Thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi và một số yếu tố liên quan ở học sinh lớp 5 huyện hoài đức, hà nội - Pdf 18

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CSRM : Chăm sóc răng miệng
ĐTNC : Đối tượng nghiên cứu
KCB : Khám chữa bệnh
KTTH : Kiến thức, thực hành
NCV : Nghiên cứu viên
NHĐ : Nha học đường
SKRM : Sức khỏe răng miệng
SR : Sâu răng
SRVL : Sâu răng, viêm lợi
SRVV : Sâu răng vĩnh viễn
TTYT : Trung tâm y tế
VSRM : Vệ sinh răng miệng
WHO : World Health Organisation
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Bệnh sâu răng và viêm lợi là hai bệnh phổ biến nhất trong các bệnh răng
miệng và cũng là hai bệnh phố biến nhất trong xã hội. Tỷ lệ mắc sớm, phổ biến và
tốn kém về kinh phí cho mọi quốc gia. Năm 1994 WHO.đánh giá bệnh sâu răng và
viêm lợi nước ta vào loại cao nhất thế giới.
Chúng tôi tiên hành nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng
mô tả cắt ngang kết hợp với nghiên cứu định tính với đề tài : “Thực trạng bệnh
sâu răng, viêm lợi và một số yếu tố liên quan ở học sinh lớp 5 huyện Hoài Đức,
tỉnh Hà Tây năm 2007”. Nghiên cứu được tiến hành qua việc khám và phỏng vấn
trên 289 học sinh khối lớp 5 ; phỏng vấn sâu các thầy (cô) giáo, cán bộ nha học
đường và thảo luận nhóm trên 12 bậc phụ huynh học sinh ở 3 trường tiểu học ở
Hoài Đức, Hà Tây.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sâu răng là 58,48%, chỉ số sâu mất trám là
1,3. Tỷ lệ viêm lợi là 92,39%. Có 94,4% học sinh có mảng bám răng. Bằng cách
thang điểm chúng tôi có 37,72% học sinh có kiến thức đạt CSRM. Qua việc phỏng
vấn và thang điểm cũng cho thấy có 37,72% học sinh có kiến thức CSRM đạt, và

nghiêm trọng, tỷ lệ mắc bệnh còn cao và có chiều hướng tăng lên. Năm 1994,
WHO đánh giá bệnh sâu răng và viêm lợi nước ta vào loại cao nhất thế giới và
nước ta thuộc khu vực các nước có bệnh răng miệng đang tăng lên.
Theo đánh giá của Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội, các bệnh về răng
miệng khá phổ biến trong cộng đồng dân cư, đặc biệt trẻ em lứa tuổi học
đường có tỷ lệ sâu răng và các bệnh quanh răng rất cao. Có tới 84,9% trẻ em
từ 6-8 tuổi bị sâu răng sữa và mỗi em có thể có 4, 5 chiếc răng sâu (25% sâu
răng vĩnh viễn).,lứa tuổi 12 là 56,6%[]
Nước ta từ năm 1987 chương trình nha học đường được Liên Bộ Y tế -
Giáo Dục và đào tạo triển khai. Chương trình NHĐ là các hoạt động chăm sóc sức
khỏe và dự phòng bệnh răng miệng cho học sinh, đặc biệt là khối học sinh tiểu học
nhằm từng bước hạ thấp tỷ lệ bệnh răng miệng và tăng cường sức khỏe cho học
sinh nói riêng và cộng đồng nói chung. Mặc dù chương trình nha học đường được
triển khai, song vì thiếu nhân lực, thiếu cơ sở vật chất phục vụ cho công tác, nên
hiệu quả vẫn chưa được cao[].
Theo tiến sĩ Trần Văn Trường, Viện trưởng Viện Răng
hàm mặt, đã cho biếtmột bác sĩ chuyên khoa này ở nước ta
phải phục vụ trung bình 25.000 dân, trong khi ở các nước phát
triển, tỷ lệ trên là 1/1.000-2.000. Mặt khác, tuy ngành y tế đã
chú trọng đẩy mạnh Chương trình Nha học đường, nhưng đến
nay, chương trình mới chỉ phủ kín được ở 5 tỉnh (Ninh Bình,
Nam Định, Hải Dương, Thừa Thiên - Huế, Thái Nguyên). Chỉ
có 4,5 trong tổng số 20 triệu học sinh được chăm sóc răng
miệng thường xuyên tại trường học. Theo giáo sư Lê Ngọc
Trọng, Thứ trưởng Bộ Y tế, một trong những điều cần làm
ngay để giảm số người mắc bệnh răng miệng ở Việt Nam là
đẩy mạnh chương trình Nha học đường
Ngoài bệnh sâu răng ra thì còn rất nhiều các bệnh về răng miệng khác như
bệnh viêm lợi có tỷ lệ mắc cao mà các em lứa tuổi 12 nói riêng cũng như toàn thể
người dân nói chung đang bị mắc hoặc đang có nguy cơ mắc.

