Thực trạng bệnh sâu răng và một số yếu tố liên quan ở học sinh khối lớp 6 trường trung học cơ sở xã hoàn sơn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh năm 2008 - Pdf 22

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sâu răng là bệnh phổ biến ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới, bệnh
có thể mắc từ rất sớm ngay sau khi mọc răng. Bệnh sâu răng nếu không được điều
trị kịp thời sẽ dẫn đến các biến chứng như viêm tuỷ răng, viêm quanh cuống, bệnh
còn là nguyên nhân gây mất răng, ảnh hưởng nặng nề tới sức nhai, phát âm, thẩm
mỹ, ngoài ra nó còn là nguyên nhân của một số bệnh nội khoa như viêm nội tâm
mạc, viêm cầu thận, viêm khớp. Chi phí cho việc chữa răng rất tốn kém. Theo
WHO từ những năm 70 đã xếp bệnh sâu răng và viêm lợi là tai họa thứ ba của loài
người sau bệnh tim mạch và bệnh ung thư vì những lý do sau:
- Bệnh mắc rất sớm, ngay sau khi răng mọc.
- Bệnh phổ biến (Chiếm 90 đến 99% dân số), hiếm có ai không mắc phải
- Tổn phí chữa răng rất lớn, vượt qua khă năng chi trả của mọi chính phủ, kể
cả những nước giàu có nhất.
Sau năm 1975 nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã tìm ra được nguyên
nhân và cơ chế bệnh sinh của sâu răng[1], đồng thời đã phát hiện thấy vai trò quan
trọng của fluor trong việc bảo vệ men răng[13]. Trên cơ sở đó đã đề ra được các
biện pháp phòng bệnh thích hợp kết quả là tỷ lệ sâu răng ở nhiều quốc gia trên thế
giới đã giảm đáng kể: Tại Mỹ năm 2004 chỉ số SMT còn 1,3[34], tại Anh năm 2005
chỉ số SMT còn 0,7[31]. Ngược lại những nước nghèo không được fluor hoá nước
uống, thiếu sự giáo dục nha khoa, chế độ ăn đường không đúng nên sâu răng phát
triển ngày càng tăng[1].
Việt Nam là một nước đang phát triển, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn,
trang thiết bị và cán bộ răng hàm mặt còn thiếu, tỷ lệ mắc bệnh sâu răng viêm lợi ở
mức độ cao và có chiều hướng gia tăng, nhất là ở các vùng nông thôn, những nơi
chương trình nha học đường hoạt động chưa hiệu quả. Theo kết quả điều tra dịch tễ
học trên thế giới, ở Việt Nam tỷ lệ người mắc bệnh sâu răng chiếm từ 50-90% dân
số[3;41].
Năm 2001, Viện răng hàm mặt Hà Nội phối hợp với trường đại học nha khoa
Adelaide (Australia) tổ chức điều tra sức khoẻ răng miệng quy mô toàn quốc, kết
quả là học sinh từ 6 đến 8 tuổi có tỷ lệ sâu răng sữa là 84,9%, lứa tuổi 9-11 sâu răng

1 Mục tiêu chung:
Mô tả tình trạng sâu răng và một số yếu tố liên quan ở học sinh khối lớp 6
trường THCS xã Hoàn Sơn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2008.
2 Mục tiêu cụ thể:
2.1. Xác định tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn của học sinh khối lớp 6 trường THCS
xã Hoàn Sơn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2008.
2.2. Mô tả kiến thức, thực hành phòng chống sâu răng, thực hành PCSR cho
con của cha, mẹ học sinh khối lớp 6 trường THCS xã Hoàn Sơn huyện Tiên Du,
tỉnh Bắc Ninh năm 2008.
2.3. Xác định một số yếu tố liên quan với bệnh sâu răng của học sinh khối lớp
6 trường THCS xã Hoàn Sơn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2008.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1. Giải phẫu và tổ chức học răng[2;5]
1.1. Các phần của răng
Mỗi răng có phần thân răng và chân răng. Giữa thân răng và chân răng là
đường cổ răng (cổ răng giải phẫu), là đường nối men - xương răng. Thân răng được
bao bọc bởi men, chân răng được xương răng bao bọc.
1.2. Cấu tạo của răng
Bao gồm men răng, ngà răng và tủy răng.
* Men răng
Men răng là mô cứng nhất trong cơ thể, có nguồn gốc từ ngoại bì, có tỷ lệ chất
vô cơ cao nhất (khoảng 96%). Men răng phủ toàn bộ thân răng dày mỏng tùy vị trí
khác nhau, dày nhất ở núm răng là 1,5mm và mỏng nhất ở vùng cổ răng. Men răng
không có sự bồi đắp thêm mà chỉ mòn dần theo tuổi, nhưng có sự trao đổi về vật lý
và hóa học với môi trường trong miệng.
Về mặt hóa học, chất vô cơ chiếm 96%, chủ yếu là 3[Ca
3
(PO

