng độc lập làm tăng thời
gian phẫu thuật. Thời gian phẫu thuật lại được coi là yếu tố nguy cơ của rò miệng nối
[61], [64].
1.4. Nuôi dưỡng bệnh nhân trước và sau phẫu thuật
1.4.1 Nhu cầu khuyến nghị dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư phẫu thuật
1.4.1.1 Theo hưỡng dẫn của ESPEN
Theo hướng dẫn của ESPEN năm 2016 về dinh dưỡng cho người ung thư,
khuyến cáo cho tất cả những bệnh nhân ung thư được phẫu thuật sẽ được quản lý
trong chương trình hồi phục nâng cao sau phẫu thuật. Những bệnh nhân có nguy cơ
SDD hoặc đã bị SDD được khuyến cáo hỗ trợ dinh dưỡng trong suốt quá trình nằm
viện và được theo dõi sau khi ra viện.
Nữ
Nam
Nữ
2010
1730
2000
1700
1870
1550
Protein (g/kg/ngày)
1,13
Lipid (% NL khẩu phần)
20-25
Canxi (mg/ngày)
800
10,0
8,0
9,0
7,0
Vitamin B1 (mg/ngày)
1,2
1,0
1,2
1,0
1,1
1,0
Vitamin B2 (mg/ngày)
1,4
1,2
1,4
1,7
1,5
700
800
650
Vitamin B9 (µg/ngày)
400
Vitamin B12 (µg/ngày)
2,4
Vitamin C (mg/ngày)
100
Vitamin A (µg/ngày)
900
Vitamin D (µg/ngày)
Vitamin E (µg/ngày)
Vitamin K (µg/ngày)
nhu cầu khuyến nghị cho bệnh nhân sau phẫu thuật ống tiêu hóa được chia làm
các giai đoạn:
Bảng 1.3 Nhu cầu khuyến nghị theo Bộ Y tế
Nhu cầu các chất dinh dưỡng
Cơ cấu khẩu phần
1. Giai đoạn khởi động ruột (1-2 ngày sau mổ)
NL: 35 – 40 Kcal/kg cân nặng hiện NL: 300- 500 Kcal/ngày
tại/ngày.
Protein: < 10g/ngày
Protein: 1- 1,2g/kg cân nặng hiện Lipid: < 5g/ngày
tại/ngày.
Glucid: 50 – 100g/ngày
Lipid: 15- 20% tổng năng lượng.
- Số bữa ăn: 6- 8 bữa/ngày.
- Nuôi một phần qua đường ruột, phần - Ăn lỏng hoàn toàn (nước cháo, nước quả
còn lại nuôi qua đường tĩnh mạch
chín)
2. Giai đoạn chuyển tiếp 1 (3-5 ngày sau mổ)
NL: 35- 40 Kcal/kg cân nặng hiện NL: 700 – 1000 Kcal/ngày
tại/ngày
– Protein: 1- 1,2g/kg cân nặng hiện tại. Lipid: < 20g/ngày
- Lipid: 15- 20% tổng năng lượng.
Glucid: 250- 330g/ngày
Số bữa ăn: 4- 6 bữa/ngày
4. Giai đoạn hồi phục (≥5 ngày sau mổ)
- Năng lượng: 1800- 1900 Kcal/ngày NL: 1800- 1900 Kcal/ngày
- Protein: 12- 14% tổng năng lượng
Protein: < 55 – 65g/ngày
- Lipid: 15- 25% tổng năng lượng. Lipid: < 40 – 50g/ngày
Acid béo chưa no một nối đôi chiếm Glucid: 275- 325g/ngày
1/3, nhiều nối đôi chiếm 1/3 và acid Natri: < 2400mg/ngày
béo no chiếm 1/3 trong tổng số Lipid Nước: 2- 2,5l/ngày
- Số bữa ăn: 4- 6 bữa/ngày
1.4.2. Tính cân đối của khẩu phần
Tính cân đối của chế độ ăn được thể hiện ở 3 điểm chính [14]:
* Cân đối giữa các yếu tố sinh năng lượng
Trong khẩu phần, năng lượng do protid cung cấp nên đạt 12-14%, trong đó 30%
là protid động vật, do lipid cung cấp nên đạt 15-20% (trung bình khoảng 18%), không
nên quá 30%, trong đó 1/3-1/2 là lipid thực vật. Phần còn lại năng lượng do glucid
cung cấp.
