BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ DIỆU
HÀNH VI NGUY CƠ BỆNH KHÔNG LÂY NHIỄM VÀ
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI DÂN TỪ 18 ĐẾN
69 TUỔI TẠI HÀ NỘI NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ DIỆU
HÀNH VI NGUY CƠ BỆNH KHÔNG LÂY NHIỄM VÀ
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI DÂN TỪ 18 ĐẾN
69 TUỔI TẠI HÀ NỘI NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
TS Nguyễn Thị Thi Thơ
HÀ NỘI, 2016
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................................................................21
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU........................................................................................30
BÀN LUẬN................................................................................................................. 63
KẾT LUẬN.................................................................................................................76
1. Một số hành vi nguy cơ bệnh không lây nhiễm ở người dân từ 18 – 69 tuổi của
người dân thành phố Hà Nội, 2016...........................................................................76
KHUYẾN NGHỊ........................................................................................................78
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................79
iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCH:
Bộ câu hỏi
BKLN:
Bệnh không lây nhiễm
BMI:
Body Mass Index - Chỉ số khối cơ thể
DALY:
Disability- Adjusted Life Year - Số năm sống điều chỉnh theo bệnh tật
NVYT:
Yếu tố nguy cơ
WHO
World Health Organization – Tổ chức Y tế thế giới
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Nhóm tuổi và giới của đối tượng tham gia nghiên cứu...........................30
Bảng 3.2. Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới................30
Bảng 3.3. Tình trạng dân tộc của đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi...............31
Bảng 3.4. Tình trạng việc làm theo tuổi và giới.......................................................32
Bảng 3.5. Tình trạng hôn nhân theo nhóm tuổi và giới...........................................33
Bảng 3.6. Tỷ lệ % sử dụng thuốc lá..........................................................................34
Bảng 3.7. Tỷ lệ tuổi bắt đầu hút chia theo nhóm tuổi..............................................35
Bảng 3.8. Trung bình số điếu thuốc hút 1 ngày của đối tượng nghiên cứu............36
Bảng 3.9. Tỷ lệ sử dụng rượu bia..............................................................................37
Bảng 3.10. Tỷ lệ (%) đối tượng nghiên cứu sử dụng rượu ở mức có hại (≥ 6 đơn vị
cồn/1 lần uống trong vòng 30 ngày qua) (trong tổng số đối tượng nghiên cứu)....38
Bảng 3.11. Số ngày trung bình ăn trái cây trong 1 tuần điển hình của đối tượng
nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới............................................................................38
Bảng 3.12. Số ngày trung bình ăn rau trong một tuần điển hình của đối tượng
nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới............................................................................39
Bảng 3.13. Tỷ lệ (%) đối tượng nghiên cứu ăn ít hơn 5 đơn vị chuẩn rau và trái
cây trong 1 ngày.........................................................................................................39
Bảng 3.14. Tỷ lệ (%) đối tượng nghiên cứu luôn luôn hoặc thường xuyên thêm
muối hoặc thêm nước mắm vào thức ăn của họ trước khi ăn hoặc khi đang ăn...41
Bảng 3.15. Tỷ lệ người thường xuyên/luôn luôn ăn thức ăn chế biến sẵn có nhiều
muối............................................................................................................................ 41
một số yếu tố...............................................................................................................61
vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH
vii
viii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu Hành vi nguy cơ bệnh không lây nhiễm và một số yếu tố liên
quan ở người dân từ 18 đến 69 tuổi tại Hà Nội năm 2016 sử dụng phương pháp tiếp
cận chuẩn hoá STEPs (STEPwise apporoach for NCD risk factor surveillance) của
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho đối tượng 18 – 69 tuổi với 2 mục tiêu chính: (i)
Xác định tỷ lệ một số hành vi nguy cơ của bệnh không lây nhiễm, (ii) Xác định một
số yếu tố liên quan tới các hành vi nguy cơ này.
