ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm lợi là một trong những bệnh răng miệng có tính chất xã hội và phổ
biến. Bệnh mắc sớm, tỷ lệ cao và chi phí chữa trị khá lớn. Theo báo cáo của
tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) năm 2007, bệnh răng miệng chiếm vị trí thứ
tư trong số các bệnh có chi phí chữa trị lớn nhất trên thế giới [2],[16],[18].
Cũng theo nguồn tư liệu trên, trong hầu hết các nước có thu nhập thấp và
trung bình, đầu tư trong việc chăm sóc sức khỏe răng miệng là thấp và các
nguồn lực chủ yếu được phân bố cho răng miệng ở trẻ em có yếu tố nguy cơ
thông thường liên quan đến môi trường không lành mạnh và thái độ, hành
vi,nhiều người cho rằng người trẻ tuổi ngày nay ít bị viêm lợi hơn thế hệ
trước cũng như tỉ lệ và mức độ trầm trọng của bệnh viêm lợi giảm trên toàn
thế giới. Tuy nhiên các nhà dịch tễ học có lẽ phải tìm thêm dữ kiện để có tầm
nhìn chung về bệnh viêm lợi. Y văn cũng cho thấy ở thanh thiếu niên và
người trưởng thành tình trạng bệnh viêm lợi cũng được cải tiến ở một số nước
phát triển,nhất là ở các nước Bắc và Tây Châu Âu.
Ở nước ta, năm 1999-2001, Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội phối hợp với
trường đại học Nha khoa Adelaide (Australia) tổ chức điều tra sức khỏe răng
miệng trên toàn quốc và kết quả là [42]:
- Trẻ 6-8 tuổi: 25,5% có cao răng; 42,7% có chảy máu lợi;
- Trẻ 12-14 tuổi; 78,4% có cao răng: 71,4% có chảy máu lợi.
Năm 2004, điều tra Nguyễn Đăng Nhỡn về thực trạng bệnh viêm lợi của
học sinh 6 và 12 tuổi ở xã Phú Lâm, Yên Sơn, Tuyên Quang cho thấy [2]:
- Trẻ 6 tuổi: 11,72% có cao răng: 20,31% có chảy máu lợi:
- Trẻ 12 tuổi: 62,50% có cao răng: 31,25% có chảy máu lợi:
Chính vì những yếu tố trên mà việc điều trị và dự phòng bệnh răng
miệng, đặc biệt ở trẻ em ngày càng trở thành vấn đề thời sự cấp thiết.
1
TCYTTG cũng đã đưa vào định hướng và chiến lược về sức khỏe răng miệng
toàn cầu nhấn mạnh đến việc cần nghiên cứu về bệnh viêm lợi đặc biệt ở lứa
tuổi học đường.Từ đó đưa ra những chiến lược dự phòng bệnh viêm lợi trong
tương lai.
3
Nhú lợi
Đường ranh giới giữa
lợi và niêm mạc
miệng
Lợi được phân chia thành: lợi tự do và lợi dính.
a. Lợi tự do: là phần lợi không dính xương, ôm sát cổ răng và kẽ giữa
các răng. Lợi tự do cùng với cổ răng tạo nên túi lợi. Bình thường túi lợi sinh
lý sâu 0,5-1mm, khi răng mới mọc, khe lợi có thể sâu 0,8 - 2mm. Đáy khe lợi
ở ngang với cổ răng. Lợi có màu hồng nhạt, săn. Màu và độ trương lực của lợi
thay đổi trong quá trình sinh lý và bệnh lý. Lợi tự do gồm hai thành phần khác
nhau về mặt bệnh lý: nhú lợi và đường viền lợi.
Nhú lợi là phần lợi ở kẽ răng, kẽ răng được che kín bởi hai nhú lợi; một
phía trong và một ở phía ngoài. Giữa hai nhú lợi là một vùng lõm.
Đường viền lợi không dính vào răng mà ôm sát vào cổ răng, chiều cao
khoảng 0,5mm. Mặt trong của đường viền lợi là thành ngoài của rãnh lợi.