2
O. Trong ngà răng có nhiều ống ngà, chứa
đuôi bào tương của nguyên bào ngà, bề dày ngà răng thay đổi trong đời sống do
hoạt động của nguyên bào ngà, ngà răng ngày càng dày theo hướng về phía hốc tủy
răng, làm hẹp dần ống tủy.
Về tổ chức học: Ngà răng được chia làm hai loại
- Ngà tiên phát chiếm khối lượng chủ yếu và được tạo nên trong quá trình hình
thành răng, nó bao gồm: ống ngà, chất giữa ống ngà, dây tôm.
- Ngà thứ phát được sinh ra khi răng đã hình thành rồi, nó gồm ngà thứ phát sinh lý,
ngà phản ứng và ngà trong suốt.
Ống ngà: có số lượng từ 15-50000/1 mm
2
, đường kính ống từ 3-5 µm, ống
ngà chính chạy suốt chiều dày của ngà và tận cùng bằng đầu chốt ở ranh giới men
ngà, ống ngà phụ là ống nhỏ hoặc nhánh bên, nhánh tận cùng của ống ngà chính.
Chất giữa ống ngà có cấu trúc sợi được ngấm vôi, sắp xếp thẳng góc với ống ngà.
Dây tôm: nằm trong ống ngà là đuôi nguyên sinh chất của tế bào tạo ngà.
* Tủy răng
Là mô liên kết mềm, nằm trong hốc tủy gồm tủy chân và tủy thân. Tủy răng
trong buồng tủy gọi là tủy thân, tủy buồng, tủy răng trong ống tủy gọi là tủy chân.
các nguyên bào ngà nằm sát vách hốc tủy.
Tủy răng có nhiệm vụ duy trì sự sống của răng, cụ thể là sự sống của nguyên
bào ngà và tạo ngà thứ cấp, nhận cảm giác của răng. Trong tủy răng có chứa nhiều
mạch máu, mạch bạch huyết và đầu tận cùng của thần kinh.
Về tổ chức học, tủy răng gồm hai vùng: Vùng cạnh tủy gồm các lớp tế bào tạo
ngà (2-3 lớp) và lớp không có tế bào gồm những tổ chức sợi tạo keo. Vùng giữa tủy
là tổ chức liên kết có nhiều tế bào, ít tổ chức sợi.
5
* Xương răng
Là tổ chức canxi hoá bao phủ vùng ngà chân răng bắt đầu từ cổ răng, cấu trúc

Trước năm 1970, người ta cho rằng bệnh căn của sâu răng là do nhiều nguyên
nhân với sự tác động của 3 yếu tố. Vi khuẩn trong miệng (chủ yếu là streptococcus
mutans) lên men các chất bột và đường còn dính lại răng tạo thành acid, acid này đã
phá hủy tổ chức cứng của răng tạo thành lỗ sâu. Sự phối hợp của các yếu tố này để
gây sâu răng được thể hiện bằng sơ đồ keyes:
Sơ đồ keys
Với sơ đồ keys, người ta chú ý nhiều đến chất đường và vi khuẩn
streptococcus mutans do đó, việc dự phòng cũng chú ý quan tâm đến chế độ ăn hạn
chế đường và VSRM. Khi áp dụng vào thực tế phòng bệnh sâu răng thấy kết quả đạt
được không cao, tỷ lệ sâu răng giảm xuống không đáng kể.
Sau năm 1975 người ta đã làm sáng tỏ hơn căn nguyên gây bệnh sâu răng và
đưa ra sơ đồ white thay thế một vòng tròn trong sơ đồ keys.
- Chất đường được thay thế bằng chất nền.
- Nhấn mạnh vai trò của nước bọt và PH của dòng chảy môi trường xung
quanh răng
- Người ta cũng làm sáng tỏ tác dụng của fluor nó làm cho tổ chức của răng
cứng chắc hơn chống được sự phân huỷ của acid tạo thành tổn thương sâu răng[6].
−−
+>−+
OHFPOCaOHPOCaF 2)()()(2
2641026410
7
Thức ăn
Vi khuẩn
Men răng
Fluor + Hydroxyapatite -> Fluorapatite có sức đề kháng cao hơn, có khả năng
đề kháng sự phá huỷ của H
+
-> chống sâu răng.
nước bọt