Nghiên cứu áp dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang, sử dụng phương pháp
chọn mẫu nhiều giai đoạn, phân tầng theo nhóm tuổi và giới để chọn ra cỡ mẫu đại
diện cho quần thể 18 – 69 tuổi tại Hà Nội. Quá trình điều tra gồm 3 bước (STEPS):
Bước 1 thu thập số liệu về nhân khẩu học và các yếu tố hành vi nguy cơ (hút thuốc
lá, sử dụng rượu bia, chế độ ăn không hợp lý và thiếu hoạt động thể lực); bước 2
tiến hành đo chiều cao, cân nặng và huyết áp; bước 3 làm xét nghiệm đường huyết,
cholesterol máu, kèm theo lấy mẫu nước tiểu để định lượng hàm lượng muối tiêu
thụ. Trong khuôn khổ nghiên cứu này chỉ trình bày kết quả bước 1 nhằm tìm hiểu
các hành vi nguy cơ của bệnh không lây nhiễm và các yếu tố liên quan. Tổng số
người được chọn tham gia nghiên cứu là 3.300 người, trong đó 2.946 người đồng ý
tham gia (tỷ lệ tham gia là 89,27%). Phân tích số liệu nghiên cứu được tiến hành
sức khoẻ nhằm loại bỏ, hạn chế các hành vi nguy cơ bệnh không lây nhiễm, trong
đó tập trung vào các đối tượng như nam giới, nhóm tuổi trẻ, đối tượng làm việc tại
các cơ quan nhà nước. Kết quả của nghiên cứu là cơ sở xây dựng kế hoạch chiến
lược phòng chống bệnh không lây nhiễm tại Hà Nội giai đoạn 2017 – 2025.
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), các bệnh không lây nhiễm (BKLN) chủ
yếu hiện nay gồm có 4 nhóm bệnh chính: tim mạch, đái tháo đường tuýp 2, ung thư
và bệnh hô hấp mạn tính (hen phế quản và phổi tắc nghẽn mạn tính) [31]. Ước tính
đến năm 2020, tử vong do các BKLN trên toàn cầu lên tới 44 triệu người và sẽ tiếp
tục gia tăng tới 52 triệu người vào năm 2030. Đặc biệt, ở những nước thu nhập thấp
và trung bình thấp trong đó có Việt Nam, tới năm 2030, gánh nặng tử vong do
BKLN sẽ tăng gấp 5 lần so với số tử vong của rất nhiều bệnh khác cộng lại [63].
Việt Nam đang phải đối mặt với sự gia tăng ngày càng trầm trọng của các
BKLN. WHO ước tính trong năm 2012, Việt Nam có 520.000 trường hợp tử vong
do tất cả các nguyên nhân, trong đó tử vong do các BKLN chiếm tới 73% (379.000
ca) và 66,2% tổng gánh nặng bệnh tật toàn quốc là do các BKLN [65] [30].
Mặt khác, theo WHO các BKLN nói trên đều có chung yếu tố nguy cơ
(YTNC) về hành vi như hút thuốc lá, uống rượu, bia, dinh dưỡng không hợp lý và
thiếu hoạt động thể lực [31]. Các YTNC về hành vi đóng một vai trò rất lớn trong
việc gây ra BKLN. Và các yếu tố nguy cơ này có thể can thiệp, phòng chống được.
Kiểm soát tốt các YTNC về hành vi là cách hiệu quả nhất trong phòng BKLN. Theo
số liệu của WHO, 80% bệnh tim- mạch, đái tháo đường và 40% ung thư có thể
phòng được thông qua thực hiện lối sống lành mạnh loại bỏ các YTNC về hành vi
[57], [60]. Trong chiến lược quốc gia phòng chống bệnh ung thư, đái tháo đường,
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản và các bệnh không lây khác giai đoạn
2015 – 2025, kiểm soát YTNC hành vi là một trong những mục tiêu quan trọng.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.
Gánh nặng bệnh không lây nhiễm trên Thế giới và Việt Nam
1.1.1. Một số khái niệm
Bệnh không lây nhiễm là các bệnh mạn tính, không lây truyền, phát triển và
tiến triển chậm kéo dài trong nhiều năm, đòi hỏi việc điều trị có hệ thống và lâu dài
thậm chí cả cuộc đời.
