LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm khóa luận
một cách khoa học, chính xác và trung thực
Các kết quả, số liệu trong khóa luận này đều có thực, kết
quả thu được từ quá trình nghiên cứu của chúng tôi chưa được
đăng tải lên tài liệu khoa học nào.
Hà Nội,30 tháng 5 năm 2012
Người thực hiện
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Liên
LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp tiến hành đề tài nghiên cứu, với lòng kính trọng và biết ơn
sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu trường Đại học Y Hà nội, phòng đào tạo Đại học
trường Đại học Y Hà Nội, Viện Đào tạo Y Học Dự Phòng và Y Tế Công
Cộng, Bộ môn Dịch tễ học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn PGS. TS Nguyễn Trần Hiển người
thầy đã đưa ra ý kiến chỉnh sửa giúp tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn ThS. Lê Minh Giang, người đã trực tiếp
hướng dẫn dạy bảo, tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện khóa
luận này.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới bố mẹ, anh chị em, cùng
bạn bè tôi đã luôn ở bên, động viên, khuyến khích, giúp đỡ tôi rất nhiều trong
suốt sáu năm học, cũng như trong thời gian tôi làm khóa luận.
Hà Nội, Ngày 30 tháng 5 năm 2012
Nguyễn Thị Bích Liên
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CES-D The Centre for Epidemiological Studies- Depression Scale
CI Confident interval
SV Sinh viên
SVY2 Sinh viên khối Y2
cao sinh viên vừa phải trang bị một vốn kiến thức khổng lồ để hình thành nên
những kĩ năng nghề nghiệp, lại vừa phải tu dưỡng đạo đức để có thể trở thành
một bác sĩ tốt. Những yếu tố đó vô hình chung đã tạo nên một áp lực không
nhỏ tác động mạnh đến sức khỏe tinh thần và tâm sinh lý của sinh viên. Vì
các lý do này tôi đã thực hiện nghiên cứu:
1
“Nguy cơ trầm cảm ở một số khối sinh viên đa khoa trường Đại học Y
Hà Nội năm học 2010-2011 và một số yếu tố liên quan”
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Mô tả tỷ lệ có nguy cơ trầm cảm ở sinh viên Y2, Y4, Y6 đa khoa
trường Đại học Y Hà Nội năm học 2010-2011.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến nguy cơ trầm cảm ở sinh viên
Y2, Y4, Y6 đa khoa trường Đại học Y Hà Nội năm học 2010-2011.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm về trầm cảm
Theo tác giả Nguyễn Minh Tuấn [8], rối loạn trầm cảm là một trạng
thái rối loạn cảm xúc có những đặc điểm sau:
- Nỗi buồn sinh thể (đau khổ tâm thần vô biên)
- Ức chế tư duy và hoạt động (chậm chạp, mất trí)
- Rối loạn giấc ngủ và các chức năng sinh học
- Tiên lượng: Có liên quan tới nguy cơ tự sát. Nguy cơ này hiện diện suốt
quá trình bệnh lý. Do vậy cần giám sát chặt chẽ bệnh nhân.
1
Về quá trình hình thành cơn trầm cảm, các tình huống xuất hiện có thể
bao gồm:
- Thông thường tiến triển âm ỉ
- Đôi khi đột ngột (khởi đầu bằng tự sát)
- Có thể kế tiếp sau cơn hưng cảm
- Sau một sang chấn tâm thần hoặc cơ thể (bệnh tật, về hưu, tang tóc)
- Có thể do dùng thuốc có tác dụng phụ gây trầm cảm
cảm, trong đó có các trắc nghiệm của Beck và Hamilton, được các tác giả
trong nước thường dùng và đã được chuẩn hóa ở Việt Nam, tại Viện Sức
Khỏe Tâm Thần Quốc Gia.
