1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
PHẠM THU TRANG
THùC TR¹NG S¢U R¡NG, VI£M LîI
Vµ MéT Sè YÕU Tè LI£N QUAN ë TRÎ
KHUYÕT TËT
T¹I LµNG TRÎ EM HßA B×NH, Hµ NéI
Chuyên ngành: RĂNG HÀM MẶT
Mãsố: 60720701
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS: PHẠM THỊ THU HIỀN
HÀ NỘI – 2013
2
LỜI CẢM ƠN
Với tất cả tấm lòng trân trọng, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc và
chân thành đến:
Chi Ủy Đảng, Ban Giám Hiệu trường Đại Học Y Hà Nội, Viện Đào
Tạo Răng Hàm Mặt và Bộ môn Nha khoa cộng đồng đã tạo mọi điều kiện cho
tôi học tập và nghiên cứu.
Ban Giám đốc làng trẻ em Hòa Bình Hà Nội, nơi đã tạo điều kiện mọi
mặt để tôi có thể hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Phạm Thị Thu Hiền- Trưởng
khoa Chữa răng và Điều trị Nội nha Viện Răng Hàm Mặt Quốc Gia, người
thầy hướng dẫn luôn tận tình chỉ bảo, tạo mọi điều kiện tốt nhất, thuận lợi
nhất giúp tôi hoàn thành khóa luận văn này.
Xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới công ty Colgate Palmolive Việt Nam-
đơn vị tài trợ đã giúp đỡ tận tình để các em học sinh của làng trẻ em Hòa Bình
Hà Nội có điều kiện tốt nhất chăm sóc răng miệng.
Theo Tổng cục thống kê đưa ra năm 2003 thì số lượng trẻ khuyết tật là
662 000 chiếm 2,4% tổng số trẻ em từ 1 - 18 tuổi [1]. Những trẻ em này là
những đối tượng kém may mắn trong xã hội. Các em đó phải chịu nhiều thiệt
thòi, ít có điều kiện được theo dõi và chăm sóc sức khoẻ một cách thường
xuyên, đặc biệt là sức khoẻ răng miệng. Các tổ chức xã hội khác cũng như
chuyên ngành Răng hàm mặt vẫn chưa có chiến lược chăm sóc sức khoẻ răng
miệng ưu tiên cho đối tượng này. Mặc dù các em ngày càng nhận được sự
quan tâm và chăm sóc nhiều hơn từ các cấp, các ngành ở trung ương cũng
như địa phương.
Theo các nguồn tài liệu trong và ngoài nước thì đến nay đã có nhiều
nghiên cứu về tình trạng sức khoẻ, các đặc điểm tổn thương trên trẻ khuyết
tật. Tuy nhiên, các nghiên cứu về vấn đề răng miệng trên trẻ khuyết tật ở Việt
Nam lại chưa nhiều. Trong khi đó nhu cầu tìm hiểu thông tin về kiến thức
VSRM và tình trạng bệnh răng miệng trên nhóm đối tượng này là rất cần
thiết. Liệu rằng trên thực tế các em đã có kiến thức và thực hành đúng về
VSRM hay chưa? Tình trạng sâu răng và viêm lợi ở nhóm trẻ này có gì khác
biệt so với trẻ bình thường hay không? Để từ đấy các cơ quan chức năng có
thể đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời cũng như phương pháp giáo dục
nha khoa hợp lý cho từng đối tượng nhằm nâng cao hiểu biết, rèn luyện ý thức
vệ sinh răng miệng đúng cách cho các em.
7
Chính vì vậy, chúng tôi đã tiến hành: “Thực trạng bệnh sâu răng,
viêm lợi và một số yếu tố liên quan ở trẻ khuyết tật tại làng trẻ em Hòa
Bình Hà Nội” với các mục tiêu sau:
1. Xác định tỉ lệ bệnh sâu răng, viêm lợi ở trẻ khuyết tật 6-17 tuổi tại làng
trẻ Hòa Bình, Thanh Xuân, Hà Nội.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng viêm lợi ở trẻ
khuyết tật 6-17 tuổi tại làng trẻ Hòa Bình, Thanh Xuân, Hà Nội.
8
CHƯƠNG 1
khuẩn Streptococcus Mutans và giải thích nguyên nhân sâu răng bằng sơ đồ Key:
!"#$"%&'#()
Với sơ đồ Key người ta chú ý nhiều đến chất đường và vi khuẩn
Streptococcus Mutans, cho nên việc dự phòng sâu răng cũng liên quan nhiều
đến chế độ ăn như hạn chế đường và vệ sinh răng miệng [4].