Có nhiều BKLN khác nhau, tuy nhiên, hiện nay thế giới và Việt Nam đang
ưu tiên phòng, chống các bệnh tim mạch, bệnh đái tháo đường, ung thư và bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính vì là những bệnh có tỷ lệ mắc cao và là nguyên nhân chủ
yếu gây tàn tật và tử vong ở hàng đầu, tạo nên những thách thức lớn đối với nền y tế
của các nước.
Các BKLN này còn có chung các yếu tố nguy cơ (các yếu tố góp phần làm
bệnh phát triển) thuộc hành vi lối sống như hút thuốc lá, uống rượu, bia, chế độ ăn
không hợp lý và thiếu hoạt động thể lực [4].
1.1.2. Gánh nặng bệnh không lây nhiễm trên Thế giới
Các BKLN là thách thức của toàn cầu và đang là gánh nặng rất lớn đối với
xã hội và hệ thống Y tế. Hiện nay, các BKLN thường bị hiểu nhầm chỉ là vấn đề sức
khỏe của các nước có thu nhập cao. Trong khi đó, 80% gánh nặng của các bệnh này
chủ yếu là ở các nước có thu nhập thấp và trung bình [54].
Tử vong do các BKLN luôn chiếm tỷ lệ cao và có xu hướng tăng lên ở hầu
hết các quốc gia trên thế giới. Theo Nghiên cứu gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm
2014, trong tổng số 56 triệu ca tử vong năm 2012, có 68% là do các BKLN [31].
Như vậy, tỷ lệ này tăng 30% so với năm 1990, chủ yếu do tăng trưởng dân số và già
hóa dân số [47]. Điều đáng báo động là các ca tử vong do các BKLN ở các nước
đang phát triển xảy ra ở nhóm tuổi trẻ hơn. Theo Báo cáo BKLN toàn cầu, năm
2014, có khoảng 42% các ca tử vong do BKLN là ở những người dưới 70 tuổi; 48%
Biểu đồ 1.1: Xu hướng mô hình bệnh tật đo đường bằng DALY 1990-2010
Năm 2012 ước tính có 520.000 trường hợp tử vong vì BKLN tại Việt
Nam, chiếm 73% tổng số nguyên nhân tử vong. Trong đó, tử vong do bệnh
tim mạch chiếm 33%, ung thư 18%, các bệnh đường hô hấp mạn tính chiếm
7% và đái tháo đường 3% [62].
6
Biểu đồ 1.2: Xu hướng bệnh tật tại bệnh viện tại Việt Nam năm 2012
Niên giám thống kê của Bộ Y tế trong những năm 1979, 1986, 2006 và 2013
cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân mắc BKLN trong số bệnh nhân nhập viện ngày càng cao.
Tỷ lệ này từ 42,65% vào năm 1976 và chỉ giảm nhẹ xuống 39% vào năm 1986 rồi
tăng lên 50,02% (1996), 62,40% (2006) và 63.50% (2013). Trong khi đó, tỷ lệ mắc
bệnh truyền nhiễm trong những năm này tăng nhẹ từ 55,50% lên 59,20% rồi giảm
mạnh xuống 37,63% (1996), 24,94% (2006) và 25,33% (2013) [4].
Biểu đồ 1.3: Xu hướng mắc bệnh tại các bệnh viện [4]
Cũng theo Niên giám thống kê của Bộ Y tế tỷ lệ chết do các BKLN trong
tổng số ca tử vong tại các bệnh viện cũng gia tăng. Chết do BKLN từ 44,71%
7
(1976) giảm nhẹ xuống 41,8% (1986) rồi tăng lên 43,68% (1996); 61,62% (2006)
và 69,63% (2013). Chết do bệnh truyền nhiễm giảm từ 53,06% xuống 52,10% rồi
xuống 33,13%; 13,23% và 12,23% (2013) [4].