Hình thể của nhú lợi và đường viền phụ thuộc vào hình thể của răng, chân
răng và xương ổ răng. Đồng thời nó còn phụ thuộc vào vị trí của răng trên
xương hàm.
Lợi tự do tiếp với vùng lợi dính và có một cái rãnh (gọi là rãnh dưới lợi
tự do) là ranh giới giữa lợi tự do và lợi dính.
b. Lợi dính: là vùng lợi bám dính vào chân răng ở ngang cổ răng và mặt
ngoài xương ổ răng ở dưới. Mặt ngoài vùng lợi dính cũng như mặt ngoài của lợi
tự do đều được phủ bởi lớp biểu mô sừng hóa. Mặt trong lợi dính có hai phần:
phần bám vào chân răng khoảng 1,5 mm gọi là vùng bám dính, và phần bám vào
mặt ngoài xương ổ răng.
Chiều cao của vùng lợi dính thay đổi tùy theo người. Chiều cao trung
bình của lợi dính (từ 4-6 mm) có thể đo được ở mặt ngoài các răng cửa hàm
trên là 4 mm và ở mặt trong các răng hàm hàm dưới là 6mm. Bề dày lợi
thay đổi từ 0,5mm đến 2,5mm ở mặt ngoài và tỷ lệ nghịch với chiều cao
cầu nối giữa các tế bào đa diện của lớp tế bào gai là những desmosom. Người
ta còn thấy những sợi trương lực (tonofibrille) của tế bào đến bám vào những
desmosom và bán desmosom nói trên. Và càng gần đến lớp tế bào sừng hóa
thì các sợi trương lực trong tế bào càng nhiều hơn. Ở lớp tế bào hạt nó thường
kết hợp với những hạt keratohyalin. Hạt này biến mất ở lớp tế bào sừng hóa
và trong tế bào của lớp này thường có những sợi dầy đặc hình thành do sự
phát triển của những tơ trương lực. Ngoài ra ở lớp biểu mô lợi còn có những
hạt sắc tố melanin. Những hạt này được tạo ra bởi những hắc tố bào
(melanocyte) nằm trong lớp tế bào đáy.
- Biểu bì phủ bề mặt trong đường viền lợi (hay biểu bì phủ rãnh lợi) là
biểu mô không sừng hóa. Nó liên tiếp với phía trên bởi biểu mô sừng hóa của
bờ lợi tự do và ở dưới với biểu mô bám dính.
- Biểu mô bám dính: là biểu mô ở đáy rãnh lợi bám dính vào răng. Lớp
biểu mô này về mặt hình thái khác với biểu mô ở nơi khác của lợi và theo
nhiều tác giả, biểu mô này có nguồn gốc liên bào cơ quan tạo men. Ở chỗ biểu
mô bám dính và men liên bào có hình thái của tế bào tạo men thoái triển trái
lại ở chỗ biểu mô bám dính vào xương răng liên bào có hình thái của sợi tế
bào trung gian của cơ quan tạo men.
6
Lớp tế bào hạt và tế bào
sừng hóa
Lớp tế bào gai
Lớp tế bào đáy
Biểu mô lợp rãnh lợi cũng như biểu mô bám dính không bao giờ sừng
hóa và không có những lồi ăn sâu vào tổ chức đệm ở dưới.
Dưới kính hiển vi điện tử, một số tác giả thấy lớp biểu mô này bám dính
vào răng (men răng và xương răng) bởi những bán desmosom.
b. Tổ chức đệm của lợi: là một tổ chức liên kết có nhiều sợi keo và rất ít
sợi chun. Những sợi keo sắp xếp thành những bó sợi lớn hình thành một hệ
thống sợi của lợi trong đó những bó sợi chính sau đây giữ vai trò chức phận
được phân bố do dây thần kinh khẩu cái lớn ngoại trừ vùng sau răng cửa là do
dây thần kinh mũi khẩu cái. Lợi mặt lưỡi hàm dưới được phân bố do dây thần
kinh dưới lưỡi là nhánh tận của thần kinh lưỡi. Lợi mặt ngoài các vùng răng
cửa, răng nanh, răng cối nhỏ hàm dưới do dây thần kinh cằm phân bố. Lợi
mặt ngoài của các răng hàm lớn hàm dưới do thần kinh miệng chi phối.
