Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
-----------------------------
NGUYỄN THỊ DUYÊN NGHIÊN CỨU NĂNG SUẤT, CHẤT LƢỢNG CỦA MỘT SỐ
GIỐNG CỎ TRỒNG Ở XÃ CẢNH HƢNG, HUYỆN TIÊN DU, TỈNH
BẮC NINH VÀ MÔ HÌNH KHAI THÁC THỨC ĂN CHO GIA SÖC LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Chuyên ngành: SINH THÁI HỌC
Mã số: 60.42.60
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. HOÀNG CHUNG
Thái Nguyên - 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN
Sau hai năm học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn. Tôi xin
bầy tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới:
PGS-TS Hoàng Chung đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận
Nguyễn Thị Duyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................... 5
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................... 6
1.1. Tình hình nghiên cứu về cây thức ăn gia súc trên thế giới và ở Việt
Nam ........................................................................................................... 6
1.1.1. Những nghiên cứu về năng suất của đồng cỏ tự nhiên ........................... 6
1.1.2. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới .......................... 8
1.1.3. Những kết quả nghiên cứu về nâng cao năng suất cây thức ăn gia
súc trên thế giới ......................................................................................... 9
1.1.4. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam ......................... 12
1.2. Tình hình nghiên cứu đồng cỏ trên thế giới và ở Việt Nam .................... 19
1.3. Những nghiên cứu về sử dụng đồng cỏ Bắc Việt Nam ........................... 23
1.4. Vấn đề nguồn gốc và phân bố đồng cỏ trong đai nhiệt đới ...................... 24
1.5. Vấn đề thoái hoá đồng cỏ do chăn thả .................................................... 25
1.6. Thành phần dinh dưỡng của thức ăn xanh ............................................. 29
1.7. Một số đặc điểm sinh thái và sinh vật học của hoà thảo .......................... 33
1.7.1. Đặc tính sinh thái ................................................................................. 33
1.7.2. Đặc tính sinh vật học .......................................................................... 34
1.7.3. Đặc tính sinh lý ................................................................................... 35
1.7.4. Đặc tính sinh trưởng ........................................................................... 37
1.7.5. Sức sống cỏ hoà thảo ........................................................................... 37
1.8. Giá trị kinh tế của các loại cây dùng trong chăn nuôi bò ......................... 38
1.8.1. Cỏ Hoà thảo......................................................................................... 38
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4.7. Năng suất cỏ tự nhiên trên đồi xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hoà ................ 84
4.8. Thảm cỏ tự nhiên ở đồi xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hoà ............................ 85
4.9. Hiệu quả mô hình chăn nuôi bò .............................................................. 94
4.9.1. Hiệu quả mô hình chăn nuôi bò sữa ..................................................... 94
4.9.2. Hiệu quả mô hình chăn nuôi bò thịt ..................................................... 96
4.10. Kết luận và đề nghị ............................................................................... 98
PHỤ LỤC................................................................................................... 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................... 103
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC CHỮ VÀ KÍ HIỆU VIẾT TẮT
A : Ẩm sinh
DS : Dạng sống
Đ : Độc hại với gia súc
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng
ĐV : Động vật
ĐVTA : Đơn vị thức ăn
H
o
: Không có giá trị chăn thả
H-T : Hạn – Trung sinh
H : Hạn sinh
MNPB : Miền núi phía Bắc
NXB : Nhà xuất bản
T : Trung sinh
TB : Trung bình
T-H : Trung sinh - Hạn sinh
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp, ngoài trồng trọt thì lĩnh vực chăn
nuôi giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. So với mức tăng bình
quân của cả ngành nông nghiệp, thì ngành chăn nuôi luôn có tốc độ tăng
trưởng cao hơn. Đàn bò thịt giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân 9,18%/năm,
ĐBSCL 25%; ĐBSH 19,2%, Tây Nguyên 11,5%...Đàn bò sữa của Việt Nam
có tốc độ tăng bình quân mỗi năm 26,1%. Những năm gần đây xu hướng phát
triển nông nghiệp nói chung là theo con đường thâm canh công nghiệp đang
diễn ra mạnh mẽ. Ở nước ta ngành chăn nuôi đã được chú ý đầu tư nên phát
triển tương đối mạnh. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn thì tại thời điểm 1/8/2007, quy mô đàn trâu trên cả nước tăng 2,58%, đạt
2,996 triệu con: Trong đó đàn trâu nuôi lấy thịt tăng 7,3%, trâu cày kéo tiếp
tục có xu hướng giảm nhẹ so với các năm trước do làm đất bằng máy tăng.