Biểu đồ 1.4: Xu hướng bệnh tật tại bệnh viện tại Việt Nam năm 2013
vong tương đương 74.710 ca tử vong và 8,8% tổng gánh nặng bệnh tật tính bằng
DALY, chủ yếu là do các BKLN (97% tổng tử vong và 94% tổng số DALY liên
quan hút thuốc lá là do BKLN) [42].
Hút thuốc là nguyên nhân chính gây ung thư phổi, khoảng 87% trong số
177.000 ca mới mắc ở Mỹ năm 1996 là do thuốc lá, còn lại là do các nguyên nhân
khác như: ô nhiễm môi trường, bệnh nghề nghiệp, ăn uống, cơ địa và các yếu tố di
truyền. 90% trong số 660.000 ca được chẩn đoán ung thư phổi hàng năm trên thế
giới là người hút thuốc lá. Giả định nguy cơ của những người không hút thuốc lá bị
ung thư phổi là 1 thì nguy cơ bị ung thư phổi của những người hút thuốc cao hơn
gấp 10 lần so với những người không hút thuốc. Các loại ung thư các bộ phận thuộc
đầu và cổ bao gồm ung thư thực quản, thanh quản, lưỡi, tuyến nước bọt, môi, miệng
và họng. Những nguy cơ của các bệnh ung thư này sẽ tăng dần cùng với số lượng và
thời gian hút thuốc. Hút thuốc lá và nghiện rượu là hai yếu tố mạnh nhất gây ung
thư ở các bộ phận thuộc đầu và cổ. Nguy cơ phát bệnh ung thư thực quản của người
hút thuốc lớn hơn 8 tới 10 lần người không hút thuốc. Những nguy cơ này sẽ bị tăng
thêm từ 25 tới 50% nếu người hút thuốc sử dụng nhiều rượu. Hút thuốc gây nên
80% trong tổng số ung thư thanh quản. Người hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh ung
thư thanh quản lớn hơn 12 lần so với người không hút thuốc [9].
Hút thuốc là nguyên nhân chủ yếu của các bệnh ung thư lưỡi, tuyến nước
bọt, miệng và vòm họng. Những người nam giới hút thuốc có nguy cơ lớn gấp 27
lần phát triển các bệnh về ung thư miệng hơn những nam giới không hút thuốc. Về
lâu dài người hút thuốc sẽ có nguy cơ cao gấp hai lần hơn người không hút thuốc
trong phát bệnh ung thư mũi. Người hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư cả thận và
bàng quang. Trong tổng số ca tử vong do ung thư bàng quang, thì ước tính khoảng
9
40- 70% là do sử dụng thuốc lá. Tuyến tụy là tuyến dễ mắc ung thư vì khi khói
thuốc đi vào cơ thể sẽ tới tuyến tụy qua máu và túi mật. Với ước tính hút thuốc lá là
đối tượng là rất trẻ, trung bình là 18,9 tuổi (95% CI = 18,1 – 19,8 tuổi) [32]. Tại
10
Viên Chăn, Lào, điều tra YTNC của BKLN vào năm 2008 đã được tiến hành. Kết
quả được công bố đã chỉ ra, tỷ lệ hiện tại tại đang hút thuốc là 19,0%, hút thuốc lá
hàng ngày chiếm tỷ lệ 18,8%. Tuổi bắt đầu hút thuốc là 19,7 tuổi [34]. Đặc biệt báo
động là phải kể đến nước Đông Timor, năm 2014, điều tra trên 2.509 người trưởng
thành đã chỉ ra, tỷ lệ hiện đang hút thuốc lá chiếm 48,6%, tức tương đương với gần
1/2 tổng số đối tượng nghiên cứu. Ngoài ra, tỷ lệ hiện đang hút thuốc lá hàng ngày
rất cao, chiếm hơn 1/3 đối tượng được khảo sát [67].