1.3. Nguyên nhân gây bệnh viêm lợi
Bệnh viêm lợi được chia thành nhiều nhóm bệnh. Viêm lợi cấp thường
gặp nhất là do tác nhân vi khuẩn (viêm lợi và viêm miệng herpes, viêm lợi,
viêm lợi loét, viêm thanh dịch cấp). Viêm lợi mãn thường do tác nhân tại chỗ
(mảng bám răng, vệ sinh răng miệng kém, cao răng và răng mọc lệch lạc).
Mặt khác viêm lợi có thể là khởi đầu của một bệnh toàn thân như giang mai,
lao, Viêm lợi cũng có thể là một dấu hiệu của một bệnh toàn thân như phản
ứng thuốc, do nấm khi điều trị kháng sinh lâu ngày, thiếu yếu tố C trầm trọng
hoặc là dấu hiệu của bệnh ở máu như bệnh bạch cầu. Đặc biệt viêm lợi cũng
có thể do rối loạn nội tiết tố (dậy thì, thai nghén, ) [33].
8
1.4. Phân loại bệnh viêm lợi
Kiến thức về bệnh căn học và bệnh học của các loại bệnh trong miệng
thay đổi liên tục theo sự phát triển của khoa học.
Phân loại trình bày dưới đây là phân loại mới nhất, được thảo luận và
công nhận trong hội thảo quốc tế về phân loại bệnh nha chu do Hiệp hội nha
chu Mỹ (AAP) tổ chức năm 1999 .
a. Bệnh lợi do mảng bám răng:
Bệnh viêm lợi có thể xảy ra trên răng không mất bám dính hay trên răng
mất bám dính nhưng đã ổn định và không tiến triển.
- Do mảng bám đơn thuần:
o Không có yếu tố tại chỗ tham gia
o Có yếu tố tại chỗ tham gia
- Do yếu tố toàn thân:
o Do nội tiết:
- Do di truyền:
o Xơ hóa lợi do di truyền
o Loại khác
- Do bệnh toàn thân:
o Bệnh lý da, niêm mạc:
Lichen phẳng
Pemphigus
Lupus ban đỏ
Do dùng thuốc
Loại khác
10
- Do dị ứng:
Với vật liệu tái tạo như thủy ngân, Niken, Acrylic,
Với chất khác như kem chải răng, nước xúc miệng, kẹo cao su, thực phẩm
Loại khác
- Do chấn thương:
o Hóa chất
o Vật lý
o Nhiệt
- Phản ứng do tác nhân bên ngoài
- Nguyên nhân không đặc hiệu
1.5. Biểu hiện lâm sàng của bệnh viêm lợi
a. Đặc điểm của bệnh viêm lợi:
- Thay đổi màu sắc, hình dạng, vị trí
- Thay đổi cấu trúc bề mặt
- Chảy máu, phù nề
- Đau hoặc không đau
- Thay đổi mô học ở lợi do viêm
- Không có hiện tượng mất bám dính
b. Các giai đoạn của bệnh viêm lợi
ngoài và trong, có thể có túi
lợi giả
3 Hình dạng
Hình vỏ sò, có rãnh lõm ở
giữa mặt ngoài nhú lợi
Phù nề bờ lợi và nhú lợi, bờ
lợi nề trông như rìa lưỡi dao
cùn, không khum hình vỏ sò
4
Mức độ
săn chắc
Chắc
Không săn chắc, khi dùng
cây probe ấn vào lợi có điểm
lõm
5 Chảy máu Không chảy máu
Chảy máu khi thăm cây
probe vào rãnh lợi
1.6. Tình hình bệnh viêm lợi qua các nghiên cứu
Ở các nước tiên tiến trên thế giới tỷ lệ mắc bệnh VL của trẻ em rất cao.