miệng ở khối học sinh lớp 5 cũng như cộng đồng nói chung một cách hiệu quả
nhất.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu chung.
Mô tả thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi và một số yếu tố liên quan ở học
sinh lớp 5 huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây năm 2007.
2.2. Mục tiêu cụ thể
2.1. Xác định tỷ lệ sâu răng, viêm lợi học sinh khối lớp 5 huyện Hoài Đức – Hà
Tây.
2.2. Mô tả kiến thức, thực hành phòng chống sâu răng, viêm lợi ở học sinh khối lớp 5
huyện Hoài Đức – Hà Tây.
2.3. Xác định mối liên quan giữa bệnh sâu răng, viêm lợi và kiến thức, thực hành ở
học sinh khối lớp 5 trên điạ bàn huyện Hoài Đức – Hà Tây.
Chương I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giải phẫu tổ chức học của răng và vùng quanh răng [4], [14]
1.1.1. Các phần của răng
Mỗi răng có phần thân răng và chân răng. Giữa thân răng và chân răng là
đường cổ răng (cổ răng giải phẫu), là một đường cong, còn gọi là đường nối men -
xê măng. Thân răng được bao bọc bởi men răng, chân răng được xê măng bao bọc.
Vùng quang răng gồm lợi, dây chằng quanh răng, xê măng và xương ổ răng.
1.1.2. Cấu tạo của răng
Bao gồm men răng , ngà răng và tuỷ răng
1.1.2.1. Men răng
Men răng phủ ngoài ngà thân răng, có nguồn gốc từ ngoại bì, là mô cứng
nhất trong cơ thể, có tỷ lệ vô cơ cao nhất (khoảng 96%). Men răng dày mỏng tuỳ
vị trí khác nhau, dày nhất ở núm răng là 1,5 mm và mỏng nhất ở vùng cổ răng.
Hình dáng và bề dày của men răng xác định từ trước khi răng mọc ra, trong đời
sống men răng không có sự bồi đắp thêm mà chỉ mòn dần theo tuổi, nhưng có sự
trao đổi vật lý và hoá học với môi trường trong miệng.

apatit, chất giữa trụ men là các giả tinh thể apatit (thay PO
4
bằng Ca(CO
3
))
1.1.2.2 Ngà răng
Có nguồn gốc từ trung bì , kém cứng hơn men, chất tỷ lệ vô cơ thấp hơn
(75%) chủ yếu là 3 [( (PO
4
)
2
Ca
3
)
2
H
2
O] . Trong ngà răng có nhiều ống ngà, chứa
đuôi bào tương của nguyên bào ngà.Bề dày ngà răng thay đổi trong đời sống do
hoạt động của nguyên bào ngà, ngà răng ngày càng già theo hướng về phía hốc tủy
răng, làm hẹp dần ống tủy.
Về tổ chức học: Ngà răng được chia làm hai loại
- Ngà tiên phát chiếm khối lượng chủ yếu và được tạo nên trong quá trình hình
thành răng, nó bao gồm:ống ngà, chất giữa ông ngà, dây Tôm.
- Ngà thứ phát được sinh ra khi răng đã hình thành rồi, nó gồm ngà thứ phát sinh
lý, ngà phản ứng và ngà trong suốt.
Ống ngà: có số lượng từ 15-50000/1mm
2
, đường kính ống từ 3-5 µm, ống ngà
chính chạy suốt chiều dày của ngà tận và tận cùng bằng đầu chốt ở ranh giới men