Xu hướng hút thuốc lá ở Việt Nam bắt đầu giảm, nhưng tỷ lệ hút vẫn còn
cao. Năm 1992/93 tỷ lệ hiện hút thuốc lá (gồm cả thuốc lào) ở nam giới từ 15 tuổi
trở lên là 60,5% đến năm 2001/02 đó giảm xuống mức 56,1% và đến năm 2010
giảm tiếp đến 47,4% [11]. Ở nữ giới, tỷ lệ hiện hút thuốc lá năm 1992/93 là 4,2%
đến năm 2001/02 là 1,8% và năm 2010 là 1,4%. Từ năm 1992/93 đến năm 2010, tỷ
lệ hiện hút đó giảm ở từng nhóm tuổi. Năm 1992, tỷ lệ hút thuốc lá cao nhất là
nhóm 25- 44 tuổi, đến năm 2010 nhóm có tỷ lệ hút cao nhất là nhóm 45- 64 tuổi.
Việt Nam nằm trong nhóm 15 nước có số người hút thuốc lá nhiều nhất trên thế giới
với khoảng 15,3 triệu người trưởng thành đang hút thuốc lá. Đặc biệt, tỷ lệ hút
thuốc lá của thanh thiếu niên Việt Nam vẫn ở mức cao và độ tuổi bắt đầu hút thuốc
lá ngày càng trẻ. Có 43,6% nam thanh thiếu niên cho biết đó từng hút thuốc với độ
tuổi trung bình khi bắt đầu hút thuốc lá là 16,9. Trong số những nam thanh niên đó
từng hút thuốc, có tới 71,7% hiện nay vẫn đang hút [20].
1.2.1.2. Hành vi sử dụng rượu, bia
Kết quả điều tra về các yếu tố nguy cơ của một số BKLN năm 2009 tại Việt
Nam cho thấy 6% nữ và 70% nam từ 25- 64 tuổi có uống rượu, bia trong tháng;
trong đó khoảng 40% nam giới ở độ tuổi này tiêu thụ rượu, bia ở mức có hại và
nguy hiểm (từ 4 ly chuẩn trở lên một ngày, tương đương khoảng 56 gam cồn
dù mới uống một gia đoạn ngắn nhưng uống nhiều. Đây là 1 trong 10 nguyên nhân
gây tử vong hàng đầu ở nhiều nước phát triển. Uống rượu còn liên quan với sự hình
thành viêm gan và xơ gan [64].Với hệ tiêu hoá, uống rượu liên quan đến viêm thực
quản, viêm dạ dày, loét dạ dày, viêm tụy. Sử dụng rượu cũng làm tăng tỷ lệ ung thư,
đặc biệt là ung thư thực quản, dạ dày, gan, ung thư tụy, ruột và phổi.
1.2.1.3. Chế độ ăn không hợp lý
Một vấn đề trong ăn uống không hợp lý đã được chứng minh có liên quan
mật thiết đến BKLN bao gồm: ăn không đủ rau, ăn nhiều muối, nhiều đường, nhiều
chất béo và dư thừa năng lượng. Mặc dù đã có những cải tiến về dinh dưỡng, nhưng
vẫn còn nhiều điều lo ngại liên quan đến chế độ ăn uống, đặc biệt là liên quan đến
BKLN. Yếu tố nguy cơ của ung thư, chủ yếu ung thư dạ dày và đại- trực tràng là ăn
quá ít chất xơ, rau, quả, sữa, can xi và ăn thừa thịt bò, thịt chế biến và muối. Đái
tháo đường liên quan ăn thiếu ngũ cốc nguyên cám và ăn thừa thịt bò, thịt chế biến
và đồ uống có đường. Thừa cân, béo phì là hậu quả của việc ăn thừa thực phẩm, đặc
biệt đồ uống ngọt, đồng thời là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tật. Nghiên cứu của
Viện dữ liệu và đánh giá y tế cho thấy, gánh nặng bệnh tật do chế độ ăn năm 2010
12
ước tính là 23% tổng số tử vong và 9,5% tổng số DALY [42].