Sau năm 1975, đó tìm được nguyên nhân của bệnh sâu răng. Nguyên
nhân của sâu răng được giải thích bằng sơ đồ WHITE như sau:
- Răng: ảnh hưởng bởi các yếu tố như tuổi, fluoride, dinh dưỡng
- Vi khuẩn: đặc biệt là Streptococcus Mutans.
10
- Chất nền: ảnh hưởng bời yếu tố VSRM, việc sử dụng Fluor, pH, khả
năng trung hòa của nước bọt.
Sơ đồ WHITE cho thấy có nhiều yếu tố tác động đến việc sâu răng
như: hạn chế quá trình hủy khoáng, tăng cường quá trình tái khoáng và cá tác
dụng bảo vệ răng không bị sâu như nước bọt, khả năng acid của men, các ion
F
-
, Ca
++
, pH trên 5 và sự trám bít hố rãnh… Với những hiểu biết sâu hơn về
cơ chế bệnh sinh của quá trình sâu răng nên trong hai thập kỷ qua con người
đó đạt được những thành tựu to lớn trong việc dự phòng sâu răng cho cộng
đồng.
*+,-./012(0)
Cơ chế bệnh sinh học sâu răng được thể hiện bằng hai quá trình hủy
khoáng và tái khoáng. Nếu quá trình hủy khoáng lớn hơn quá trình tái khoáng
thì sẽ gây sâu răng. Tóm tắt cơ chế sâu răng như sau:
Chất nền
11
Sâu răng = Hủy khoáng > Tái khoáng.
dày trào lên miệng
- pH môi trường
miệng <5
12
Các phân loại mới về bệnh sâu răng [2], [6]
Ngày nay các tác giả thường sử dụng 2 bảng phân loại mới để chẩn đoán
và điều trị đó là: phân loại theo site and size, phân loại theo Pitts
* Phân loại theo “Site and size”(dựa vào vị trí và mức độ tổn thương)[2]
2 yếu tố đó là vị trí và kích thước (giai đoạn, mức độ) của lỗ sâu
Vị trí
Vị trí 1: tổn thương ở hố rãnh và các mặt nhẵn
Vị trí 2: tổn thương kết hợp với mặt tiếp giáp
Vị trí 3: sâu cổ răng và chân răng
Kích thước
1: Tổn thương nhỏ, vừa mới ở ngà răng cần điều trị phục hồi, không thể
tái khoáng
2: Tổn thương mức độ trung bình, liên quan đến ngà răng, thành lỗ sâu
còn đủ, cần tạo lỗ hàn
3: Tổn thương rộng, thành không đủ hoặc nguy cơ vỡ, cần phải có các
phương tiện lưu giữ cơ sinh học
4: Tổn thương rất rộng làm mất cấu trúc răng, cần có các phương tiện lưu
giữ cơ học hoặc phục hình
Để đáp ứng nhu cầu dự phòng cá nhân Brique và Droz đã bổ sung thêm
cỡ 0, là những tổn thương có thể chẩn đoán được và có khả năng tái khoáng
hoá được
13
* Phân loại theo Pitts:
;"89:4<7''(0)(=)
* Hệ thống đánh giá và phát hiện sâu răng quốc tế (ICDAS)
Hệ thống đánh giá và phát hiện sâu răng quốc tế (ICDAS) của N.Pitts và
nhìn thấy rõ khi xịt khô).
0>?
- Mã 3: Cấu trúc men răng bị vỡ do sâu, không có tổn thương ngà răng
nhìn thấy được. Nếu bề mặt men bị vỡ do sâu thì ghi mã 3. Khi quan sát ở bề
mặt răng ướt, tổn thương có màu trắng hoặc đổi màu nhưng sau khi xịt khô thì
có thể nhận biết được cấu trúc bị mất. Trên răng có miếng trám phục hồi,
khoảng cách giữa miếng trám và răng nhỏ hơn 0,5mm nhưng dấu hiệu mới
đục hay đổi màu do hủy khoáng thì đánh giá mặt răng đó ở mã 3. Chú ý: ở mã
3, men răng mất nhưng không có tổn thương ngà. Có thể dung cây thám tram
để xác định khấc trên bề mặt men răng.
16
=>?%
- Mã 4: Bóng đổi màu của ngà răng dưới lớp men, chưa hình thành lỗ
sâu ở ngà. Mã 4 được ghi khi tổn thương xuất hiện bóng của ngà răng bị đổi
màu có thể nhìn thấy được dưới lớp men, lớp men này có thể bị vỡ hoặc
không. Dấu hiệu này có thể nhận biết dễ dàng hơn khi bề mặt răng ướt và khi
nó đổi sang màu xám, xanh hoặc nâu. Nếu trên răng có miếng trám Almagam,
cẩn trọng phân biệt với ánh của miếng trám. Mã 4 được ghi khi có dấu hiêu
mất khoáng trên bề mặt. Chú ý: Mã 4 được khi ở bề mặt của răng mà tổn
thương sâu răng bắt đầu từ đó, ví như nếu nhìn thấy bóng đổi màu từ phía mặt
nhai, nhưng là do răng đó có tổn thương sâu ở diện tiếp giáp thì không ghi mã
4 cho mặt nhai.
