ĐỀ TÀI: Nghiên cứu một số chỉ số thể lực, trí tuệ của học sinh tiểu học và trung học cơ sở xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh - Pdf 24

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xã hội ngày càng văn minh, đời sống vật chất ngày càng được nâng cao
đòi hỏi mỗi con người phải không ngừng phấn đấu vươn lên trong mọi lĩnh
vực. Con người còn là nền tảng của gia đình và là nguồn nhân lực quan trọng
của đất nước. Hơn nữa phát triển con người là mục tiêu của sự phát triển kinh
tế xã hội, là nhân tố cơ bản để đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
[28], [29]. Theo đánh giá của Liên hợp quốc [13], thực trạng chỉ số phát triển
của con người Việt Nam đứng vị trí 116 trên tổng số 173 nước trên thế giới,
chỉ số này thuộc nhóm thấp của thế giới. Do đó công tác giáo dục và đào tạo
được coi là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân
lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Nguồn nhân lực tri thức của đất nước
chính là thế hệ học sinh, sinh viên đang học tập và nghiên cứu trong các
trường phổ thông, trung học chuyên nghiệp và đại học.
Các chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh được coi là hai mặt
cùng phát triển trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực tri thức cho đất nước.
Thực tế cho thấy, muốn đưa ra một biện pháp đúng đắn và hiệu quả đối với sự
nghiệp giáo dục và đào tạo một cách toàn diện, phải dựa vào hiện trạng thể
lực và năng lực trí tuệ của học sinh.
Ngay từ trước năm 1975, nhiều tác giả đã nghiên cứu về các chỉ số thể
lực và trí tuệ của con người Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu được trình bày
trong quyển “HSSH” [85]. Tài liệu này được sử dụng trong các sách giáo
khoa, các giáo trình, tài liệu dạy và học
Trong thời kì đổi mới cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, trong
những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về thể lực và trí tuệ
của học sinh Việt Nam ở các địa bàn khác nhau. Các kết quả nghiên cứu đã
được trình bày trong các tạp chí, tài liệu chuyên ngành và trong cuốn “Kết
quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam” [65].
1
Đáng chú ý là công trình “Nghiên cứu đặc điểm sinh thể con người Việt Nam,
tình trạng dinh dưỡng và các biện pháp nâng cao chất lượng sức khỏe” mã số

- Nghiên cứu các chỉ số trí tuệ của học sinh tiểu học và trung học cơ sở xã
Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (chỉ số IQ, mức trí tuệ và trí nhớ).
- Nghiên cứu chỉ số vượt khó (AQ) của học sinh tiểu học và trung học
cơ sở xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu là học sinh tiểu học và trung học cơ sở ở xã
Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Tất cả có 9 nhóm với 9 độ tuổi
khác nhau từ 7 - 15 tuổi. Tổng số đối tượng nghiên cứu khoảng 897 học sinh
trong đó có khoảng 460 học sinh nam và 437 học sinh nữ.
- Địa điểm nghiên cứu là trường tiểu học và trung học cơ sở xã Minh
Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Các chỉ số chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình được xác định
theo phương pháp hiện hành của ngành y tế.
- Tần số tim được xác định bằng ống nghe tim phổi.
- Huyết áp được xác định bằng phương pháp Korotkov.
- Năng lực trí tuệ được xác định bằng cách sử dụng test “Khuôn hình
tiếp diễn” của Raven loại A, B, C, D và E dùng cho người từ 6 tuổi trở lên.
- Trí nhớ được xác định bằng phương pháp Nechaiev.
- Chỉ số AQ được xác định bằng cách sử dụng test Paul Stoltz. PH. D, có
cải tiến.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Là đề tài đầu tiên xác định được một số chỉ số về thể lực và trí tuệ của học
sinh tiểu học và trung học cơ sở xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
- Kết quả trong luận văn có thể góp phần vào việc bổ sung số liệu cho
hướng nghiên cứu về thể lực, sinh lý, trí tuệ của học sinh tiểu học và trung
học cơ sở, cung cấp dẫn liệu cho quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học và
là dẫn liệu cho công tác giáo dục học sinh được tốt hơn.
3
NỘI DUNG