Ở Phần Lan VL ở trẻ em các độ tuổi là:
o Trẻ 7 tuổi: 95%
o Trẻ 12 tuổi: 97%
Năm 1990 trẻ em bị VL ở
12
o n l 90%
o Nigeria 99%
o M 99%
o Phn Lan 72%
o Thy S 98%
Theo điều tra năm 1990: trẻ em 12 tuổi ở miền Nam có 6,36% chảy máu
lợi, 91,5% có cao răng . 98,33% trẻ em 12 tuổi toàn quốc bị viêm lợi.
Từ năm 1991 - 1998 có nhiều tác giả thông báo tình hình bệnh quanh
răng ở lứa tuổi học sinh ở một số tỉnh như Yên Bái, Hải dương Hưng Yên, Hà
Nội, Nam Định, Đà Nẵng, Thái Bình trong đó CPITN1 giao động từ 4,78%
đến 40,40%; CPITN2 từ 10,52% đến 89,22% [4].
Theo Trần Văn Trường, năm 2001 Viện Răng - Hàm – Mặt phối hợp
với trường đại học Nha khoa Adelaide (Australia) tổ chức điều tra sức khoẻ
răng miệng qui mô toàn quốc và cho kết quả sau [42]:
Bảng 1.1: Tình hình bệnh viêm lợi ở trẻ em qua điều tra toàn quốc lần 2
(1999- 2001)
Nhóm tuổi Tỷ lệ % có bệnh VIấM LỢI
6- 8
9 - 11
12 -14
15 – 17
50,52
81 ,7 1
90 ,70
93 ,53
Bảng 1.2 :Tình trạng chảy máu lợi và cao răng ở trẻ em toàn quốc
14
(1999- 2001)
Tuổi n % chảy máu lợi % cao răng
6-8 706 42,7 25,5
9- 11 691 69,2 56,8
12- 14 695 71,4 78,4
15- 17 670 66,9 83,4
Bảng 1.3: Tình trạng chảy máu lợi và cao răng ở trẻ em vùng núi phía Bắc
(1999- 2001)
c. Chỉ số lợi GI:
Được Loe và Silness đưa ra năm 1963.
GI rất hữu hiệu trong nghiên cứu bởi vì nó khá nhạy dù có thay đổi nhỏ,
dễ đánh giá và cho phép tách biệt từng điểm số khi khám nên giảm tối đa lỗi.
Mục đích: đánh giá mức độ nặng của lợi dựa trên cơ sở màu sắc, trương
lực và chảy máu khi thăm khám.
Thang điểm đánh giá từ 0 đến 3.
d . Chỉ số CPITN:
Được Ainamo đưa ra năm 1982.
Mục đích: Khám phát hiện và hướng dẫn cá thể hoặc nhóm nhu cầu điều trị
quanh răng.
Thang điểm đánh giá từ 0 đến 5.
1.8. Các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm lợi
Một số tác giả nước ngoài và trong nước đã nghiên cứu về các yếu tố
chăm sóc răng miệng như hiểu biết về chăm sóc răng, khám định kỳ răng, thói
quen chải răng, tuổi sử dụng bàn chải, thuốc, vật liệu chải răng:
16
- Rao và CS cho biết tại Ấn Độ có đến 59,2-62% học sinh có chải răng ít
nhất 1 lần/ngày nhưng chỉ có 5,7-13,6% sử dụng thuốc đánh răng; 3,1% dùng
tay làm sạch răng và 21,1% dùng tro và than để đánh răng hàng ngày [54].
- Okeigbemen và CS thông báo 81,4% học sinh chưa bao giờ được khám
răng tại các cơ sở y tế, 95,8% có sử dụng bàn chải răng [52].
- Petersen và CS cũng thông báo tỷ lệ học sinh chải răng 1 lần/ngày là
88% [53].
- David và CS cho rằng trẻ không sử dụng bàn chải răng thì có nguy cơ
sâu răng cao gấp 1,9 lần những trẻ khác [50].
