BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRẦN THỊ HẰNG
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC
VÀ THÔNG TIN THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐA
KHOA TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2011
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRẦN THỊ HẰNG
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC
VÀ THÔNG TIN THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐA
KHOA TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2011
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
Danh mục các hình vẽ, biểu đồ
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
Phần 1. TỔNG QUAN
3
1.1.TỔNG QUAN VỀ SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG 3
THUỐC TRONG BỆNH VIỆN
1.1.1. Sử dụng thuốc
3
1.1.2. Quản lý sử dụng thuốc
6
1.1.3. Thực trạng sử dụng và quản lý sử dụng thuốc tại các bệnh viện 10
Việt Nam hiện nay
1.2.TỔNG QUAN VỀ THÔNG TIN THUỐC TRONG BỆNH VIỆN
13
1.2.1.Thông tin thuốc
13
2.1.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
26
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
26
2.3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
26
2.3.1.Phương pháp mô tả hồi cứu:
26
2.3.2.Phương pháp mô tả cắt ngang
26
2.4.PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
27
2.5.CỠ MẪU VÀ PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU
27
2.6. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
3.2.2.Khảo sát nhu cầu TTT của bác sỹ, điều dưỡng trong bệnh viện, 46
năm 2012
3.2.3.Khảo sát nhu cầu TTT của bệnh nhân trong bệnh viện, năm 53
2012
Phần 4. BÀN LUẬN
58
4.1. Về hoạt động sử dụng thuốc tại BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc năm 2011
58
4.1.1.Về hoạt động chẩn đoán, theo dõi
58
4.1.2. Về hoạt động kê đơn thuốc
59
4.1.3. Về hoạt động giao phát thuốc
64
4.1.4. Về hoạt động của HĐT&ĐT và tổ dược lâm sàng
65
4.2.Về thực trạng và nhu cầu thông tin thuốc tại BVĐK tỉnh Vĩnh 66
Adverse Drug Reactions
(Tác dụng không mong muốn của thuốc)
BA
Bệnh án
BHYT
Bảo hiểm y tế
BVĐK
Bệnh viện đa khoa
DLS
Dược lâm sàng
DMT
Danh mục thuốc
DMTBV
Danh mục thuốc bệnh viện
DMTCY
Danh mục thuốc chủ yếu
Tên bảng
Nội dung
Trang
1
Bảng 1.1
Cơ cấu nhân lực của BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc
21
2
Bảng 1.2
Số lượng bệnh nhân đến khám chữa bệnh tại 22
BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc Giai đoạn 2009-2011
3
Bảng 1.3
Cơ cấu nhân lực khoa Dược BVĐK tỉnh Vĩnh 25
Phúc
4
32
7
Bảng 3.4
Tỷ lệ đơn thuốc kê kháng sinh, vitamin
32
8
Bảng 3.5
Tỷ lệ đơn thuốc có kê thuốc tiêm, dịch truyền
33
9
Bảng 3.6
Thực hiện quy chế kê đơn trong điều trị ngoại 33
trú
10
Bảng 3.7
Thực hiện quy chế chuyên môn trong chỉ định 35
Bảng 3.12 Kết quả hoạt động của đơn vị TTT năm 2011
45
16
Bảng 3.13 Kết quả điều tra về mức độ phổ biến của đơn 46
vị TTT
17
Bảng 3.14 Kết quả khảo sát về giá trị của TTT
47
18
Bảng 3.15 Kết quả khảo sát nhận thức về tầm quan trọng 47
của đơn vị TTT
19
Bảng 3.16 Kết quả khảo sát mức độ tra cứu TT qua đơn 48
vị TTT
20
Bảng 3.17 Kết quả khảo sát các nguồn cung cấp TTT
được
27
Bảng 3.24 Kết quả khảo sát mong muốn của bệnh nhân
55
28
Bảng 3.25 Mức độ đáp ứng của bệnh viện đối với nhu 55
cầu TTT của bệnh nhân
29
Bảng 3.26 Kết quả khảo sát nội dung TTT mà người 56
bệnh mong muốn nhận được
30
Bảng 3.27 Ý kiến của bệnh nhân nhằm cải thiện hoạt 57
động TTT
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
STT Tên hình
Nội dung
Trang
5
Hình 1.5
Sơ đồ tổ chức khoa Dược BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc
24
6
Hình 2.1
Tóm tắt các nội dung và chỉ tiêu nghiên cứu
29
7
Hình 3.1
Quy trình cấp phát thuốc cho bệnh nhân nội trú 36
tại BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh viện là cơ sở khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
nên trong nhiều năm qua, vấn đề cung ứng thuốc đầy đủ và sử dụng thuốc an
toàn, hợp lý, hiệu quả luôn được toàn ngành Y tế đặc biệt quan tâm, nhất là
trong hệ thống bệnh viện vì tổng giá trị tiền thuốc sử dụng tại hệ thống bệnh
thực hiện đề tài nghiên cứu: “Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc và thông
tin thuốc tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2011” với hai mục tiêu
như sau:
1. Khảo sát hoạt động sử dụng thuốc tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
thông qua một số chỉ tiêu năm 2011.