liên quan giữa các chỉ số hình thái giải phẫu, sinh lý khác nhau. Đây là
phương pháp đánh giá thể lực bằng các chỉ số. Loại chỉ số đơn giản nhất được
xác định dựa vào chỉ số là chiều cao, cân nặng như chỉ số Broca, Kaup, chỉ số
khối cơ thể (BMI) Còn loại chỉ số phức tạp hơn dựa vào nhiều chỉ số hơn
(chiều cao, cân nặng, vòng ngực ) như chỉ số pignet, QVC, Vervaek. Bởi
vậy, đã có nhiều công trình ngiên cứu về các chỉ số này [5], [7], [8], [12],
[14], [15], [23], [24], [25], [30], [32], [33], [41], [43], [49], [62], [64], [81].
Công trình nghiên cứu đầu tiên về thể lực của con người là của
C.F.Jumpert (theo [83]). Ông đã nghiên cứu cân nặng cơ thể, chiều cao và các
đại lượng khác ở trẻ em từ 1 đến 25 tuổi.
Nghiên cứu dọc đầu tiên về chiều cao do P.Montbeilard (theo [83])
thực hiện ở người con trai của mình trong 18 năm liên tục, kể từ khi sinh ra
đến năm 1777. Sau này số liệu của P.Montbeilard được D.A.Thomson thể
hiện trên đồ thị (theo [83]). Tiếp theo đã có nhiều tác giả nghiên cứu về thể
lực của trẻ em.
Theo một số tác giả, quá trình phát triển cơ thể con người diễn ra
không đồng đều [6], [7], [14], [15], [24], [41], [62], [81], [82], [83]. Sự phát
triển không đồng đều ở trẻ em thể hiện qua các thời kỳ khác nhau, có thời kỳ
tốc độ tăng trưởng nhanh, còn thời kỳ khác lại tăng trưởng chậm [14], [62],
[69]. Trong quá trình phát triển ở trẻ em từ khi sinh ra cho đến khi trưởng
thành có hai giai đoạn tăng trưởng “nhảy vọt”. Đó là giai đoạn từ 5 đến 7
tuổi và giai đoạn dậy thì [62], [69]. Trong quá trình phát triển ở trẻ em, sự
5
hoàn chỉnh các cơ quan xảy ra không đồng thì và không đồng tốc [6], [27],
[39], [50], [83], [88].
Nhiều tác giả khác [62], [81], [88] nhận thấy có sự khác nhau về tốc
độ phát triển thể lực giữa nam và nữ. Từ 7 đến 10 tuổi, tốc độ tăng chiều cao
của nữ nhanh hơn của nam. Từ 11 tuổi trở đi, tốc độ tăng chiều cao của nam
lại nhanh hơn của nữ. Đó là nguyên nhân đã tạo ra điểm giao chéo tăng
trưởng chiều cao lần thứ nhất và lần thứ hai lúc 11 và 14 tuổi [62].