Mọi người đều có thể bị viêm lợi, và yếu tố góp phần phổ biến nhất là
thiếu chú ý đến vệ sinh răng miệng đúng cách. Nhưng các yếu tố khác cũng
có thể làm tăng nguy cơ. Nguyên nhân chủ yếu gây nên viêm lợi trên chính là
các mảng bám trên răng.
Vệ sinh răng miệng kém dẫn đến tình trạng tích tụ chất bẩn và vi khuẩn
quanh răng nhất là ở khe lợi gây viêm lợi. Trẻ đang giai đoạn mọc răng, lợi
răng trở nên dễ bị tổn thương và nhạy cảm hơn bình thường nên cũng dễ bị
viêm lợi hơn. Ngoài ra còn có những nguyên nhân khác như tình trạng dinh
dưỡng kém, trẻ đang sốt vì mắc các bệnh lý toàn thân, đang dùng thuốc chống
động kinh (Bác sĩ Nguyễn Văn Đẫu, Trưởng khoa răng hàm mặt bệnh viện
Nhi Đồng 1).
Ngoài ra, trẻ nhỏ dễ bị viêm lợi là vì hệ miễn dịch chưa hoàn thiện,
răng sữa yếu là yếu tố thuận lợi cho vi khuẩn gây viêm lợi tấn công trẻ. Nếu
không điều trị sớm, răng của bé có thể lung lay, rụng và gây ra những bệnh
răng miệng nghiêm trọng như viêm răng, viêm lợi.
18
Tóm lại, nguyên nhân gây viêm lợi chính là các mảng bám hình thành
trên răng. Do thấy trẻ còn nhỏ, nhiều gia đình cho rằng bé chưa nhất thiết
phải vệ sinh răng miệng hàng ngày như người lớn hoặc không được vệ sinh
răng miệng đúng cách, khiến vi khuẩn khu trú trên răng lâu ngày sẽ gây tổn
hại lợi răng. Vi khuẩn tấn công làm các mô răng bị tổn thương, đóng mủ gây
viêm lợi.
1.9. Dự phòng bệnh viêm lợi
a. Tại chỗ:
- Loại trừ các kích thích tại chỗ và hướng dẫn CSRM:
o Lấy sạch cao răng và làm nhẵn mặt chân răng.
o Hướng dẫn VSRM, đặc biệt là chải răng đúng kỹ thuật, dùng bàn
chải răng và chải răng đúng cách.
Chải răng nhằm mục đích chính là làm giảm số lượng vi khuẩn
Streptococcus Mutans trong mảng bám bằng cách loại trừ cơ học mảng bám
trên lợi, giảm đường sucrose và duy trì tính ổn định của cộng đồng vi khuẩn,
chủ yếu là nhóm Gr(+).
Số lần và thời gian chải răng: tốt nhất là nên chải răng ngay sau khi
ăn. Nếu không có điều kiện chải răng sau mỗi bữa ăn thì 1 ngày nên chải 2 lần
• Kiếu chải tròn của Fones: áp bàn chải vào răng và lợi, chải theo
vòng tròn dần dần từ trong ra ngoài. Kiểu này cũng dễ làm sang chấn lợi như
kiểu chải ngang.
• Kiểu Ottolengui: bàn chải để ở lợi và chải xuống phía mặt nhai.
• Kiểu Stilman: đặt bàn chải ở lợi, di di trong lúc lông bàn chải ở
nguyên chỗ, nhấc bàn chải ra, rồi làm lại, như vậy lợi được xoa nắn.
• Phương pháp Bass: đặt lông bàn chải nghiêng một góc 45° so với
trục răng sao cho lông bàn chải len vào rãnh lợi. Động tác rung nhẹ theo chiều
ngang tại chỗ, làm nhiều lần ở mặt trong cũng như mặt ngoài.
• Phương pháp Charters: động tác chải giống như Bass nhưng theo
20
hướng lông bàn chải ngược lại. Lông bàn chải nghiêng về phía mặt nhai của
răng để làm sạch khoảng tiếp cận và dùng trong trường hợp tụt lợi.