+Acid từ dạ dày tràn lên miệng
+PH< 5
Sơ đồ tóm tắt cơ chế sâu răng[7]
4.1. Thực trạng bệnh sâu răng
Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã đưa ra 5 mức độ sâu răng dựa vào chỉ số SMT
ở lứa tuổi 12 và 35 – 44 như sau:
Mức độ SMT 12 tuổi SMT 35 – 44 tuổi
Rất thấp 0,0 – 1,1 0,2 – 1,5
Thấp 1,2 – 2,6 1,6 – 6,2
Trung bình 2,7 – 4,4 6,3 – 12,7
Cao 4,5 – 6,5 12,8 – 16,2
Rất cao
≥ 6,6 ≥ 16,3
* Tình hình sâu răng trên thế giới.
9
Sau năm 1975 căn nguyên bệnh sâu răng được làm sáng tỏ hơn. Người ta cũng
thấy rõ hơn tác dụng của fluor khi gặp Apatit thường của răng kết hợp thành fluorid
apatit rắn chắc chống được sự phân hủy tạo thương tổn sâu răng. Do đó ở những
nước phát triển Nhà nước coi chương trình fluor hóa nước uống, thuốc chải răng và
giáo dục nha khoa là quốc sách nên bệnh sâu răng giảm mạnh. Ngược lại những
nước kém phát triển không được fluor hóa nước uống, thiếu sự giáo dục nha khoa,
chế độ ăn đường không đúng nên sâu răng tăng.
Ở các nước phát triển: Từ những năm 1940 đến 1960, tình hình sâu răng rất
nghiêm trọng, trung bình mỗi trẻ em 12 tuổi có từ 8-10 răng sâu hoặc răng đã bị mất
do sâu. Chỉ số SMT của Na Uy tới mức 12,0 năm 1940, những năm 1980, chỉ số
SMT ở tuổi 12 tại các nước này đã giảm xuống mức từ 2,0 - 4,0. Tới năm 1993, chỉ
số SMT tuổi 12 ở hầu hết các nước công nghiệp hóa đã giảm xuống mức thấp từ 1,2
- 2,6. Nhìn chung từ cuối những năm 1970 tới nay, tình hình sâu răng tại các nước
phát triển có xu hướng giảm dần, chỉ số SMT tuổi 12 tại hầu hết các nước ở mức
thấp và rất thấp. Điều này có được là do các nước phát triển đã áp dụng triệt để các biện

Iran 1976 4,9 2001 1,8
Chỉ số SMT trẻ 12 tuổi của một số nước trong khu vực[23]
Tên nước Năm SMT
Trung Quốc 1995 1,03
Lào 1991 2,0
Triều Tiên 1991 3,0
Brunei 1999 4,8
Campuchia 2002 2,3
Philippin 1998 4,6
 Tình hình bệnh sâu răng ở việt nam
So với kết quả điều tra cơ bản bệnh răng miệng toàn quốc năm 1991, kết quả
điều tra răng miệng toàn quốc năm 2001 cho thấy, tình hình sâu răng ở Việt Nam có
11
xu hướng tăng lên và không đồng đều giữa các vùng miền trong cả nước.
Kết quả điều tra cơ bản bệnh răng miệng toàn quốc lần thứ nhất cho thấy tỷ lệ
sâu răng lứa tuổi 12 như sau[14]:
Miền bắc tỷ lệ sâu răng là 43,33%, chỉ số SMT là 1,15
Miền nam tỷ lệ sâu răng là 76,33%, chỉ số SMT là 2,93
Toàn quốc tỷ lệ sâu răng là 57,33%, chỉ số SMT là 1,82
Năm 2001, kết quả điều tra cơ bản bệnh răng miệng toàn quốc lần thứ hai cho
thấy, tỷ lệ sâu răng lứa tuổi 12-14 là 64,1%, chỉ số SMT là 2,05[19].
Tình trạng sâu răng trẻ em toàn quốc năm 2001
Tuổi
Răng sữa Răng vĩnh viễn
% sâu răng Chỉ số SMT % sâu răng Chỉ số SMT
6 - 8 84,9 5,40 25,4 0,48
9 - 11 56,3 1,96 54,6 1,19
12 - 14 64,1 2,05
15 - 17 68,6 2,40
(Ghi chú: Không có số liệu răng sữa của nhóm 12 – 14 và 15 – 17 tuổi)