* Cân đối giữa các vitamin và các chất sinh năng lượng
3 vitamin có liên quan tới chuyển hóa các chất sinh năng lượng, cần được quan
tâm đến tỷ lệ cân đối là:
- Vitamin B1 là 0,4mg/1000 kcal
- Vitamin B2 là 0,55mg/1000 kcal
- Vitamin PP là 4 đương lượng Niacin/1000 kcal
trên những bệnh nhân sau mổ phẫu thuật 6 tuần cũng chỉ ra tỉ lệ SDD trên các bệnh
nhân này còn cao và chiếm 10,6%, trong đó nhóm bệnh nhân phẫu thuật tiết niệu –
sinh dục và bệnh nhân phẫu thuật dạ dày – ruột có tỉ lệ SDD cao hơn cả với 33,3%
và 20,6%. Tỉ lệ này cao gần tương đương với các nhóm nguy cơ cao về SDD ở trong
cộng đồng như nhóm bệnh nhân ung thư và nhóm bệnh nhân mắc các bệnh mạn tính
[53].
24
Nghiên cứu của Sungurtekin và CS cũng chỉ ra tỉ lệ SDD cao ở những bệnh
nhân phẫu thuật và tình trạng SDD còn gia tăng trong thời gian nằm viện. Tỉ lệ SDD
lên tới 44% và 61% bệnh nhân phẫu thuật bị SDD tại thời điểm nhập viện lần lượt
theo đánh giá bằng bộ công cụ SGA và NRI. Tỉ lệ SDD lần lượt tăng lên 67% và 82%
tại thời điểm xuất viện. Kết quả cũng cho thấy phần trăm sụt cân ở nhóm bệnh nhân
SDD nặng cao hơn nhóm có TTDD bình thường [63].
Tương tự, nghiên cứu của Beaton và CS trên 88 bệnh nhân UTTT trải qua
phẫu thuật vùng chậu đánh giá TTDD của bệnh nhân tại thời điểm nhập viện và thời
điểm ra viện, tỉ lệ SDD cũng tăng lên. TTDD được đánh giá bằng bộ công cụ SGA
cho kết quả: 23% bệnh nhân SDD mức độ nhẹ đến trung bình và 1% bệnh nhân SDD
nặng tại thời điểm nhập viện. Tại thời điểm ra viện, tỉ lệ SDD mức độ nhẹ đến vừa
tăng lên 42%, tỉ lệ SDD nặng tăng lên 9%. Nghiên cứu cũng chỉ ra BMI của bệnh
nhân trước phẫu thuật có liên quan tới sự sụt cân ở thời điểm 1 tháng sau khi xuất
viện [41].
Garth và CS nghiên cứu về TTDD và nuôi dưỡng trên những bệnh nhân ung thư
đường tiêu hóa trên và UTĐTT cho kết quả có đến 53% bệnh nhân có sụt cân đáng
kể trước phẫu thuật. Tỉ lệ này ở những bệnh nhân phẫu thuật UTĐTT là 52%. Theo
đánh giá bằng công cụ SGA, tỉ lệ bệnh nhân bị SDD là 48% (trong đó 16% là SDD
mức độ nặng). Về nuôi dưỡng bệnh nhân sau phẫu thuật, chỉ có 32% bệnh nhân là đạt
được 50% NCNL khuyến nghị vào ngày thứ 2 [25].