Đàn bò đạt 6,724 triệu con, tăng 3,29%; trong đó đàn bò thịt tăng 5,4%, đàn
bò sữa giảm 14,5 nghìn con (-12,9%) do trương trình nuôi bò sữa nhiều nơi
không có hiệu quả. Các địa phương có tổng đàn bò tăng cao so với cùng kì
năm trước tập trung ở vùng trung du và miền núi có đồng cỏ để chăn thả. Dự
kiến đến năm 2010, Việt Nam đạt mục tiêu tổng đàn trâu 3,5 triệu con, đàn bò
7,6 triệu con. Mặt khác, nhờ áp dụng những thành tựu khoa học, kĩ thuật,
nghành di truyền học, các nhà chọn giống đã nghiên cứu lai tạo, chọn lọc rất
nhiều giống vầt nuôi có năng xuất thịt, sữa, trứng cao phần nào đã đáp ứng
nhu cầu về dinh dưỡng của số dân đang không ngừng tăng lên như hiện nay.
Với diện tích 32% và dân số chiếm 17%, cùng với khí hậu nhiệt đới gió
mùa, miền núi trung du phía Bắc là vùng sinh thái rất có điều kiện phát triển
ngành chăn nuôi, nhất là chăn nuôi đại gia súc. Giai đoạn 2001-2007, đàn trâu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
áp dụng rộng rãi, nên năng suất và chất lượng thịt còn thấp. Giá thu mua sữa
thấp đã dẫn đến tình trạng năm 2005 có khoảng 1-1,2 vạn bò sữa bị đưa vào
giết thịt. Chưa có chính sách quốc gia về phát triển trâu, nên trâu vẫn hầu hết
thả rông kiểu quảng canh, giống như dê, cừu. Năng suất, sản lượng thịt, sữa và
hiệu quả chăn nuôi chưa cao; chăn nuôi bò sữa còn nhỏ bé và bấp bênh. Việc
chăn nuôi gia súc ăn cỏ chưa tương xứng với tiềm năng.
Nguyên nhân cơ bản là do chăn nuôi gia súc chưa được đầu tư đúng mức,
đặc biệt thiếu trầm trọng thức ăn thô xanh. Thức ăn thô xanh là nguồn dinh
dưỡng chủ yếu cho gia súc ăn cỏ, nhưng hiện nay, nguồn thức ăn này chủ yếu là
tận dụng cỏ tự nhiên và phụ phẩm trong nông nghiệp, trong khi đồng cỏ thâm
canh còn rất nhỏ bé. Cần có 5 yếu tố cần thực hiện đồng bộ để phát triển chăn
nuôi. Đó là trang trại, tiến bộ kỹ thuật, thức ăn, thú y và thị trường.
Đồng cỏ ở ta hiện nay còn rất hạn chế, chủ yếu là trồng xen, tận dụng
chứ chưa thành phổ biến đại trà. Các giống cỏ năng suất cao được nhập vào
nước ta từ những năm 70 của thế kỷ XX với rất nhiều giống tốt đã thích nghi
cao với điều kiện nước ta nhưng chưa phát huy được, vì đến nay diện tích
dành cho trồng cỏ còn quá nhỏ bé. Rất nhiều chương trình khuyến nông phát
triển đồng cỏ nhưng chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ, vẫn chưa thay đổi được tập
quán người chăn nuôi, thường cho rằng việc gì phải đi trồng cỏ! Nhưng thực
tế cho thấy rõ, trồng cỏ chăn nuôi cho lợi ích hơn nhiều lần trồng lúa và nhiều
loại cây trồng khác.
Xu thế của xã hội ngày nay đòi hỏi phải phát triển ngành chăn nuôi để
có thể cung cấp khối lượng thực phẩm lớn với chất lượng cao nhưng giá thành
chi phí về thức ăn thấp.Với chăn nuôi trâu bò thì thức ăn hàng ngày của chúng
là cỏ. Đồng cỏ Việt Nam phân bố rải rác khắp nơi nhưng tập trung nhiều nhất
vẫn là trên các đồi núi, cao nguyên của trung du và miền núi (chiếm tới 10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
2. Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở điều tra về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Cảnh
Hưng để tính toán thực trạng kinh tế của từng vùng.
- Nghiên cứu năng suất, chất lượng một số giống cỏ trồng địa phương
dưới ảnh hưởng của chế độ bón phân, thu hái.
- Đánh giá về mô hình đang khai thác thức ăn của địa phương và hiệu
quả kinh tế của nó.