2. Mô tả thực trạng thông tin thuốc năm 2011và nhu cầu thông tin thuốc
năm 2012 trong bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc.
Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài phần nào phản ánh được
thực trạng hoạt động sử dụng thuốc cũng như hoạt động thông tin thuốc của
bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc nhằm đưa ra những đề xuất góp phần tăng
cường sử dụng thuốc hiệu qủa, an toàn, hợp lý tại bệnh viện.
2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1.TỔNG QUAN VỀ SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG THUỐC
TRONG BỆNH VIỆN
1.1.1.Sử dụng thuốc :
Sử dụng thuốc là một trong bốn nội dung chính của cung ứng thuốc
bệnh viện. Chu trình sử dụng thuốc được mô tả như sau:
Chẩn đoán,
theo dõi
Tuân thủ hướng
dẫn điều trị
SỬ DỤNG
THUỐC
- Thận trọng với các phản ứng phụ, phản ứng có hại của thuốc [12],[13].
Giao phát:
Trước khi giao phát, thuốc phải được đóng gói, dán nhãn theo quy định.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), thuốc được ghi nhãn đúng là mỗi thuốc
phải có bao gói riêng, đồ bao gói phải đảm bảo vệ sinh, có đầy đủ thông tin
thuốc (TTT): tên bệnh nhân, tên thuốc, số lượng thuốc, hàm lượng thuốc
(ngay cả khi bệnh nhân không biết đọc) và chỉ rõ liều sử dụng (cả về số lượng
và khoảng thời gian sử dụng). Nếu bệnh nhân được hướng dẫn tỉ mỉ cách sử
dụng từ bác sỹ, người cấp phát thuốc thì khả năng tuân thủ chỉ định cao.
4
Ngược lại, nếu thuốc không được đóng gói và dán nhãn đúng quy cách, thiếu
TTT thì bệnh nhân sẽ không nhớ cách dùng và thường thì họ sẽ tự dùng
thuốc, dẫn đến những sai sót trong điều trị. Vì vậy, việc đóng gói và dán nhãn
thuốc rất quan trọng trong sử dụng thuốc an toàn, hợp lý [40].
Thuốc sau khi được đóng gói và dán nhãn sẽ được cấp phát đến bệnh
nhân theo quy trình như sau:
Giao phát cho bệnh nhân ngoại trú:
Dược sỹ khoa Dược thực hiện việc giao phát cho bệnh nhân ngoại trú theo
quy trình sau:
Nhận đơn và xác
nhận đơn thuốc
Kiểm tra
đơn thuốc
Lấy thuốc theo đơn
và đóng gói, ghi nhãn
Tuân thủ hướng dẫn điều trị:
Là quá trình bệnh nhân hiểu việc điều trị là phải dùng thuốc đúng chỉ dẫn
và thực hiện đúng mệnh lệnh của thầy thuốc. Nó không chỉ bao gồm việc tuân
thủ về mặt nguyên tắc mà bệnh nhân cần phải hiểu việc điều trị là cần thiết và
tự giác thực hiện với tinh thần phấn khích [42].