Dây chằng nha chu nằm ở khe giữa xương ổ răng và xê măng, bình thường khe
này rộng 0,15-0,25 mm. Dây chằng nha chu có nhiệm vụ giữ cho răng gắn vào
xương ổ răng và đồng thời có chức năng làm vật đệm, làm cho mỗi răng có sự xê
dịch nhẹ độc lập với nhau trong khi ăn nhai, giúp lưu thông máu, truyền cảm giác
áp lực và truyền lực để tránh tác có hại của lực nhai đối với răng và nha chu.
1.1.3.4. Lợi răng
Bao gồm lợi bám dính và lợi tự do.
Lợi tự do có bờ lợi tự do ( đường viền lợi) và nhú lợi (núm lợi)
Bình thường lợi tự do hình lượn sóng ôm sát vào xung quanh của một phần thân
răng và cổ răng. Đường viền lợi ở mặt ngoài và mặt trong của răng, nhú lợi ở
phần kẽ giữa hai răng đứng cạnh nhau. Mặt trong của đường viền lợi và núm lợi
cùng với phía ngoài của thân răng có khe hở gọi là khe lợi. Khe này sâu 0,5-1mm.
Khi răng mới mọc có thể có chiều sâu 0,8-2mm. Đáy khe lợi ở ngang cổ răng.
Vùng lợi dính hơi gò lên, nối tiếp từ phần lợi tự do đến phần niêm mạc di động.
1.1.4. Giải phẫu răng sữa [ 14], [17]
Tương tự răng vĩnh viễn nhưng có một số đặc điểm khác nhau:
- Răng sữa nhỏ hơn răng vĩnh viễn rất nhiều trên cùng một người.
- Tỷ lệ thân răng trên chiều dài toàn bộ răng ngắn hơn răng vĩnh viễn.
- Tương quan giữa kích thước gần xa thân răng với chiều cao thân răng của bộ rang
sữa lớn hơn răng vĩnh viễn.
- Các răng cửa sữa có gờ cổ do có sự lồi ra nhiều của mặt trong và ngoài ở 1/3 cổ.
- Chân của các răng sữa dài và mảnh hơn, chúng uốn cong và dang rộng hơn vượt
qua đường viền ngoài của thân răng ( Nhờ vậy tạo được khoảng trống rộng giữa
các chân răng nơi mầm răng vĩnh viễn phát triển)
- Thân răng có màu trắng sữa.
- Men răng mỏng, ngà răng mỏng, buồng tủy rộng, các sườn tủy nhô cao, đặc biệt ở
một số vùng của răng cối sữa hai hàm dưới.
1.2. Sinh bệnh học sâu răng và viêm lợi
1.2.1. Sinh bệnh học sâu răng [12], [15]
Bệnh sâu răng là bệnh đa nguyên nhân trong đó vi khuẩn đóng vai trò quan


Các yếu tố bảo vệ:
+ Nước bọt
+ Trám bít hố rãnh
+ Khả năng kháng acid của men
+ Fluor có ở bề mặt men răng
+ Độ Ca
++
, NPO
4
quanh răng
+ pH > 5,5
Hình 1.4. Sơ đồ tóm tắt cơ chế sâu răng [15]
Với sự hiểu biết nhiều hơn vê sinh bênh học quá trình sâu răng nên hơn hai thập
kỷ qua, loài người đã đạt được nhiều thành tựu lớn trong dự phòng sâu răng.
1.2.2 Sinh bệnh học viêm lợi [5], [10], [24], [44]
Bệnh quạnh răng là bệng rất phổ biến, tỷ lện mắc bệnh rất cao, ở trẻ em chủ
yếu là bệnh viêm lợi.
Bệnh quanh răng do nhiều nguuyên nhân như thiếu sinh tố, sang chấn khớp
căn, vi khuẩn và VSRM kém…trong đó vi khuẩn và VSRM kém tạo nên cặn bám
răng là nguyên nhân chính.
Cặn bám răng hình thành trên bề mặt răng ngay sau khi ăn. Cặn bám răng
được hình thành và phát triển khi môi trường trong miệng giàu chất dinh dưỡng,
nhất là đường Saccharose. Lúc đầu, cặn bám là vô khuẩn, sau khi vi khuẩn xâm
nhập và phát triển thành cặn bám vi khuẩn (MBVK) sau 2 giờ. Ở giai đoạn này
các cặn bám dễ dàng được làm sạch bằng cách chỉa răng. Thành phần trong cặn
bám răng: vi khuẩn chiếm chủ yếu đến 70% trọng lượng, còn 30% là chất hữu cơ:
- Hai ngày đầu chủ yếu là vi khuẩn Gram dương
- Hai ngày tiếp thoe là vi khuẩn hình sợi và hình thoi phát triển.
- Ngày thứ tư đến ngày thứ chín có xoắn khuẩn