Thang tự đánh giá trầm cảm của Beck (Beck Depression Inventory),
được Beck AT (Mỹ) và cộng sự xây dựng năm 1974, gợi ý từ những quan sát
lâm sàng bệnh nhân trầm cảm, nhất là từ liệu pháp tâm thần. Test này được
WHO công nhận để đánh giá trạng thái trầm cảm và hiệu quả của các phương
pháp điều trị, và là test được dùng phổ biến tại Viện Sức Khỏe Tâm Thần
Quốc Gia từ năm 1989. Test Beck bao gồm 21 câu hỏi đánh số thứ tự từ 1 đến
21, mỗi câu có từ 4 đến 6 mục nhỏ, tổng cộng 95 mục nhỏ. Mỗi mục đi sâu
khảo sát từng đặc điểm của trầm cảm ở các mức điểm 0, 1, 2, 3. Kết quả được
phân tích theo các mức độ:
+ < 14 điểm: Không có trầm cảm
+ 14-19 điểm: Trầm cảm nhẹ
+ 20-29 điểm: Trầm cảm vừa
+ ≥ 30 điểm: Trầm cảm nặng
Thanh đánh giá trầm cảm của Hamilton, ra đời năm 1960, là một
phương pháp đơn giản để đánh giá bằng định lượng mức độ nghiêm trọng của
tình trạng trầm cảm, và để chứng minh những chuyển biến của rối loạn này
trong quá trình điều trị. Thang điểm được xây dựng dựa trên bộ câu hỏi gồm
14 câu, trong đó 7 câu để đánh giá mức độ trầm cảm và 7 câu đánh giá mức
độ lo âu.
Mỗi câu được đánh giá ở các mức điểm 0, 1, 2, 3. Kết quả được phân
tích theo các mức độ:
+ 7 điểm: Bình thường
1
+ 8-10 điểm: Dấu hiệu trầm cảm hoặc lo âu
+ 11-21 điểm: Trầm cảm hoặc lo âu thực sự
Ngoài ra còn có các thang đánh giá khác như DASS (Thang đánh giá Lo âu
– Trầm cảm – Stress), thang GDS (thang đánh giá trầm cảm người già), ….
tâm thần phổ biến nhất. Theo nhiều tác giả trầm cảm chiếm tỷ lệ 3% - 5% dân
số [11]. N.A.Satorious và A.S.Jablenski 1984 đã công bố có khoảng 3% - 5%
dân số trên hành tinh chúng ta tức là gần 200 triệu người, đã lâm vào trạng
thái trầm cảm rõ rệt. Nhiều nghiên cứu mới ở Anh, Pháp, Mỹ và khu vực châu
Âu nêu tỷ lệ mắc mới trầm cảm (lifetime incidence) từ 15% - 24% [7].
Theo nghiên cứu được công bố trên Tạp chí 2010 của Hiệp hội Y khoa
Mỹ [9], mặc dù thiếu niên tự tử đã giảm sút kể từ năm 1996, năm 2004 tỷ lệ
đã tăng 18%. Theo nghiên cứu mới, tốc độ năm 2005 đã đi xuống, nhưng
không nhiều. Tỷ lệ là khoảng 4,5% trên 100.000 dân.
Khoảng 18.800.000 người Mỹ trưởng thành, chiếm khoảng 9,5% độ
tuổi dân số Hoa Kỳ từ 18 tuổi trở lên, bị rối loạn trầm cảm trong một năm,
trong đó tỷ lệ gặp ở phụ nữ cao gấp gần 2 lần nam giới (12% so với 6,6%).
Năm 1997 có 30.535 người chết vì tự tử tại Hoa Kỳ. Tỷ lệ tự tử ở người trẻ
gia tăng đáng kể trong vài thập kỷ qua. Trong năm 1997, tự tử là nguyên nhân
thứ 3 trong số những nguyên nhân tử vong hàng đầu ở lứa tuổi từ 15 đến 24,
khoảng 19.100.000 người Mỹ trưởng thành tuổi từ 18 đến 54, chiếm 13,3%
người dân trong nhóm tuổi này, có một hội chứng rối loạn lo âu. Rối loạn lo
âu thường xuyên xảy ra cùng với các rối loạn trầm cảm, rối loạn ăn uống hoặc
lạm dụng thuốc [11].