và 15 tuổi ở nam. Vòng ngực trung bình của nữ trưởng thành là 79cm và của
nam là 78cm. Năm 1989, nhóm tác giả Thẩm Thị Hoàng Điệp, Nguyễn
Quang Quyền, Vũ Xuân Khôi và cs [25] đã tiến hành nghiên cứu chiều cao,
vòng đầu, vòng ngực, chỉ số dài chi dưới trên 8000 người từ 1-55 tuổi ở cả
ba miền Bắc, Trung, Nam. Nhóm tác giả nhận thấy, chiều cao của nam tăng
nhanh đến 18 tuổi, của nữ tăng nhanh đến 14 tuổi và có quy luật gia tăng
chiều cao cho người Việt Nam (tăng 4cm/20 năm). Vòng ngực tăng nhanh
nhất ở nam lúc 13-16 tuổi và ở nữ lúc 11-14 tuổi.
Đào Huy Khuê [41] nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thước về sự tăng trưởng
và phát triển của cơ thể trên 1478 học sinh từ 6-17 tuổi ở thị xã Hà Đông. Tác
giả nhận thấy, hầu hết các thông số hình thái đều tăng dần theo tuổi, nhưng
nhịp độ tăng không đều. Tốc độ tăng tối đa các thông số nghiên cứu của nữ là
lúc 11-15 tuổi và của nam lúc 14-16 tuổi. Từ 6-9 tuổi, các kích thước của nữ và
nam không có sự khác biệt rõ rệt. Từ 11-15 tuổi, các kích thước của nữ thường
cao hơn của nam và 16-17 tuổi, các chỉ số này của nam lại vượt của nữ. Tác giả
cũng cho rằng, có sự gia tăng chiều cao của người Việt Nam.
Năm 1991-1995, nhóm tác giả Trần Văn Dần và cs [14], nghiên cứu
trên 13747 học sinh từ 8-14 tuổi ở các địa phương Hà Nội, Vĩnh Phú, Thái
7
Bình về các chỉ số chiều cao, cân nặng và vòng ngực trung bình. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, so với số liệu trong cuốn “HSSH” [85] thì sự phát triển
chiều cao của trẻ em từ 6-16 tuổi tốt hơn, đặc biệt là trẻ em thành phố, thị xã,
nhưng sự gia tăng cân nặng chỉ thấy rõ ở trẻ em Hà Nội, còn ở khu vực nông
thôn chưa thấy có sự thay đổi đáng kể. Học sinh thành phố và thị xã có xu
hướng phát triển thể lực tốt hơn so với ở nông thôn.
Nghiêm Xuân Thăng [77], đã đo 17 chỉ số hình thái (chiều cao, cân
nặng, vòng ngực, chỉ số pignet, Broca ) của người Việt Nam từ 1-25 tuổi ở
một số vùng của Nghệ An và Hà Tĩnh. Tác giả có nhận xét rằng, sự phát triển
chiều cao ở tất cả các độ tuổi của cư dân vùng Nghệ An có khí hậu vừa nóng
khô vừa nóng ẩm so với cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ không có thời kỳ

Nam khá phong phú. Tuy kết quả nghiên cứu trong các công trình có sự khác
nhau ít nhiều, nhưng đều xác định được là chúng biển đổi theo lứa tuổi và
mang đặc điểm giới tính. Trong quá trình phát triển ở trẻ em có hai giai đoạn
nhảy vọt tăng trưởng. Mốc đánh dấu lứa tuổi nhảy vọt của các công trình là
tương đối thống nhất đó là chiều cao tăng nhanh nhất từ 13-15 tuổi ở nam, 11-
13 tuổi ở nữ và có sự khác biệt về những chỉ số này giữa nam và nữ, giữa học
sinh thành phố, thị xã và học sinh nông thôn.
1.2. CÁC CHỈ SỐ VỀ CHỨC NĂNG CỦA MỘT SỐ HỆ CƠ QUAN
1.2.1. Tần số tim và huyết áp động mạch
Hoạt động của hệ tuần hoàn đảm bảo cung cấp ôxi và chất dinh dưỡng
cho toàn bộ cơ thể sống, trong đó tần số tim và huyết áp động mạch là những
chỉ số cơ bản biểu hiện hoạt động của hệ tuần hoàn.
Tim có chức năng vừa hút và vừa đẩy máu, là động cơ chính của hệ
tuần hoàn. Bởi vậy tần số tim là một trong các chỉ số dùng để đánh giá hoạt
động của hệ tuần hoàn và tình trạng sức khỏe của con người.
9
Theo Tur A. P. (theo [62]), tần số tim trung bình của trẻ sơ sinh trong
những ngày đầu tiên là 120-140 nhip/phút, sau đó giảm dần theo độ tuổi và
đạt mức ổn định ở lứa tuổi trưởng thành. Nhiều công trình nghiên cứu đã cho
biết ở trẻ lứa tuổi đang bú mẹ tần số tim trung bình là 110-160 nhip/phút,
trước tuổi đến trường là 80-100 nhịp/phút và ở tuổi học đường là 72-82
nhip/phút (theo [62]). Sự giảm tần số tim trong quá trình phát triển của trẻ em
có liên quan đến sự giảm hoạt động của nút xoang và giảm ảnh hưởng của các
dây thần kinh ngoài tim [62]. Trong những năm tiếp theo, tần số tim tiếp tục
giảm đi chút ít [53], [70]. Tần số tim có thể thay đổi theo độ tuổi, theo trạng
thái cơ thể, khí hậu, bệnh lý, giới tính. Tần số tim của trẻ em cao hơn của
người lớn, càng nhỏ càng nhanh và rất dễ thay đổi khi khóc, sốt, sợ hãi, gắng
sức [72].
Huyết áp là áp lực của máu tác động lên thành mạch. Huyết áp khi tim
co gọi là huyết áp tối đa hay huyết áp tâm thu, huyết áp khi tim giãn gọi là