Qua các số liệu trên cho thấy tình trạng sâu răng còn rất phổ biến và chưa có
dấu hiệu suy giảm, tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn tăng nhanh theo tuổi.
4.3 Phòng chống sâu răng
4.3.1 Các biện pháp PCSR
Năm 1984 WHO đã đưa ra các biện pháp phòng bệnh sâu răng, trong đó nhấn
mạnh đến một số biện pháp sau:
* Sử dụng fluor: Bằng một số cách
- Fluor hóa nguồn nước cung cấp nước cho cộng đồng.
13
- Đưa fluor vào muối.
- Dùng viên fluor
- Xúc miệng với các dung dịch fluor pha loãng.
- Dùng kem đánh răng có fluor
* Trám bít hố rãnh mặt nhai các răng vĩnh viễn.
* Chế độ ăn hợp lý phòng sâu răng
Kiểm soát các thức ăn và đồ uống có đường bao gồm các biện pháp dưới
đây: Kiểm soát các thực phẩm có đường ở trường học, giảm số lần ăn các thực
phẩm đường, giảm mức độ tiêu thụ đường ở tầm quốc gia.
* Hướng dẫn VSRM
Các biện pháp được giám sát chặt chẽ ở trường bao gồm chải răng và dùng chỉ nha
khoa.
Các biện pháp không giám sát được như thực hiện chải răng và các biện pháp
VSRM khác ở nhà.
4.3.2 Can thiệp PCSR ở Việt Nam
Cơ sở khoa học và thực tiễn đã chứng minh chúng ta có thể phòng chống
được sâu răng. Trên thực tế WHO rất quan tâm và tìm ra các biện pháp phòng
chống sâu răng có hiệu quả[3]. Điều quan trọng là chọn biện pháp thích hợp với
điều kiện kinh tế xã hội của đất nước hay từng địa phương và tình trạng bệnh.
Nước ta là một nước đang phát triển, nền kinh tế còn nhiều khó khăn, trang
thiết bị máy móc cũng như đội ngũ cán bộ làm công tác răng hàm mặt còn thiếu do

Để loại trừ mảng bám răng
Số lần chải răng trong ngày
Thời gian chải răng
Cách lựa chọn bàn chải và thuốc đánh răng
Giáo dục dùng chỉ tơ nha khoa để làm sạch các mặt bên của răng
Giáo dục sử dụng đường:
Hướng dẫn chế độ dinh dưỡng cân bằng hợp lý .
Hướng dẫn lựa chọn thực phẩm ít gây sâu răng
15
Giáo dục giảm số lượng và số lần sử dụng đường.
Giáo dục giảm các thói quen có hại
• Hình thức giáo dục : Đưa vào chương trình học chính khoá
• Phương tiện giáo dục : Mô hình, tranh ảnh
 Nội dung 2: Xúc miệng phòng bệnh sâu răng bằng dung dịch NaF 2
0
/
00
Tác dụng : Làm cho men răng cứng hơn, cản trở việc hình thành mảng bám răng.
Cách tiến hành :
Áp dụng cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở
Tổ chức mỗi khối lớp 1 tuần 1 lần trong 3 phút vào 1 ngày cố định trong tuần
Thuốc phải đựng trong lọ và cốc thuỷ tinh hoặc bằng sứ
Là biện pháp có hiệu quả cao và dễ thực hiện.
 Nội dung 3: Tổ chức phòng khám chữa răng cho học sinh tại trường học
Cơ sở : Phòng rộng 12 đến 15 m
2
Nhân lực : 1 y sỹ NHĐ hoặc 1 bác sỹ nha khoa
Trang thiết bị cần thiết :
1 ghế răng cho trẻ em
1 bộ kìm nhổ răng sữa