1.3.2. Một số nghiên cứu tại Việt Nam về trầm cảm
Theo Báo cáo kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên Việt Nam lần
thứ II năm 2009 (SAVY II) cho biết, trong số 10039 thanh thiếu niên được
1
điều tra tại Việt Nam ở độ tuổi từ 14 đến 25, trả lời, có 73,1% người từng có
cảm giác buồn chán, có 27,6% thanh thiếu niên đã trải qua cảm giác rất buồn
hoặc thấy mình là người không có ích đến nỗi không muốn hoạt động như
bình thường (trong số 10035). Tỷ lệ thanh thiếu niên đã từng cảm thấy hoàn
toàn thất vọng về tương lai là 21,3% (trong tổng số 10030 người). Chỉ có
4,1% người (trong số 10037 thanh thiếu niên) đã từng nghĩ đến chuyện tự tử.
So sánh số liệu của hai cuộc điều tra, có thể thấy có sự tăng lên tỷ lệ thanh
căng thẳng vào cuối thời gian đào tạo lâm sàng [13].
Trong nghiên cứu ở sinh viên một trường trung cấp Y Thái Lan 61,4%
sinh viên cảm thấy có căng thẳng; 59% thấy căng thẳng nhẹ; 2,4% cảm thấy
rất căng thẳng [16].
Trong nghiên cứu sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Y Dược thành
phố Hồ Chí Minh, cho thấy 39,6% sinh viên có triệu chứng trầm cảm và
60,4% sinh viên không có triệu chứng trầm cảm [14].
Trường Đại học Y Hà Nội là một trong số ít các trường đại học lớn có
điểm chuẩn đầu vào rất cao, sinh viên thi đỗ vào trường thường có học lực khá
giỏi và họ tự đặt ra cho mình mục tiêu thành công trong học tập rất lớn. Trong
2 năm đầu sinh viên được học các môn cơ sở và một số môn tiền lâm sàng. Từ
năm thứ 3 sinh viên bắt đầu đi lâm sàng tại các bệnh viện. Năm thứ 4 sinh viên
vẫn tiếp tục đi bệnh viện và đi trực. Năm thức 5 sẽ học các chuyên khoa lẻ và
năm thứ 6 chuẩn bị cho tốt nghiệp. Vì vậy mà áp lực học tập ở những sinh viên
trường Đại học Y là rất lớn. Mặc dù chưa có các nghiên cứu về trầm cảm ở sinh
viên Đại học Y Hà Nội, nhưng đã có một số khảo sát về tình hình sức khỏe
được tiến hành trên sinh viên trường Y. Theo kết quả nghiên cứu: “Thực trạng
nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh viên và khả năng đáp ứng của trạm y tế trường
Đại học Y Hà Nội năm 2009” [4]. Tỉ lệ sinh viên bị ốm trong vòng 4 tuần là
48,8%; trong vòng 12 tháng là 49,7%. Mức độ ốm và các nhóm bệnh thường
gặp: 78,2% ốm ở mức độ nhẹ và nguyên nhân chủ yếu là bệnh cấp tính
(81,8%). Tỉ lệ mắc tật khúc xạ: 59,5% phần lớn là cận thị. Các loại bệnh sinh
viên mắc trong vòng 12 tháng qua chủ yếu tập trung vào nhóm bệnh: sốt, cảm
lạnh, cảm cúm chiếm tới 24,5%; sau đó là viêm họng (11,4%), các loại sốt
1
virus, sốt phát ban (9,7%), viêm loét dạ dày cúng chiếm một tỉ lệ (5,7%). Trả
lời câu hỏi về mức độ quan tâm tới sức khỏe của bản thân thì 55,3% sinh viên
trả lời muốn kiểm tra sức khỏe nhưng không có tiền, không có thời gian, chỉ có
1,7% sinh viên không quan tâm tới sức khỏe.