- Đưa ra những kết luận về năng suất và chất lượng của các giống
cỏ và đề xuất mô hình chăn nuôi góp phần phát triển kinh tế gia đình và
địa phương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu về cây thức ăn gia súc trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Những nghiên cứu về năng suất của đồng cỏ tự nhiên
Vấn đề nghiên cứu về năng suất sinh vật học của các thảm thực vật đã
bắt đầu từ thế kỷ XIX, đầu tiên chủ yếu là những công trình nghiên cứu có
tính chất thống kê trong kinh tế nông nghiệp. Sang đầu thế kỷ XX, những
công trình nghiên cứu về năng suất sinh vật học của các quần xã cỏ tự nhiên
và cỏ cho chăn nuôi đã được nghiên cứu nhiều hơn, với những thí nghiệm trên
các kiểu đất khác nhau và hình thức khác nhau, điển hình như:
Hendin (1947) làm thí nghiệm và xác định: Cách ba tuần cắt một lần sẽ
được một lượng prôtit thô, tính trên 1 ha xấp xỉ bằng khi để cỏ già cắt một lần
và cắt thêm những cỏ mọc lại. Nhưng hiệu suất tiêu hoá của cỏ cắt định kỳ lại
cao hơn (30,3% so với 17,2%). Như thể, cắt nhiều lần cỏ năng suất prôtit dễ
tiêu cao hơn. Louw (1938) đã nghiên cứu chi tiết tác dụng đối với cỏ mọc tự
nhiên của việc cắt theo những khoảng cách khác nhau, hàng tháng hoặc hai
tháng một lần hoặc ba tháng một lần….Chính những lần cắt hàng tháng cho ít
năng suất đồng cỏ. Từ 1960 đến nay nhiều công trình nghiên cứu về năng suất
đã được tiến hành trong các quần xã cỏ tự nhiên và cỏ trồng (chăn thả hay
đồng cỏ cắt). Dương Hữu Thời (1981); Nguyễn Hữu Hiến (1985), … chỉ
nghiên cứu một số cây có giá trị kinh tế cao trên đồng cỏ tự nhiên và chủ yếu
tính sản lượng cỏ trong một số vùng nhằm phục vụ cho kế hoạch phát triển
chăn nuôi đại gia súc của một số vùng đó. Hoàng Chung (2004) đã tiến hành
nghiên cứu năng suất các quần xã cỏ của vùng Việt Bắc và vùng Tây Bắc trên
hai đai (Nhiệt đới và á nhiệt đới). Trong công trình nghiên cứu của ông đã đề
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
cập đến những chỉ tiêu về khí hậu, thổ nhưỡng, thành phần loài, dạng sống
phần trên mặt đất, phần dưới mặt đất và đi đến kết luận về sự biến đổi năng
suất trên đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam: “Trong các điều kiện thảm
thực vật (savan – đồng cỏ) của Bắc Việt Nam, năng suất sinh vật học giảm
dần dần theo trình tự sau: Đồng cỏ á thảo nguyên – Đồng cỏ - Savan cỏ” [7].
1.1.2. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới
Ở các nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển, vấn đề thức ăn rất
được quan tâm và đầu tư nghiên cứu như: Úc, Mỹ, Brazin,Anh … Chăn nuôi
là một bộ phận quan trọng trong hệ thống sản xuất của vùng đồi núi ở Đông
Nam Á, có rất nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu về cây thức ăn cho gia
súc như: Tác giả T. Kanno và M. C. M. Macedo [56] đã tiến hành thí nghiệm
gieo hạt của các giống cỏ Brachiaria decumbens, B .brizantha, B.
dictyoneura, B. humidicola, Andropogon gayanus, Setaria anceps và
Paspalum atratum đầu mùa mưa tại các cánh đồng ở khu vực đầm lầy. Các
tác giả thấy không có loài nào có thể sống sót trong mùa mưa ở khu vực đất
lầy. Còn khi gieo hạt và giữa mùa mưa thì chỉ còn một lượng nhỏ cây giống
con còn tồn tại vào cuối mùa mưa, tuy nhiên cũng không thể sống sót cho đến
hết mùa mưa. Những kết quả chỉ rõ rằng giai đoạn cây con phù hợp nhất ở
khu vực đầm lầy là bắt đầu của mùa khô, khi đất trở nên cứng có thể sử dụng
nuôi đại gia súc ngày một phát triển.