• Ngày nay còn có bản chải tự quay tròn chạy bằng điện.
o Kiếm soát mảng bám răng: dùng nước xúc miệng, nước ngậm chứa
Chlohexidin 0,2% có tác dụng diệt khuẩn tốt; làm sạch kẽ răng bằng dụng cụ
như bàn chải kẽ răng, chỉ tơ nha khoa, tăm hình tam giác, phun nước.
o Loại trừ các kích thích tại chỗ khác như hàn lại các răng sâu, sửa lại
các răng có hình thể dễ gây sang chấn khi ăn nhai; sửa lại các răng hàn sai,
các cầu chụp, hàm giả sai quy cách; nhổ các răng lung lay quá mức và các
tăng có biểu hiện nhiễm trùng mà không chữa được; nắn chỉnh các răng lệch
lạc, liên kết các răng lung lay, cắt phanh môi, phanh má bất thường.
- Kích thích hoạt hóa hệ thống tuần hoàn tổ chức quanh răng:
o Xoa nắn lợi: xoa nắn bằng tay hoặc bằng bàn chải có cao su, góp
phần cải thiện tuần hoàn máu, tăng cường sức đề kháng, làm dày
lóp biểu mô, tăng sừng hóa.
o Phun nước dưới áp lực.
o Lý liệu pháp tại chỗ.
- Lấy cao răng và làm sạch mảng bám:
o Lấy cao răng và làm sạch mảng bám răng là một thủ thuật với mục
22
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng
2.1.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Học sinh đang học tại trường tiểu học Xuân La – Quận Tây Hồ - Hà Nội.
- Học sinh trong độ tuổi từ 6 -10 tuổi.
- Tự nguyện tham gia nghiên cứu.
- Được sự đồng ý của bố mẹ hoặc người giám hộ.
2.1.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
Loại trừ những học sinh:
- Học sinh không có thái độ hợp tác trong nghiên cứu.
- Học sinh bị các bệnh bẩm sinh hoặc di truyền khác mà có thể trực
tiếp hoặc gián tiếp làm ảnh hướng tới kết quả nghiên cứu.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
- Trường tiểu học Xuân La – Quận Tây Hồ - Hà Nội .
- Viện Đào Tạo Răng Hàm Mặt (ĐHY Hà Nội).
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
- Từ tháng 01/2014 đến tháng 06/2014.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: là mô tả cắt ngang nhằm mô tả thực
trạng bệnh viêm lợi và phân tích một số yếu tố ảnh
hưởng.
23
2.2.2. Kế hoạch nghiên cứu
2.2.2.1. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu:
Áp dụng công thức:
Trong đó:
- n: Là cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu
- Tiến hành khám tập trung lần 1 tại trường .
24
- Tuyên truyền, hướng dẫn chải răng và VSRM.
2.3. Kỹ thuật, phương pháp, phương tiện thu thập thông tin
+ phỏng vấn đối tượng nghiên cứu bằng các câu hỏi in trong phiếu điều
tra đã chuẩn bị sẵn , phát cho cộng tác viên tham gia phỏng vấn và ghi kết
quả. Nhằm thu thập các thông tin về đặc trưng cá nhân và các yếu tố ảnh
hưởng.
+ Quan sát : Nhằm thu thập các số liệu về hành vi thực tế của đối
tượng nghiên cứu ,việc làm vệ sinh răng miệng và khi họ mắc bệnh răng
miệng.
+ Thăm khám lâm sàng: Nhằm thu thập các thông tin về viêm lợi,
viêm quanh răng ,được ghi ngay vào phiếu khám do người nghiên cứu
biên soạn dựa theo mẫu nghiên cứu của tổ chức Y tế Thế Giới.
+ Dụng cụ và phương tiện: yêu cầu gọn nhẹ ,cơ động, dễ khám xét ,dễ
khử trùng.
- Đèn pin, đèn đeo trán,ánh sáng tự nhiên.
- Ghế khám răng lưu động.
- Dụng cụ khám chuyên khoa: khay, gương nha khoa, gắp, thám trâm,
cây thám trâm nha chu.
- Găng khám, bông, gạc,cồn 70 độ, giấy lau tay, dụng cụ khử khuẩn
25