/>?;
- Mã 5: Tổn thương sâu ngà dễ nhận biết. Nếu lớp men đục đổi màu có
liên quan đến lớp ngà sâu bên dưới thì mã 5 được ghi theo chỉ số sâu răng.
Trên răng có miếng trám, khoảng cách giữa miếng trám và răng lớn hơn
17
0,5mm thì ghi mã 5. Chú ý mã 5 có tổn thương ít hơn một nửa bề mặt nhưng
không sâu đến tủy răng.
@>?1
- Mã 8: Phục hồi tạm
;G4HFI'J F
Việc chưa hoàn thiện cấu trúc đó tác động không nhỏ tới sự phát triển
bệnh sâu răng và làm tăng các biến chứng của nó.
Bộ răng trẻ em ở độ tuổi 6-12 là bộ răng hỗn hợp, chúng mang những
đặc điểm của răng sữa và răng vĩnh viễn. Vì thế, trên cùng một bệnh nhân,
chúng ta có thể gặp những thương tổn của cả hai loại răng này. Đây là một
đặc điểm tạo nên sự phong phú, đa dạng về bệnh cảnh trên lâm sàng.
19
Bộ răng hỗn hợp: Trong thời điểm tồn tại bộ răng hỗn hợp, các răng
vĩnh viễn của trẻ em đó đảm nhiệm chức năng như ở người lớn tuy nhiên
chúng vẫn có sự khác biệt với răng vĩnh viễn của người lớn, những đặc điểm
này gồm có:
- Chân răng chưa hình thành đầy đủ, vùng cuống chưa được đóng kín.
- Buồng tủy rộng, sừng tủy cao.
- Các ống ngà rộng, khả năng phản ứng và tái tạo nhanh chóng.
Các răng vĩnh viễn thường phải sau 2 năm mới ngấm vôi xong hoàn
toàn. Vì thế, tổn thương sâu răng ở trẻ thường tiến triển nhanh so với người
trưởng thành. Chân răng chưa hình thành và vùng cuống chưa được đóng kín
tạo điều kiện cho vi khuẩn thâm nhập sâu hơn vào tổ chức quanh răng, gây ra
những biến chứng: viêm tủy, viêm quanh cuống, viêm mô tế bào,… khiến cho
trẻ đau đớn, khó chịu, khó tập trung vào học tập.
1.2. Bệnh quanh răng
Bệnh quanh răng là bệnh rất phổ biến, tỷ lệ mắc rất cao. Năm 1984, Tổ
chức Y tế thế giới thông báo các bệnh quanh răng hay gặp là viêm mạn tính ở
lợi đơn thuần tức là viêm lợi hoặc viêm lợi kèm theo mất bám dính biểu mô và
xương ổ răng gọi là viêm quanh răng [10]. Theo kết quả điều tra dịch tễ học ở
Việt Nam, hầu hết trẻ em chỉ có viêm lợi mà không có viêm quanh răng; vì vậy
ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến bệnh viêm lợi thông thường ở trẻ em.
KB"L8$
tới 40,0%, vi khuẩn yếm khí và xoắn khuẩn.
21
Mảng bám bám chắc vào răng, không bị bong ra do xúc miệng hoặc
chải răng qua loa. Có thể loại trừ mảng bám bằng việc chải răng đúng kĩ
thuật, hạn chế ăn đường và vệ sinh răng miệng sau khi ăn hoặc dùng biện
pháp hóa học.
Các yếu tố nguy cơ gây viêm lợi bao gồm: các yếu tố tại chỗ và toàn
thân ảnh hưởng đến việc tích tụ mảng bám răng hoặc làm biến đổi phản ứng
đáp ứng của tổ chức quanh răng đối với mảng bám răng.
Viêm lợi xuất hiện rất sớm, khi mảng bám răng hình thành được 7
ngày. Vi khuẩn ở mảng bám răng kích thích gây viêm lợi.
Ở thời kỳ răng sữa : Lợi xung quanh các răng sữa có khả năng đề kháng
được với viêm gây ra do mảng bám. Khi ngừng chải răng 3 tuần thì có sự
khác nhau về đáp ứng ở tổ chức lợi giữa trẻ em và người lớn.
Ở thời kỳ răng hỗn hợp : thời kỳ này có đặc điểm là răng không đều và
có sự thay đổi nội tiết tố.