Ăn ít rau, quả
Rau quả là nguồn cung cấp vitamin, khoáng chất, chất xơ và chất chống ô xy
hoá cho cơ thể. Khẩu phần ăn thiếu rau, quả có nguy cơ gây ung thư (đại- trực
tràng), bệnh tim mạch. Khoảng 2,7 triệu người trên thế giới được cứu sống nếu
khẩu phần ăn có đủ rau xanh [60]. 26,7 triệu người (1,8%) DALY toàn cầu là do
khẩu phần ăn không có đủ rau xanh. Trong tổng số gánh nặng bệnh tật do ăn thiếu
rau xanh gây ra thì bệnh tim mạch chiếm 85%, ung thư 15%. Tổ chức Y tế thế giới
khuyến nghị ăn ít nhất 400 gam rau, quả/ngày [57], [61]. Trung bình số ngày ăn rau
của các đối tượng nghiên cứu trong tuần là 5,5 ngày đối với Quatar (năm 2012)
hoặc khi đang ăn. Ngoài ra, còn có khoảng 13% người luôn luôn ăn thức ăn sẵn có
nhiều muối [67].
Ăn nhiều chất béo
Chất béo rất quan trọng: tham gia cấu tạo cơ thể (màng thế bào, hormone,
kháng thể,…), dung môi hoà tan vitamin (A, D, E, K), tạo năng lượng… Sử dụng
nhiều chất béo gây thừa cân, béo phì, rối loạn lipid máu, hội chứng chuyển hoá và
BKLN. Thay thế việc sử dụng nhiều chất béo no nguồn gốc động vật bằng chất béo
không no nguồn gốc thực vật được chứng minh làm giảm nguy cơ đái tháo đường
týp 2 và bệnh mạch vành. Tăng Cholesterol máu ước tính gây ra 18% bệnh mạch
não, 56% bệnh mạch vành toàn cầu [57].
1.2.1.4. Thiếu hoạt động thể lực
Ít hoạt động thể lực liên quan nhiều loại BKLN như chứng loãng xương,
viêm xương khớp, đau lưng, béo phì, bệnh tim mạch, ung thư vú ung thư tiền liệt
tuyến, ung thư trực tràng, trầm cảm, lo âu, căng thẳng. Ít hoạt động thể lực gây ra
2,8% tổng số tử vong (12.648 ca tử vong) và 1,5% gánh nặng bệnh tật tính bằng
DALY theo ước tính tại Việt Nam năm 2010. Đặc biệt, theo nghiên cứu ở Việt Nam,
gánh nặng bệnh tật liên quan ít hoạt động thể dục hoàn toàn do BKLN, trong đó chủ
yếu là các bệnh tim mạch, ung thư đại tràng và đái tháo đường là các vấn đề sức
khỏe chính liên quan đến tình trạng ít vận động [42].
Hậu quả là tỷ lệ thừa cân, béo phì đang có xu hướng tăng lên ở người trưởng
thành, nhất là tại khu vực thành thị. Tỷ lệ thừa cân và béo phì ở người lớn đã tăng
nhanh, đặc biệt ở các thành phố lớn, do chế độ ăn thừa năng lượng và lối sống ít vận
động. Năm 2006, 16,3% người từ 25 đến 64 tuổi thừa cân và béo phì [25], đến năm
2010 đã lên 26,9% [11]. Và cho đến hiện nay, ít hoạt động thể lực vẫn là một vấn đề
rất nổi cộm. Tại BăngLadesh, tỷ lệ người ít hoạt động thể lực chiếm tới 27,0%,
trong đó, nữ có xu hướng ít vận động nhiều hơn nam giới [70].
14
không có tay nghề thì lại có xu hướng hút thuốc lá nhiều hơn những người không đi
làm (lần lượt AOR: 1,6;95% CI: 1,18- 2,24, AOR: 1,7; 95% CI : 1,21- 2,50 và
AOR: 3,8 95%; CI : 2,27- 6,23). Cá nhân những người đã phải trải qua cái chết của
trẻ có nhiều khả năng sử dụng thuốc lá hơn những người tương ứng khác [71].