7 Trụ , chụp G
8 Răng chưa mọc, không mọc
9 Răng bị loại
Các tiêu chuẩn để chẩn đoán và ghi mã số
0 (A) Răng lành mạnh: Không có dấu hiệu của sâu răng, chưa hoặc đã điều
trị
1 (B) Răng sâu: Răng có thương tổn, có đáy mềm và các răng đã hàn tạm
2 (C) Răng đã hàn và có sâu: Răng có 1 hay nhiều miếng hàn và 1 hay nhiều
lỗ sâu
3 (D) Răng đã hàn và không sâu: Răng có 1 hay nhiều miếng hàn vĩnh viễn
và không có sâu thứ phát hoặc sơ phát
4 (E) Răng mất do sâu: Răng sữa hoặc răng vĩnh viễn nhổ do sâu
17
5 Răng mất vì lý do khác: Răng vĩnh viễn mất vì các lý do khác
6 (F) Răng có trám bít vecni
7 (G) Trụ cầu hay chụp
8 Răng chưa mọc
9 Răng bị loại: Các răng không thể khám được
Chỉ số đánh giá tình trạng bệnh sâu răng : SMT (sâu , mất , trám )
S : gồm các mã số : 1và 2
M : gồm mã số 4
T : gồm mã số 3
Đánh giá nhu cầu điều trị:
Mã số 0: Không cần điều trị
Mã số 1: Chăm sóc ngừng sâu răng hoặc trám bít hố rãnh
Mã số 2: Trám 1 mặt
Mã số 3: Trám 2 mặt trở lên
Mã số 4: Mão , trụ cầu
Mã số 5: Đơn vị cầu : phần của cầu thay thế răng bị mất
Mã số 6: Điều trị tuỷ

khám nha để khám và trám bít hố rãnh phòng sâu răng cho học sinh, chưa tổ chức
cho học sinh xúc miệng bằng dung dịch NaF. Nội dung giáo dục nha khoa đã được
triển khai, do các thày cô giáo giảng dạy môn sinh học và giáo dục công dân đảm
nhiệm. Tuy nhiên do chưa có mô hình, hình ảnh cũng như chưa có tiết học chính
khóa nên giáo viên mới chỉ dành phần nhỏ thời gian để trang bị cho học sinh kiến
thức mà chưa có điều kiện hướng dẫn và cho học sinh thực hành. Các giáo viên chỉ
giảng dạy kiêm nhiệm nên phần lớn cũng chưa được được tập huấn, các kiến thức
phổ biến tới học sinh là do các thày cô tự tìm hiểu nên hiệu quả đem lại chưa cao.
5. Kiến thức thực hành phòng chống sâu răng
19
5.1 Thực trạng Kiến thức thực hành phòng chống sâu răng
Theo kết quả nghiên cứu của Đào Thị Ngọc Lan tại Yên Bái năm 2003 thì
chỉ có 21,21% học sinh biết mình bị sâu răng. Với câu hỏi bạn có hiểu biết gì về
fluor không cũng chỉ có 26,22% học sinh trả lời có. 68,6% học sinh biết chải răng là
để phòng sâu răng, 75,61% học sinh biết ăn đồ ngọt gây sâu răng và 42,68% học
sinh biết cần đi khám răng định kỳ.
Cũng trong nghiên cứu này khi hỏi bạn vệ sinh răng miệng thế nào sau khi
ăn thì chỉ có 10,37% học sinh đánh răng, 19,51% tăm răng, 26,52% xúc miệng và
có tới 43,6% không vệ sinh răng miệng sau khi ăn. 30,49% số học sinh đánh răng
ngày 2 lần, 1 lần 15,85%, thỉnh thoảng 9,45% và 44,21% không đánh răng[8].
Kết quả của Nguyễn Đăng Nhỡn tại Yên Sơn - Tuyên Quang năm 2004 ở
học sinh 12 tuổi cho thấy 32,71% biết mình bị sâu răng, 48,6% các em biết cần đi
khám răng định kỳ. Khi hỏi đánh giá thực hành đánh răng cho thấy 28,04% học sinh
không đánh răng, 45,79% đánh răng ngày 1 lần và 26,17% đánh răng ít nhất 2 lần 1
ngày, 65,42% chưa đi khám răng lần nào. Có 49,02% cha mẹ biết con mắc bệnh
răng miệng, 74,5% có nhắc nhở con vệ sinh răng miệng và 82,35% cho rằng cần
thiết phải đi khám răng định kỳ, 60,79% chưa đưa con đi khám răng lần nào[11].
Trong nghiên cứu của Ngô Thị Hoa Sen năm 2005 tại Gia Lâm Hà Nội 70%
cha mẹ có kiến thức về phòng chống bệnh răng miệng chưa đạt yêu cầu, và 86,1%
thực hành phòng chống bệnh răng miệng cho con chưa đạt yêu cầu[15].