1.5. Khung lý thuyết
hệ cá nhân
với gia
đình, bạn
bè, xã hội
Đặc điểm
chung
Nguy cơ trầm cảm
1
2.3.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu:
- Cỡ mẫu được tính theo công thức của cỡ mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo 3
khối sinh viên sử dụng phần mềm WHO Sample Size 2.0:
Với α là ý nghĩa thống kê ở mức α = 0,05 và giá trị Z tương ứng là 1,96 (với
α=0,05)
d : Mức độ sai trệch tuyệt đối mong đợilà 0,03
L: Số tầng là 3
P
h
: Tỷ lệ sinh viên có nguy cơ trầm cảm ở tưng khối (Lấy đều bằng 0,396
theo nghiên cứu ở sinh viên năm nhất trường Đại học Y Dược Thành Phố Hồ
Chí Minh)
Theo công thức trên thì cỡ mẫu nghiên cứu được tính và cỡ mẫu thực tế
như sau:
1
Bảng 2.1: Bảng phân bổ cỡ mẫu điều tra theo khối
ST
T
Khối
sinh
viên
Kích
Nơi ở
Sống cùng ai
Định lượng
Định tính (Nhị phân)
Định tính (Danh mục)
Định tính (Nhị phân)
Định tính (Danh mục)
Định tính (Danh mục)
Mục tiêu 1: Mô tả tỷ lệ có nguy cơ trầm cảm ở sinh viên Y2, Y4, Y6 đa
khoa trường Đại học Y Hà Nội năm học 2010-2011.
Tỷ lệ có nguy cơ
trầm cảm
Tỷ lệ sinh viên có nguy cơ trầm
cảm theo khối
Mục tiêu 2: Mô tả một số yếu tố liên quan đến nguy cơ trầm cảm ở sinh
viên Y2, Y4, Y6 đa khoa trường Đại học Y Hà Nội năm học 2010-2011.
Đặc điểm chung Giới
Dân tộc
Tôn giáo
Xử lý khi gặp khó khăn
Mức độ hài lòng với sự hỗ trợ
Mối quan hệ cá
nhân với gia
đình, bạn bè, xã
Khó khăn trong việc tìm bạn mới
Phải làm việc với người không
quen biết
1
Nhóm biến số Biến số Phân loại biến
hội Mâu thuẫn với bạn cùng phòng
Tìm công việc hoặc trường học
(chuẩn bị cho sau khi tốt nghiệp)
Bỏ nhiều tiết học
Chuẩn bị, mong đợi tốt nghiệp
Tranh cãi (bất đồng, xích mích)
với thầy cô
Các yếu tố stress
từ môi trường
sống và làm việc
Tăng áp lực học hành
Điểm thấp hơn mong đợi
Thay đổi chuyên ngành
Tìm công việc hoặc trường học
(chuẩn bị cho sau khi tốt nghiệp)
Bỏ nhiều tiết học
Chuẩn bị, mong đợi tốt nghiệp
Tranh cãi (bất đồng, xích mích)
với thầy cô
Chuyển trường
1
2.3.4. Phương pháp và công cụ thu thập thông tin:
2.3.4.1. Công cụ thu thập số liệu:
Để đánh giá về trầm cảm của sinh viên chúng tôi sử dụng thang đo
CES-D20 đã được chuẩn hóa qua nghiên cứu của tác giả Đỗ Đình Quyên ở
nhóm sinh viên Y khoa năm thứ nhất Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí
Minh [14].
∗ Đánh giá độ tin cậy của thang đo
Bảng 2.3 : Độ tin cậy của thang đo CESD-20
N
items
- Những sinh viên tham gia nghiên cứu sẽ được gửi giấy mời tham gia
nghiên cứu, gửi mã cá nhân, giải thích đầy đủ mục đích, tính bảo mật của
nghiên cứu, thời gian cần thiết để hoàn thành một phiếu điều tra, và trên cơ
sở đó quyết định có tham gia nghiên cứu hay không.
- Sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu được tổ chức điều tra theo lớp.
- Phiếu điều tra không thu thập các thông tin để nhận diện đối tượng nghiên cứu.
2.3.5. Quản lý, xử lý và phân tích số liệu:
- Số liệu được làm sạch trước khi nhập liệu.
- Số liệu điều tra được nhập vào máy tính với phần mềm EPI-DATA.
- Việc phân tích được tiến hành dựa trên phần mềm SPSS16.
2.3.6. Các khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu:
- Nghiên cứu được sự đồng ý của Ban giám hiệu, Phòng đào tạo Đại học và
các phòng, ban liên quan.
- Việc tham gia của sinh viên hoàn toàn trên cơ sở mong muốn tự nguyện
tham gia sau khi đã được giải thích rõ về mục đích và ý nghĩa của nghiên
cứu.
- Đảm bảo bí mật các thông tin mà đối tượng tham gia nghiên cứu cung cấp.
- Thông tin thu thập trung thực, khách quan.