1.1.2. Quản lý sử dụng thuốc:
Quản lý sử dụng thuốc bao gồm nhiều hoạt động, từ lên kế hoạch dự trù
mua thuốc phù hợp với mô hình bệnh tật (MHBT), xây dựng và giám sát sử
dụng danh mục thuốc bệnh viện (DMTBV), quản lý việc kê đơn thuốc, đóng
gói và dán nhãn thuốc, giao phát thuốc đến tay bệnh nhân và hướng dẫn, theo
dõi sử dụng thuốc, bình bệnh án để các thầy thuốc học tập và trao đổi về cách
sử dụng thuốc hợp lý, TTT và theo dõi ADR. Mục tiêu của quản lý sử dụng
thuốc là sử dụng thuốc hợp lý. Hội nghị các chuyên gia về sử dụng thuốc hợp
lý an toàn được tổ chức tại Nairobi năm 1985 đã đưa ra định nghĩa: “Sử dụng
thuốc hợp lý là yêu cầu người bệnh nhận được thuốc thích hợp với nhu cầu
lâm sàng của họ, phù hợp với yêu cầu riêng của cá nhân họ, cho một khoảng
thời gian thoả đáng và ở mức độ chi phí thấp nhất đối với họ và cộng đồng”
[42].
Một chu trình quản lý nói chung bao gồm bốn hợp phần có quan hệ tác
động qua lại lẫn nhau, đó là: Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh đạo và
6
kiểm tra, đánh giá để đưa ra điều chỉnh cần thiết [14]. Quản lý sử dụng thuốc
trong bệnh viện là việc bệnh viện tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện các
quy chế chuyên môn trong khi sử dụng thuốc, trong đó đặc biệt quan tâm đến
vai trò của bác sỹ- dược sỹ- y tá-bệnh nhân trong quá trình sử dụng thuốc.
Bác sỹ:
- Chẩn đoán, kê đơn, chỉ
nguy hiểm; những thuốc có thể thay thế thuốc gốc và thay thế điều trị;...Chức
năng quan trọng nhất chính là chức năng đánh giá và lựa chọn thuốc cho danh
mục thuốc bệnh viện. Bên cạnh đó là chức năng quản lý rủi ro và các vấn đề
liên quan đến lâm sàng [2].
Tại Việt Nam, trong Thông tư 08 có ghi rõ: Chức năng của HĐT&ĐT
bệnh viện bao gồm: Tư vấn cho Giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan
đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc
gia về thuốc trong bệnh viện. Tương ứng với những hướng dẫn của WHO,
trong Thông tư 08 quy định nhiệm vụ của HĐT&ĐT như sau:
- Xây dựng các quy định cơ bản về cung ứng, quản lý và sử dụng thuốc của
bệnh viện.
- Xây dựng danh mục thuốc dùng cho bệnh viện dựa vào phác đồ điều trị
chuẩn.
- Xây dựng quy trình cấp phát thuốc, theo dõi dùng thuốc và đồng thời kiểm
tra việc thực hiện.
- Giúp Giám đốc bệnh viện các hoạt động như: Giám sát hoạt động kê đơn,
theo dõi bệnh án, tổ chức theo dõi các ADR và các vấn đề liên quan đến
thuốc, tổ chức hoạt động TTT, tổ chức nghiên cứu khoa học và đào tạo kiến
thức về thuốc, thiết lập mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa dược sỹ, bác sỹ và
điều dưỡng [7].