hơn mùa đông. Ngoài ra, tần số tim còn bị chi phối bởi các yếu tố khác như
lao động và trạng thái tâm lý.
Đoàn Yên và cs [88] nhận thấy, người Việt Nam trước 12 tuổi có tần số
tim của nam và nữ gần như nhau, sau 12 tuổi tần số tim có sự khác biệt theo
giới tính, từ đó đến già tần số tim của nữ cao hơn của nam. Tần số tim của
người Việt Nam biến đổi có tính chu kỳ. Tần số tim giảm dần cho đến 25 tuổi
đạt trung bình 72 nhịp/phút sau đó ổn định đến 69 tuổi.
Theo Tạ Thuý Lan và Trần Thị Loan [53], [54] cho thấy, tần số tim của
người lớn trong điều kiện nghỉ ngơi là 68-70 nhịp/phút còn ở trẻ em tần số tim
cao hơn nhiều so với người lớn và phụ thuộc vào lứa tuổi. Cụ thể, trẻ em lúc 6
11
tháng tuổi là 120-140 nhịp/phút, trên 6 tháng tuổi là 100-130 nhịp/phút, 2 tuổi
là 90-120 nhịp/phút, 5-6 tuổi là 80-110 nhịp/phút.
Trần Thị loan [62] nhận thấy, tần số tim của học sinh giảm dần theo
tuổi. Từ 6-17 tuổi tần số tim của học sinh nam giảm 18,90 nhịp/phút, mỗi năm
giảm trung bình 1,72 nhịp/phút và của nữ giảm 14,00 nhịp/phút, mỗi năm
giảm trung bình 1,27 nhịp/phút.
Đỗ Hồng Cường [12], nghiên cứu trên học sinh trung học cơ sở các dân
tộc tỉnh Hòa Bình đã cho thấy, từ 11-15 tuổi tần số tim của học sinh nam và
của học sinh nữ các dân tộc giảm dần. Ở học sinh nam mỗi năm giảm khoảng
1,95-2,36 lần/phút còn ở học sinh nữ giảm khoảng 1,75-2,02 lần/phút. Tần số
tim của nam nữ học sinh giữa các dân tộc không có sự khác biệt và ở các lứa
tuổi khác nhau tần số tim của nữ đều cao hơn của nam.
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy, tần số tim có thể
biến đổi theo tuổi, tùy thuộc vào trạng thái tâm sinh lý, khí hậu, bệnh lý, giới
tính.
1.2.2.2. Huyết áp động mạch
Trong cuốn “HSSH” [85], huyết áp động mạch của trẻ em tăng dần từ
13-15 tuổi. Huyết áp của nam cao hơn của nữ. Ở nhóm trẻ từ 10-14 tuổi huyết
áp tâm thu là 104,6 mmHg và huyết áp tâm trương là 62,0 mmHg. Các tác giả