- Thông tin thu thập chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
1
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu:
Bảng 3.1: Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu
Các đặc điểm chung
SVY2
N=232
n(%)
SVY4
N=192
n(%)
Sống ở nhà riêng 5(2,2) 7(3,7) 3(1,8) 15(2,5) 1,5
Ký túc xá 72(31,2) 63(33,0) 61(35,9) 196(33,1) 1,0
Nhà trọ 97(42,0) 75(39,3) 42(24,7) 214(36,1) 13,9
***
Ở nhà người quen, họ
hàng
26(11,3) 12(6,3) 8(4,7) 46(7,8) 6,7
*
Sống với ai
Một mình 11(4,8) 9(4,7) 5(3,0) 25(4,3) 0,9
Bạn bè 141(61,0) 108(56,5) 77(46,7) 326(55,5) 8,2
*
Người quen 5(2,2) 4(2,1) 2(1,2) 11(1,9) 0,6
Họ hàng 27(11,7) 9(4,7) 8(4,8) 44(7,5) 9,7
**
Gia đình 47(20,3) 61(31,9) 73(44,2) 181(30,8) 25,9
***
Nơi sinh
Hà Nội 29(12,5) 42(21,9) 54(31,8) 125(21,0)
22,0
***
Khác 203(87,5) 150(78,1) 11668,2) 469(79,0)
*: p<0,05; ** :p<0,01; ***: p<0,001
Nhận xét: Có xu hướng tỷ lệ nam giảm ở Y4, Y6 và tỷ lệ nữ ngược lại,
sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê (χ
2
=6,54; p=0,038). Tuổi trung bình
sinh viên là 22,03 tuổi ít nhất là 19 cao nhất 29. Hầu hết sinh viên là dân tộc
1
Kinh (99% ) và không theo tôn giáo nào (96%). Chủ yếu sinh viên sống ở kí
với những điều mà
trước đây
bình
thường đối với
tôi
282(47,4) 0,6 0,53-0,65
CES-D2.Tôi cảm thấy không
thèm ăn
hoặc
ăn không thấy ngon
miệng
328(55,2) 0,7 0,68-0,8
CES-D3.Tôi cảm thấy không thể
thoát
khỏi
nỗi buồn dù gia đình
hoặc bạn bè
giúp đỡ
265(44,6) 0,6 0,56-0,69
CES-D4.Tôi cảm thấy mình tốt
bình
thường
như bao người
khác
546(91,9) 2,3 2,24-2,4
CES-D5.Tôi cảm thấy khó khăn
khi
kiểm
soát suy nghĩ của mình
(khó tập
dấu
hiệu/hành
vi
n(%)
Giá trị
trung
bình
*
95%CI của
giá trị trung
bình
giấc
CES-D12.Tôi cảm thấy mình
hạnh phúc
566(95,2) 2,1 2,03-2,17
CES-D13.Tôi cảm thấy mình nói
ít hơn bình thường
407(68,5) 1,1 0,96-1,1
CES-D14.Tôi cảm thấy cô đơn 355(59,7) 0,8 0,75-0,88
CES-D15.Mọi người không thân
thiện với tôi
257(43,2) 0,6 0,49-0,6
CES-D16.Tôi được tận hưởng
cuộc sống
549(92,4) 1,9 1,79-1,94
CES-D17.Tôi đã có lúc khóc lóc 318(53,5) 0,7 0,64-0,76
CES-D18.Tôi cảm thấy buồn 494(83,1) 1,1 1,0-1,11
CES-D19.Tôi cảm thấy mọi
người không thích mình
327(55,0) 0,7 0,6-0,71
nỗi buồn dù gia đình hoặc bạn bè
giúp đỡ” (χ
2
=6,98; p=0,03);
CES-D4 “
Tôi cảm thấy mình tốt bình
thường
như bao người
khác” (χ
2
=6,08;
p=0,04); CES-D9 “
Tôi nghĩ cuộc sống mình chỉ
toàn
là thất
bại” (χ
2
=8,56;
p=0,014); CES-D13 “
Tôi cảm thấy mình nói ít hơn
bình thường” (χ
2
=10,25;
1
p=0,006); CES-D14 “
Tôi cảm thấy cô
đơn” (χ
2
=6,03; p=0,049). (Nội dung so
sánh giữa các khối được trình bày chi tiết trong phần phụ lục)
Đặc điểm chung
SV có trầm
cảm
N=283
n(%)
SV không có
trầm cảm
N=311
n(%)
χ
2
Giới
Nam 134(47,3) 190(61,1)
11,3
***
Nữ 149(52,7) 121(38,9)
Dân tộc
Kinh 281(99,3) 309(99,4)
0,01
Khác 2(0,7) 2(0,6)
Tôn giáo
Có 10(3,5) 14(4,5)
1,2
Không 272(96,1) 294(94,5)
Xử trí khi gặp khó khăn
Tự giải quyết bằng các cách khác nhau
Có 208(73,5) 246(79,1) 2,6
1
Đặc điểm chung
SV có trầm
Uống bia, rượu, hút thuốc
Có 8(2,8) 5(1,6)
1,03
Không 275(97,2) 306(98,4)
Mức độ hài lòng với sự hỗ trợ
Hài lòng 262(92,6) 297(95,5)
2,3
Không hài lòng 21(7,4) 14(4,5)
*
: p< 0,05
**
:
p< 0,01
***
: p< 0,001.