1.3. Mối liên quan giữa kiến thức - thực hành vệ sinh răng miệng với sâu
răng và viêm lợi
Sâu răng được xếp là một trong ba tai hoạ bệnh tật của loài người
sau ung thư và tim mạch. Là một trong 10 bệnh phổ biến vì 3 lý do: (1)
bệnh mắc rất sớm (ngay sau khi mọc răng), (2) bệnh rất phổ biến, (3) chi
phí chữa trị lớn [16].
Các yếu tố thuận lợi cho việc hình thành mảng bám vi khuẩn đó là chế
độ ăn nhiều đường, vệ sinh răng miệng không tốt, các kích thích tại chỗ (như
cao răng, chất hàn thừa), lưu lượng nước bọt ít [12]
Viêm lợi là tổn thương viêm cấp hay mạn tính xảy ra ở tổ chức phần
mềm xung quanh răng.Tổn thương chỉ khu trú ở lợi không ảnh hưởng đến
22
xương ổ răng, dây chằng quanh răng và xương răng. Có rất nhiều nguyên
nhân gây viêm lợi có thể là các yếu tố bên ngoài, yếu tố tại chỗ hay toàn thân
và ép vào các răng và rãnh lợi. Kỹ thuật này có thể đau, nhưng có tác dụng
làm giảm MBR được chỉ định cho trường hợp lợi không viêm. Kỹ thuật này
đạt hiệu quả nhất trong loại trừ MBR vì vậy khi lợi lành mạnh nên chọn kỹ
thuật này.
Làm sạch kẽ răng: kẽ răng là nơi có nhiều mảng bám nhất và khó đưa
bàn chải tới nơi nên có thể dùng một số biện pháp khác như: chỉ tơ nha khoa,
bàn chải kẽ, bàn chải tự động, tăm nước.
Sử dụng nước súc miệng: cơ chế làm sạch của nước súc miệng là kìm
hãm khuẩn lạc trong miệng, ngăn cản sự định cư của các vi khuẩn ở mặt răng,
ức chế hình thành MBR, hoà tan các mảng bám đã hình thành, ngăn ngừa
khoáng hoá mảng bám và có thể làm giảm SR nếu nước súc miệng có Fluor.
Loại nước súc miệng đơn giản nhất là nước muối ấm pha loãng. Người ta có
thể cho thêm vào nước súc miệng một số chất bổ sung như chất kháng khuẩn,
cồn, chất gây ẩm, hương liệu, chất bảo quản. Liều lượng và cách dùng: súc
30giây/lần x 2lần/ngày trước hoặc sau khi chải răng hoặc độc lập.
Ngoài ra cần chú ý đến chế độ ăn hợp lý, tránh ăn nhiều đồ ngọt nhất là
giữa các bữa ăn và trước khi đi ngủ, uống nước ngọt có ga, ăn đồ ngọt dính
như chocolate. Nên chải răng ít nhất ngày 2 lần, chải răng sau các bữa ăn và
trước khi đi ngủ và quan trọng nhất là phải chải răng đúng kỹ thuật. Có như
vậy thì mới phòng tránh được SR và viêm lợi [10].
24
1.4. Tình hình bệnh răng miệng trên thế giới và Việt Nam hiện nay
;
1.4.1.1 Tình hình bệnh sâu răng trên thế giới hiện nay:
Có hai chiều hướng:
- Ở các nước phát triển như Canada, Thuỵ Điển, úc, Phần Lan ở những
năm 60-70 có tỷ lệ SR cao trên 90% dân số, trung bình mỗi trẻ 12 tuổi có
DMFT từ 7,4 - 12. Tuy nhiên từ năm 80 - 90 đến nay, chỉ số này đã giảm
xuống nhiều. Nam 1993, DMFT tại Pháp là 2,1, Thuỵ Sỹ là 2,0. Tại Mỹ năm
1994 DMFT còn 1,3. Có được điều này là do các nước này đó tích cực sử
- Thống kê tỷ lệ bệnh ở một số nơi [15]:
+ Phần Lan năm 1981 : Trẻ em 7 tuổi viêm lợi chiếm 95%.
Trẻ em 12 tuổi viêm lợi chiếm 97%
+ Ấn Độ năm 1990 : Trẻ em viêm lợi chiếm 90%.
+ Mỹ năm 1992 : Trẻ em viêm lợi chiếm 99%.
1.4.2.2. Tình hình bệnh lợi Việt Nam
- Thống kê tỷ lệ bệnh viêm lợi ở Việt Nam:
+ Năm 1997: Trẻ em 12 tuổi viêm lợi chiếm 95%.
Trẻ em 15 tuổi viêm lợi chiếm 95,6%.
+ Năm 1999: Trẻ em 12 tuổi viêm lợi chiếm 95%