1.1.3. Những kết quả nghiên cứu về nâng cao năng suất cây thức ăn gia
súc trên thế giới
Trên thế giới hiện nay ngoài việc tuyển chọn, lai tạo, di nhập các giống
cỏ tốt từ vùng này sang vùng khác, người ta còn tập trung giải quyết vấn đề
năng suất, chất lượng cỏ.Theo Quilichao, Colombia CIAT, (1978) [58], giống
cỏ Brachiaria decumbens có thể đạt năng suất chất khô trên 40.000kg/ha/năm
với thí nghiệm không có bón đạm nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt
nhất trong điều kiện bón lân và đạm thấp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Tại Samford, Queensland năng suất hàng năm của giống Paspalum
dilatatum là 15 000 kg VCK (Davies, 1970) [50] . Tại Fiji năng suất trung bình
là 5.313 kg VCK/ha với mức prôtein thô là 9,9% trong thời gian trên 3 năm.
Tại Redland Bay, Queensland, Riveros và Wilson, 1970 [49] thông báo
năng suất cỏ Setaria sphacelata đạt từ 23.500 – 28.000 kg/ha qua mùa sinh
trưởng 6 tháng trong điều kiện cỏ được tưới nước và cung cấp 225 kg đạm
ure/ha/năm trên nền đất baza mầu mỡ .
Tại Thái Lan, sản lượng vật chất khô của các giống cỏ Digitaria
decumbens, Paspalum atratum, Brachiaria mutica và Paspalum plicatulum
khoảng từ 15-20, 18-25, 9-15 và 6-10 tấn/ha (bảng 1.1).
Bảng 1.1: Sản lƣợng VCK và chất lƣợng những loài cỏ
trên vùng đất thấp vào 45 ngày cắt
Tên khoa học Tên Việt Nam Năng suất (tấn/ha) Prôtêin (%)
Brachiaria mutica Cỏ lông Para 9 - 15 6 – 10
Digitaria
decumbens
Pangola 15 – 20 7 – 11
Paspalum atratum Cỏ đắng 18 – 25 6 – 7
11/01/2001 2,6
11/02/2001 4,1
11/03/2001 4,3
11/04/2001 5,8
11/05/2001 3,7
Nguồn: Annual Report on Animal Nutrition Division (2001) [42].
Theo Quilichao (Colombia CIAT, 1978) [41], giống Brachiaria
decumbens có thể đạt năng suất chất khô trên 42.000 kg/ha/năm với thí
nghiệm không bón đạm nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất trong
điều kiện bón lân và đạm thích hợp. Thí nghiệm cắt hàng năm cho năng suất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
chất khô đạt 36.700 kg/ha, kết quả này cao hơn so với cỏ Pangola (Digitaria
decumbens), Para (Brachiaria mutica) và Ghinê (Panicum maximum)
(Barnard, 1969) [51].
Tại Purertorico, Vieente – Chandler Silva và Figarella (1959) [46]
thông báo năng suất giống Panicum maximum Cv Makueni đạt 26.846 kg
VCK/ha với mức bón 440 kg đạm/ha và cứ 40 ngày cắt 1 lần khi trồng cỏ.
Middleton và Micosker, (1975) [45] cho biết vào năm 1973 và 1974 tại miền
Nam Johnstone, vùng Queensland, vẫn giống Panicum maximum Cv Makueni
đã sản xuất được 60.000 kg VCK/ha với điều kiện cung cấp 300 kg đạm/ha.
Tại Samford, Queensland năng suất hàng năm của giống Paspalum rinatatum
là 15.000 kg VCK/ha (Davies, 1970) [43].
Đối với giống cỏ Setaria sphacelata các kết quả nghiên cứu của
Riveros và Wilson (1970) [49] tại Redlanbay, Queensland, thông báo năng
suất đạt từ 23.500- 28.000 kg/ha qua mùa sinh trưởng 6 tháng trong điều kiện
cỏ được tưới nước và cung cấp 225 kg đạm/ha/năm trên nền đất đỏ Bazan
mầu mỡ.
1.1.4. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam
được đưa vào sử dụng ở các cơ sở nghiên cứu và trung tâm chăn nuôi trong cả
nước như Mộc Châu, Ba Vì, Đồng Giao, Tân Sơn Nhất, Hưng Lộc, Thủ Đức,
Khánh Dương, Nha Bố, ….
Những năm gần đây nước ta đã nhập nhiều đợt các giống cỏ họ Đậu và
cỏ hoà thảo nhiệt đới (chủ yếu từ Oxtrâylia và Cuba) và đã tiến hành trồng thí
nghiệm ở một số địa phương. Một số giống đã được đưa vào sản xuất như cỏ
Pangola (Digitaria decumbes) cỏ đậu Stylo (Stylosanthes) ... Nhiều nông
trường và hợp tác xã cũng đã trồng cỏ Voi, cỏ Xuđăng, cỏ Pangola ... Kết quả
thu hoạch các loại cỏ đó cho biết, nếu mỗi năm cắt được 3-4 lứa thì có thể đạt
năng suất 50-60 tấn/ha, trồng qua 3-4 năm cỏ vẫn phát triển tốt [2].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
Nguyễn Ngọc Hà và CTV (1985) đã tiến hành nghiên cứu, tuyển chọn
tập đoàn cỏ nhập nội và đưa ra nhận xét: Nhóm cỏ thân cụm Panicum
maximum Liconi và K280 cho năng suất trung bình 17-18 tấn VCK/ha/năm
với 7-8 lứa cắt [14].