Nhận xét: Có sự khác biệt về giới giữa tỷ lệ sinh viên có nguy cơ trầm
cảm và không có nguy cơ trầm cảm (χ2=11,3; p=0,001). Khi gặp khó khăn,
sinh viên tự giải quyết bằng các cách khác nhau có nguy cơ trầm cảm cao
(73,5). Những sinh viên hài lòng với sự giúp đỡ có nguy cơ trầm cảm thấp
hơn những người cảm thấy không hài lòng (46,9% và 60%).
3.3.3. Nguy cơ trầm cảm và mối quan hệ cá nhân với gia đình, bạn bè, xã
hội
1
Bảng 3.5 : Nguy cơ trầm cảm và mối quan hệ cá nhân với gia đình, bạn bè, xã
hội
Mối quan hệ cá nhân với
gia đình, bạn bè, xã hội
SV có nguy cơ
trầm cảm
F5 Đánh nhau với bạn
Có
4(1,4) 6(2,0)
0,3
Không
274(98,6) 296(98,0)
F6 Gặp rắc rối với ba mẹ
Có
103(37,6) 69(22,8)
14,9
***
Không 171(62,4) 233(77,2)
*
: p< 0,05
**
:
p< 0,01
***
: p< 0,001.
Nhận xét: Trong các mối quan hệ cá nhân với gia đình, bạn bè, xã hội:
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ có nguy cơ trầm cảm khi sinh viên
gặp khó khăn: trong việc tìm bạn mới (χ2=22,0; p=0,001) hay thay đổi các
hoạt động tham gia bên ngoài xã hội (χ2=16,1; p=0,001). Mâu thuẫn với bạn
cùng phòng, hay gặp rắc rối với bố mẹ thì tỷ lệ có nguy cơ trầm cảm cao hơn
tương ứng (χ2=20,4; p=0,001) và (χ2=14,9; p=0,001).
3.3.4. Nguy cơ trầm cảm và yếu tố thuộc về bản thân sinh viên
1
Bảng 3.6 : Nguy cơ trầm cảm và yếu tố thuộc về bản thân sinh viên
Yếu tố thuộc về bản
Không 97(34,4) 148(48,1)
F11 Đạt thành tích học tập xuất sắc
Có
55(21,4) 54(18,8)
0,6
Không 202(78,6) 234(81,2)
F12 Khó khăn về tài chính
Có
159(57,6) 153(50,7)
2,8
Không 117(42,4) 149(49,3)
F13 Phát biêu trước công chúng
Có 109(39,5) 99(32,8)
2,8
Không 167(60,5) 203(67,2)
F14 Thay đổi niềm tin tôn giáo
Có 15(5,5) 8(2,7)
3,0
Không 258(94,5) 293(97,3)
F15 Vi phạm lỗi nhỏ của bất kỳ luật nào
Có
114(41,0) 115(37,8)
0,6
Không 164(59,0) 189(62,2)
F16 Giảm sút sức khỏe
Có 185(66,8) 138(45,4)
26,9
***
Không 92(33,2) 166(54,6)
F17 Có việc làm