theo tuổi, giới tính, hoạt động sinh lý, theo các vùng miền và các nước khác
nhau.
1.3. CÁC CHỈ SỐ TRÍ TUỆ CỦA TRẺ EM
1.3.1. Trí tuệ
Trí tuệ là khả năng xử lý thông tin để giải quyết vấn đề nhanh chóng
thích nghi với tình huống mới. Trí tuệ là khả năng rất quan trọng trong hoạt
13
động của con người, có liên quan đến cả thể chất và tinh thần. Hoạt động trí
tuệ biểu hiện ra nhiều mặt, có liên quan đến nhiều hiện tượng tâm sinh lý và
nhiều bộ môn khoa học khác nhau như triết học, sinh học, y học, xã hội học,
giáo dục học Bởi vậy việc nghiên cứu trí tuệ được coi là một lĩnh vực liên
ngành [9], [10], [11], [31], [37], [73].
Cho đến nay, vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về trí tuệ và có thể
phân chia thành ba khuynh hướng chính. Khuynh hướng thứ nhất coi trí tuệ là
năng lực nhận thức, năng lực học tập của cá nhân. Theo Huarte J. (theo [79]),
trí tuệ là tập hợp các khả năng lĩnh hội tri thức, phán xét, đánh giá và sáng tạo.
Khuynh hướng thứ hai coi trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng. Theo
Rubinstein. S. L (theo [62]), hạt nhân của trí tuệ là các thao tác tư duy (phân
tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa). Khuynh hướng thứ ba
coi trí tuệ là năng lực thích nghi của con người đối với thế giới xung quanh.
Đại diện cho khuynh hướng này là Stern (theo [79]). Theo Wechsler D. (theo
[93]), trí tuệ là năng lực chung của nhân cách, được thể hiện trong hoạt động
có mục đích, trong sự phán đoán, thông hiểu và làm cho môi trường thích
nghi với những khả năng của mình. Piaget J. [73], (theo [90]) lại coi trí tuệ là
hình thái nhất định của sự cân bằng, hình thành trên nghiên cứu cơ sở tri giác,
kỹ xảo. Bản chất của trí tuệ bộc lộ trong mối quan hệ giữa cơ thể với môi
trường (theo [37]). Ngoài ra, năng lực trí tuệ còn được hiểu ở các phẩm chất
khác như óc tò mò, lòng say mê, sự hứng thú, sự kiên trì và miệt mài. Năng
lực trí tuệ còn thể hiện ra hành động như nhanh trí, tháo vát, linh hoạt sáng
tạo hay thể hiện ở khả năng tưởng tượng (óc tưởng tưởng tượng phong phú,

“khuôn hình tiếp diễn” của J.Raven (test Raven) là trắc nghiệm được sử dụng
15
phổ biến và rộng rãi nhất. Test Raven được xây dựng trên thuyết tri giác hình
thể của tâm lý học Gestal và thuyết tân phát sinh của Spearman. Test Raven
được công bố lần đầu tiên năm 1936. Sau hai lần chuẩn hóa vào năm 1945 và
1956, đã được UNESCO công nhận và chính thức đưa vào sử dụng để chẩn
đoán trí tuệ của con người từ năm 1960 [1], [80].
Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của các công trình [1], [2], [31],
[38] cho thấy, có thể sử dụng test trí tuệ để đánh giá khả năng hoạt động trí
tuệ của trẻ em Việt Nam. Đơn vị được sử dụng để đánh giá năng lực trí tuệ
của con người là chỉ số thông minh (IQ).
Từ cuối những năm 80 trở lại đây đã có một số công trình nghiên cứu
trí tuệ của học sinh Việt Nam. Một số tác giả [3], [36], [80] quan tâm đến bản
chất và cấu trúc của trí tuệ. Kết quả nghiên cứu của các công trình [1], [2],
[34], [35], [78], [79]…cho thấy, có thể sử dụng các trắc nghiệm trí tuệ để
chẩn đoán khả năng hoạt động trí tuệ của trẻ em.
Người đầu tiên nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh Việt Nam
là Trần Trọng Thủy [78], tác giả đã nghiên cứu sự phát triển trí tuệ bằng test
Raven và đã xác định được chiều hướng, cường độ, trình độ và chất lượng
phát triển trí tuệ ở học sinh, đồng thời còn đề cập đến mối liên quan giữa trí
tuệ và thể lực của học sinh. Ông nhận thấy, sự phân phối điểm IQ của học
sinh Việt Nam gần với phân phối chuẩn, năng lực trí tuệ của học sinh nông
thôn và thành thị, với trình độ học lực và thành phần gia đình có sự khác biệt.
Ngô Công Hoàn [34], khi nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh
thành phố Huế và Hà Nội đã cho thấy, có sự chênh lệch về mức độ phát triển
trí tuệ giữa học sinh bình thường với học sinh chuyên toán.
Trịnh Văn Bảo và cộng sự [4], [5], đã nghiên cứu mối quan hệ giữa yếu
tố di truyền và sự phát triển trí tuệ của học sinh. Tác giả nhận thấy, yếu tố di
truyền là tiền đề cho sự phát triển trí tuệ của học sinh.
16

sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan tác động vào cơ thể con người thì
chúng gây ra các cảm giác đơn lẻ. Sau đó bộ não phân tích tổng hợp để cho tri
giác trọn vẹn các sự vật, hiện tượng và để lại dấu vết của chúng trên vỏ não
[16], [50]. Trí nhớ của cá thể rất khác nhau, nhưng tất cả các cách nhớ đều có
thể xếp vào hai nhóm chính là trí nhớ dài hạn (lưu giữ hình thông tin trong
một khoảng thời gian dài, nó liên quan đến sự thay đổi bền vững về mặt vi
thể, hình thành các protein hoạt hóa) và trí nhớ ngắn hạn hay sự lưu thông
hưng phấn trong các vòng neuron [45], [46], [63].
Về cơ chế nhớ, một số tác giả đã cho rằng, việc hình thành phản xạ có
điều kiện đã tạo nên các “vết hằn” của trí nhớ. Như vậy phản xạ có điều kiện
là cơ sở sinh lý của trí nhớ. Theo Hyden (theo [63]) thì cơ sở của trí nhớ là sự
thay đổi trong cấu trúc phân tử axit ribonucleic (ARN). Theo Conell M. C và
Jacobson (theo [63]), trí nhớ có liên quan đến lượng axit dezoxyribonucleic
(ADN) trong các nơron. Penphil W.(theo [63]) lại cho rằng trong não có
những trung khu nhớ và mọi kích thích tác động lên cơ thể đều được giữ lại
dưới dạng lưu trữ.
Ở Việt Nam cũng có một số tác giả nghiên cứu về trí nhớ [5], [62], [77]

Nghiêm Xuân Thăng [77], nghiên cứu khả năng ghi nhớ của học sinh
và sinh viên Nghệ Tĩnh từ 10-20 tuổi trong các điều kiện khí hậu khác nhau.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, khả năng ghi nhớ của học sinh biến đổi theo sự
biến động của nhiệt độ, độ ẩm, cường độ bức xạ và đối lưu không khí.
Trịnh Văn Bảo và cs [5], nghiên cứu trí nhớ của học sinh lớp 6 trường
Marie-Curie và trường Trung học cơ sở Tô Hoàng Hà Nội có nhận xét, trí nhớ
của nhóm học sinh năng khiếu tốt hơn của nhóm học sinh bình thường.
18
Trần Thị Loan [62], nghiên cứu trí nhớ của học sinh từ 6-17 tuổi tại
quận Cầu Giấy, Hà Nội. Tác giả cho thấy, trí nhớ của học sinh tăng dần theo
tuổi và không có sự khác biệt giữa nam và nữ.
1.4. CHỈ SỐ VƯỢT KHÓ (AQ) CỦA TRẺ EM