Trong thời gian 10 năm trở lại đây, thông qua hoạt động hợp tác quốc
tế và từ nhiều nguồn khác nhau, chúng ta đã nhập trên 100 giống cây thức ăn
hoà thảo và họ đậu có nguồn gốc nhiệt đới (CSIRO, CIAT, Philippin,
Inđônêsia, Thái Lan), nhằm phát triển khả năng sản xuất thức ăn xanh cho
chăn nuôi. Một số giống cỏ nhập nội đã được đánh giá, kết quả tốt và ứng
dụng vào sản xuất ở một số vùng. Tuy nhiên, do không có sự quản lý, chỉ đạo
thống nhất cho nên một số giống sau khi đánh giá đã bị thất lạc, mất đi hoặc
chưa có điều kiện thử nghiệm ở các vùng khác để có cơ sở chắc chắn mở rộng
ra sản xuất.
Kết quả những công trình nghiên cứu về cây thức ăn chăn nuôi cũng
chưa nhiều. Trong những năm gần đây, một số nhà khoa học mới tập trung
vào nghiên cứu một số giống cây thức ăn hòa thảo, họ Đậu nhập nội ở một số
vùng như: Lục Văn Ngôn, 1970 [30], đã nghiên cứu so sánh năng suất và khả
8 Brachiaria mutica 28.42 7.61 68.9 12.7 42.6 10.2 86.6 15.9
9 Brachiaria decumbens 44.16 8.77 72.6 13.7 56.7 11.2 73.8 11.8
Nguồn: Lê Hòa Bình, Nguyễn Ngọc Hà và CTV, 1992.
Trương Tấn Khanh và CTV, năm 1999 [31] đã nghiên cứu tập đoàn cây
thức ăn gia súc tại Đắc Lắc. Bùi Thế Hùng trồng thử nghiệm một cây thức ăn
gia súc trong các trại vùng trung du miền núi phía bắc. Vũ Thị Kim Thoa
1999 [29] nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất của một số giống cỏ sả
trên vùng đất xám Bình Dương. Dương Quốc Dũng và CTV, 1999 [13]
nghiên cứu nhân giống hữu tính cỏ Ruzi và phát triển chúng vào sản xuất một
số tỉnh phía Bắc và miền Trung. Lê Hòa Bình, Nguyễn Phúc Tiến, Hồ Văn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Núng, Đặng Đình Hanh, 1997,[234] đã nghiên cứu giống cỏ Para, các tác giả
cho biết cỏ Para có năng suất 89-98tấn/ha với khối lượng xanh thu trong mùa
đông 35-45 tấn/ha tương đương 39-47% khi trồng trên đất có độ ẩm cao và có
ngập nước. Nguyễn Tuấn Hảo, 1999 đã trồng thử nghiệm một số loài cây
thức ăn gia súc nhập nội và cải tạo đất, trong đó tác giả đưa vào nghiên cứu
24 loại cây họ đậu và 18 loài hòa thảo nhằm mục đích tìm ra một số cây vừa
làm thức ăn gia súc, vừa có tác dụng chống xói mòn và cải tạo đất, phù hợp
với khí hậu vùng trung du Bắc Bộ. Trong các loài thử nghiệm tác giả đã kết
luận ưu điểm của các giống cỏ Brachiria brizantha CIAT 16835 và cỏ
Brachiria ruziensis ex. Thái lan là hai loài cỏ mọc khỏe nhất , cho sinh khối
cao (năng suất khoảng 30-40 tấn/ha) và có khả năng chịu hạn. Ngoài ra, tác
giả đề cập đến 2 giống cỏ triển vọng là Paspalum atratum BRA 9610 và
Paspalum guenoarum BRA 3824.
Phan Thị Phần và CTV (1998) [20] khi nghiên cứu cỏ Ghinê TD58 ở
khu vực miền Nam và miền Bắc cho kết quả:
+ Khu vực miền Nam, địa điểm nghiên cứu tại vùng đất xám Bình
Dương với 20 tấn phân chuồng, 80 kg P