tuổi 12 tại hầu hết các nước ở mức thấp và rất thấp.
+ Ở các nước đang phát triển: Ở thời điểm của những năm của thập kỷ 1960,
tình hình sâu răng ở mức thấp hơn nhiều so với các nước phát triển. Chỉ số DMFT
tuổi 12 ở thời kỳ này nói chung từ 1,0 – 3,0, thậm chí một số nước dưới mức 1,0
như Thái Lan, Uganda,Zaire. Tới thập kỷ 1970 và 1980 thì chỉ số này lại tăng lên
và ở mức từ 3,0 đến 5,0 và một số nước còn cao hơn như Chilê là 6,3, French
Polynesia là 120,7 [12]. Nhìn chung, tình trạng sâu răng của các nước đang phát
triển có xu hướng đều tăng.
1.3.1.2. Ở Việt Nam
Theo Võ Thế Quảng [21], qua kết quả điều tra cơ bản bệnh răng miệng toàn
quốc năm 1991 cho thấy, sâu răng ở Việt Nam tăng dần theo tuổi cả về tỷ lệ sâu
răng ở Việt Nam có xu hướng gia tăng. So với kết quả điều tra răng miệng toàn
quốc năm 2001 do Trần Văn Trường và Trình Đinh Hải công bố thì tình hình sâu
răng ở Việt Nam có xu hướng tăng lên và không đồng bộ giữa các vùng miền
trong cả nước [29].Cụ thể:
Theo Nguyễn Văn Cát [5], tỷ lệ sâu răng ở trẻ em dưới 12 tuổi trên toàn quốc
năm 1983-1984 là:
Miền Bắc :19,30% DMFT
Miền Nam :76,29% DMFT
Năm 1991, theo kết quả điều tra cơ bản bệnh sâu răng miệng toàn quốc lần thứ
nhất, tỷ lệ sâu răng ở trẻ em 12 tuổi:
Việt Nam :57,33% DMFT là 1,82
Miền Bắc :43,33% DMFT là 1,15
Miền Nam :76,33% DMFT là 2,93
Năm 2001 theo kết quả điều tra cơ bản bệnh răng miệng toàn quốc lần thứ hai
do Trần Văn Trường và Trịnh Đình Hải công bố, tỷ lệ sâu răng ở trẻ em [29]:
Tuổi 5-6 ( răng sữa)
Tỷ lệ sâu răng : 84.90%
Chỉ số dmft : 5.54
Chỉ số dmfs : 12.98

mgF/lít nước mà độ tập trung tối ưu tùy thuộc vào khí hậu.
- Đưa fluor vào muối với độ tập trung flour là 250mgF/1kg muối.
- Dùng viên flour.
- Flour hóa nguồn cung cấp nước ở trường học với độ tập trung flour cao hơn mức
độ tập trung flour tối ưu trong nước công cộng 4,5 lần.
- Xúc miệng với các dung dịch flour pha loãng. Cho trẻ em xúc miệng hàng ngày
với dung dịch flour 0,05% hoặc xúc miệng mỗi tuần một lần với dung dịch flour
0,2%.
- Dùng kem đánh răng có flour.
- Dùng gel flour hoặc vecni flour.
- Sử dụng phối hợp các dạng flour.
* Trám bít hố rãnh:
Áp dụng đối với các mặt nhai để ngăn ngừa sâu ở hố và rãnh răng sau khi răng
vĩnh viễn mọc.
* Chế độ ăn uống hợp lý:
Kiểm soát các thức ăn và đồ uống có đường bao gồm các biện pháp dưới đây:
- Kiểm soát các thực phẩm có đường ở trường học.
- Giảm dần số lần ăn các thực phẩm có đường.
- Giảm mức độ tiêu thụ đường ở tầm quốc gia.
- Dùng các sản phẩm thay thế đường: xylitol, malnitol,
* Hướng dẫn vệ sinh răng miệng:
- Các biện pháp được giám sát chặt chẽ ở trường bao gồm chải răng và dùng chỉ
nha khoa.
- Các biện pháp không giám sát được như thực hiện chải răng và các biện pháp
VSRM khác ở nhà.
Tuy vậy, tùy theo đặc điểm cụ thể mà mỗi nước, thậm chí các khu vực trong một
nước lựa chọn các biện pháp khác nhau cho phù hợp với thực tiễn ở các nước và
các khu vực.
• Mục tiêu dự phòng sâu răng
Từ năm 1979 đến năm 1994, WHO đã nhiều lần đưa ra và bổ sung các mục tiêu