+ Găng tay
+ Dung dịch khử khuẩn , dung dịch ngâm
+ Phiếu khám lâm sàng
- Thu thập thông tin bằng bộ câu hỏi có sẵn để phỏng vấn trực tiếp 154 học sinh khối lớp
6 và cha hoặc mẹ những học sinh đó. Các nội dung chính của bảng hỏi:
+ Thông tin chung.
+ Hiểu biết về bệnh răng miệng của học sinh.
+ Thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh.
+ Ai hướng dẫn học sinh kiến thức, thực hành chăm sóc răng miệng.
+ Thực hành PCSR cho con của cha, mẹ HS.
22
6. Các biến số nghiên cứu
TT Tên biến Định nghĩa Loại biến
Phương pháp
thu thập
Các thông tin chung
1 Giới Nam hay nữ Nhị phân Bộ câu hỏi
phỏng vấn
2 Học lực Kết quả học tập của học sinh
theo bảng điểm gồm
( giỏi, khá, trung bình, yếu)
Thứ bậc Bộ câu hỏi
phỏng vấn
Các biến số lâm sàng
3 Tình trạng
sâu răng.
Được khám bởi các bác sỹ
lâm sàng, việc sâu răng có hay
không.
Nhị phân

7 Lý do gây
sâu răng
Bao gồm : Vi khuẩn, chất
đường, không đánh răng
Phân loại Bộ câu hỏi
8 Tác hại của
sâu răng
Là những tác hại do sâu răng
gây ra mà học sinh có thể hiểu
biết được. Bao gồm:
Phân loại. Bộ câu hỏi
phỏng vấn.
23
TT Tên biến Định nghĩa Loại biến
Phương pháp
thu thập
- Gây đau răng
- Làm xấu răng.
- Gây sứt mẻ, gãy răng
- Làm mất răng
9 Cách phòng
bệnh sâu
răng
Là những biện pháp phòng
bệnh mà HS có thể biết bao
gồm:
- Đánh răng hàng ngày
- Không ăn đồ ngọt nhiều lần
- Xúc miệng bằng nước Fluor
Phân loại.

13 Thời điểm
đánh răng
Gồm các thời điểm:
- Ngủ dậy buổi sớm
- Tối trước khi đi ngủ
- Sau bữa trưa
Phân loại
Bộ câu hỏi
phỏng vấn
24
TT Tên biến Định nghĩa Loại biến
Phương pháp
thu thập
14 Thời gian
cho một lần
chải răng
Là thời gian từ khi bắt đầu
chải đến lúc chải xong
Thứ bậc
Bộ câu hỏi
phỏng vấn
15 Cách chải
răng
Là cách đưa bàn chải tiếp xúc
với răng gồm (chải dọc thân
răng, chải ngang răng, chải 3
mặt của răng)
Phân loại
Bộ câu hỏi
phỏng vấn

Phân loại
Bộ câu hỏi
phỏng vấn
19
Hướng dẫn
học sinh thực
hành PCSR
Bao gồm
- Cha mẹ
- Nguồn từ NHĐ (thày cô
giáo, cán bộ phụ trách NHĐ)
- Nguồn khác (BS, bạn bè,
Phân loại Bộ câu hỏi
phỏng vấn
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status