giúp đỡ trong các tình huồng.
- Chỉ số R - Khả năng chịu đựng. Chỉ số R xác định mức độ, phạm vi
tiếp cận sự kiện, sức chịu đựng các cấp độ căng thẳng. Người có chỉ số R cao
chấp nhận thất bại và thách thức trong mọi thời điểm và không để nó ảnh
hưởng đến công việc và cuộc sống, trái ngược với những người có chỉ số R
thấp.
- Chỉ số E - Khả năng nhẫn nại, lạc quan. Chỉ số E xác định thời gian
chịu đựng các sự kiện xấu và thước đo sự lạc quan hy vọng. Người có chỉ số
E cao luôn đối diện khó khăn với thái độ lạc quan và hy vọng. Ngược lại,
người có chỉ số E thấp xem trở ngại như khó khăn không giải quyết nổi.
Chỉ số AQ mới được đưa ra cách đây khoảng hơn 10 năm nên ở Việt
Nam, chỉ số AQ còn ít được nghiên cứu.
20
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là học sinh tiểu học và trung học cơ sở ở xã
Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Tất cả có 9 nhóm với 9 độ tuổi
khác nhau từ 7-15 tuổi. Các đối tượng nghiên cứu đều có sức khỏe và trạng
thái tâm sinh lý bình thường. Tuổi của các đối tượng được tính theo quy ước
chung của Tổ chức y tế thế giới.
2.1.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu
Tổng số đối tượng nghiên cứu là 897 học sinh, trong đó có 460 học
sinh nam và 437 học sinh nữ. Phân bố các đối tượng nghiên cứu theo tuổi và
theo giới tính thể hiện trong bảng 2.1.
Bảng 2.1. Phân bố đối tượng theo tuổi và theo giới tính
TT Tuổi
Đối tượng nghiên cứu
Nam Nữ Chung

phải đứng yên (không cử động) ở giữa bàn cân. Lấy trị số cân nặng chính xác
đến 0,1 kg.
- Vòng ngực trung bình được xác định bằng số trung bình cộng của số
đo vòng ngực lúc hít vào tận lực và lúc thở ra gắng sức. Vòng ngực được đo ở
tư thế thẳng đứng, đo bằng thước dây quấn quanh ngực qua mũi ức, dưới núm
vú sao cho mặt phẳng của thước dây tạo ra song song với mặt đất. Thước đo
bằng vải có độ chính xác đến 0,1 cm do Trung tâm thiết bị trường học - Bộ
Giáo dục và Đào tạo sản xuất. Trước khi đo hướng dẫn học sinh cách hít vào
22
tận lực và thở ra gắng sức. Khi đo, học sinh chỉ mặc áo mỏng. Lấy trị số vòng
ngực chính xác đến 0,1 cm.
- Chỉ số pignet được tính theo công thức sau:
Pignet = Chiều cao (cm) - [Cân nặng (kg) + Vòng ngực trung bình (cm)]
Chỉ số Pignet được đánh giá dựa theo thang phân loại của Nguyễn
Quang Quyền và Đỗ Như Cương (theo [20]).
Bảng 2.2. Phân loại thể lực theo chỉ số pignet
Số TT Chỉ số pignet Loại
1 < 23,0 Cực khỏe
2 23,0 - 28,9 Rất khỏe
3 29,0 - 34,9 Khỏe
4 35,0 - 41,0 Trung bình
5 41,1 - 47,0 Yếu
6 47,1 - 53,0 Rất yếu
7 > 53,0 Cực yếu
- Chỉ số BMI gọi là chỉ số khối cơ thể tính theo công thức:
- BMI được tính theo công thức sau:
BMI =
Chỉ số BMI được đánh giá theo CDC [96] (hình 2.1 và 2.2).
Biểu đồ BMI đã chia ra làm 4 cấp độ
BMI < bách phân vị thứ 5: suy dinh dưỡng

“Khuôn hình tiếp diễn” của Raven loại A, B, C, D và E (dùng cho người từ 6
tuổi trở lên).
Toàn bộ bài trắc nghiệm test Raven gồm 5 bộ, mỗi bộ gồm 12 bài tập.
Mức độ phức tạp tăng dần từ bộ A đến bộ E, và trong mỗi bộ độ phức tạp
cũng tăng dần (dễ nhất là bài tập 1của bộ A và khó nhất là bài tập 12 của bộ
E) [91]. Tuy nhiên, mỗi bộ được xây dựng theo nguyên tắc khác nhau.
25

Trích đoạn Các chỉ số thành phần AQ của học sinh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status