- Ngăn cản việc định cư của các vi khuẩn ở bề mặt răng.
- Ức chế việc hình thành cặn bám răng.
- Hòa tan các cặn bám đã hình thành.
- Ngăn ngừa sự khoáng hóa các cặn bám.
Nước súc miệng có tác dụng làm sạch miệng khỏi các mảnh vụn thức ăn. Ngoài
ra do các chất kháng khuẩn nên nó có tác dụng phòng ngừa và giảm tích tụ cặn
bám răng và có fluor nên làm giảm sâu răng.
* Khắc phục sửa chữa các sai sót.
Bao gồm sử chữa lại các răng hàn hoặc phục hồi sai quy cách, tạo điểm tiếp
giáp giữa các răng…
* Chế độ ăn uống
Thiếu hụt dinh dưỡng phối hợp với cặn bám răng sẽ làm tăng quá trình viêm lợi,
vì phải có chế độ ăn cân bằng.
Thành phần hóa học và tính chất lý học của thức ăn cũng ảnh hưởng đến tổ
chức lợi. Các thực phẩm sơ làm sạch răng, các thức ăn mềm, dính có đường lại là
điều kiện tốt để hình thành cặn bám răng.
* Tuyên truyền phòng bệnh.
Việc tuyên truyền phòng bệnh giúp cho các trẻ em trong cộng đồng có kiến thức,
hiểu biết và từ đó có thay đổi về nhận thức, quan diểm dẫn đến thay đổi về nhận
thức, quan điểm dẫn đến thay đổi về thói quen trong CSRM.
Khi tuyên truyền giáo dục VSRM cần chú ý dùng từ dễ hiểu, đơn giản, ngắn gọn
và ít thông tin nhung dễ lặp lại và mọi người dễ nhớ.
• Mục tiêu can thiệp dự phòng bệnh quanh răng.
Các nước EEC đã đặt ra mục tiêu cho năm 2000 là ở lứa tuổi 18 có 90% người có
sức khỏe lợi ở mức chấp nhận được, tức là mỗi người có ít nhất ba vùng lục phân
lành mạnh(CPITN 0) [10], [46].
Ở Mỹ, người ta đã đặt ra mục tiêu cho năm 1990 là giảm tỷ lệ trẻ em viêm lợi ở
lứa tuổi 6 – 17 xuống còn 18% so với 23% năm 1971 [46].
Năm 1994, WHO đã đặt mục tiêu năm 2010 [10]:
Bảng 1.2. Mục tiêu về sức khoẻ răng miệng đến năm 2010

dụng một số chỉ số sau:
- Chỉ số DMFT (chỉ số sâu mất trám răng vĩnh viễn)
- Chỉ số dmft ( chỉ số sâu mất trám răng sữa)
- Chỉ số CPITN ( chỉ số tình trạng quang răng và nhu cầu điều trị của cộng đồng).
- Chỉ số OHI-S ( vệ sinh răng miệng đơn giản).
Chương III
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
- Học sinh lớp 5 của huyện Hoài Đức, Hà Tây.
- Thầy cô giáo của trường tiểu học nghiên cứu.
- Cán bộ nha học đường của nhà trường .
- Bố mẹ học sinh.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
Mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính:
- Nghiên cứu định lượng:
+ Dựa trên bộ câu hỏi phỏng vấn kiến thức thực hành , các yếu tố liên
quan trên khối học sinh lớp 5 của huyện.
+ Số liệu khám lâm sàng của các bác sỹ chuyên khoa răng
- Nghiên cứu định tính:
+ Phỏng vấn sâu: Hiệu trưởng 3 người, giáo viên chủ nhiệm 6 người, cán
bộ nha học đường 3 người.
+ Thảo luận nhóm: Cha mẹ học sinh tham gia nghiên cứu 12 người trong
đó 6 người có con mắc bệnh sâu răng, viêm lợi và 6 người có con không bị mắc
bệnh sâu răng, viêm lợi.
Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu định lượng
3.3.1. Cỡ mẫu:
Cỡ mẫu được tính theo công thức:
p(1-p)
n =Z
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status