8
Dược lâm sàng:
Khái niệm:
Dược lâm sàng (DLS) là hoạt động dược tập trung trên người bệnh
nhằm đảm bảo dùng thuốc an toàn - hợp lý. Muốn làm được điều này, dược
sỹ lâm sàng phải dùng các kiến thức cơ bản chung về chuyên môn dược và
nhiều chuyên khoa như dược lý, dược trị liệu, độc chất học... và các kỹ năng
Nghiên cứu tại bệnh viện phụ sản Trung ương năm 2006 cho thấy tỉ lệ đơn
không ghi rõ thời điểm dùng thuốc là 49,5%; tỉ lệ đơn không ghi rõ liều 1
ngày là 9,0%; tỉ lệ đơn không ghi rõ đường dùng là 2,3% [26]. Tại bệnh viện
Phổi Trung ương năm 2009, tỉ lệ đơn không ghi đầy đủ thông tin bệnh nhân là
72,0%; tỉ lệ thuốc kê theo tên gốc chỉ có 15,8%; tỉ lệ đơn không ghi đầy đủ
hướng dẫn sử dụng là 50,9%; 100,0% số đơn khi sửa chữa không ghi ngày
tháng và chữ ký của bác sĩ kê đơn [24]. Một nghiên cứu khác tại bệnh viện E
năm 2009 cho thấy tỉ lệ đơn ghi đầy đủ thông tin bệnh nhân chỉ đạt 11,3% và
đa số các đơn thiếu thông tin là do không ghi tuổi bệnh nhân; 100,0% đơn
thuốc không ghi địa chỉ bệnh nhân đến số nhà, đường phố mà chỉ ghi quận
huyện; tỉ lệ thuốc được kê theo tên gốc là 28,7%; 59,7% thuốc một thành
phần kê theo tên biệt dược; tỉ lệ đơn ghi đầy đủ liều dùng, cách dùng chỉ
chiếm 22,0%; 40,0% số đơn ghi thiếu thời điểm dùng thuốc; đa số các đơn
thuốc bác sĩ chỉ kí tên mà không ghi họ tên [33].
10
Giao phát thuốc
Chỉ thị 05/2004/CT – BYT ra ngày 16/4/2004 của Bộ trưởng Bộ Y tế về
việc chấn chỉnh công tác cung ứng và sử dụng thuốc trong bệnh viện nêu rõ:
bệnh viện phải tổ chức cấp phát thuốc tới tận khoa lâm sàng. Tuy nhiên chỉ thị
này gây nhiều khó khăn trong việc thực hiện do thiếu nhân lực dược, vì vậy
đến tháng 10/2008, Bộ Y tế đã không còn bắt buộc các bệnh viện phải thực
hiện quy định trên [10].
Công tác cấp phát của bệnh viện vẫn còn nhiều khó khăn do thiếu nhân
lực, trang thiết bị chưa đầy đủ, diện tích các kho chưa đạt yêu cầu. Việc cấp
phát còn chậm trễ, thủ công.Thực hành cấp phát thuốc không đúng là nguyên
nhân dẫn tới các lỗi điều trị, hạn chế nhận thức và thiếu kiến thức của người
bệnh về chế độ liều lượng và khoảng cách dùng thuốc [30].
Hoạt động Dược lâm sàng:
Nhiều cơ sở y tế hiện nay, tuỳ thuộc vào quy mô bệnh viện, nhân lực và
trình độ cán bộ dược đã phần nào triển khai hoạt động dược lâm sàng. Tuy
nhiên do chưa có quy định pháp lý nào hướng dẫn cụ thể việc triển khai dược
lâm sàng như thế nào và chưa có đội ngũ dược sỹ lâm sàng được đào tạo
chính quy nên các đơn vị triển khai chưa đồng bộ và không thống nhất. Ví dụ:
có cơ sở y tế được hỗ trợ của Hà Lan và hợp tác với trường Đại học Dược Hà
Nội (như bệnh viện Bạch Mai) thì triển khai hoạt động dược lâm sàng tương
đối mạnh. Một số bệnh viện cũng đã bước đầu triển khai dược lâm sàng tương
đối tốt như bệnh viện Hoàn Mỹ, bệnh viện Nhân dân 115, bệnh viện Nhi
Đồng I (thành phố Hồ Chí Minh), Bệnh viện đa khoa Đà Nẵng, bệnh viện 71
Thanh Hoá, bệnh viện Hữu Nghị. Còn lại đa số các bệnh viện thì hoạt động
này còn sơ khai, mờ nhạt [23].
12
BYT cũng đã thành lập Ban biên soạn Thông tư hướng dẫn thực hành
dược lâm sàng trong các cơ sở y tế ban hành kèm theo Quyết định số
3232/QĐ-BYT ngày 6/9/2010. Tiếp đó, BYT đã quy định rõ yêu cầu, chức
trách, nhiệm vụ của dược sỹ lâm sàng trong thông tư số 22/2011/TT-BYT
ngày 10 tháng 6 năm 2011. Điều này cho thấy công tác dược lâm sàng đã bắt
đầu được quan tâm và từng bước được cụ thể hóa trong hoạt động hàng ngày
ở bệnh viện.
Việc sử dụng thuốc không hợp lý đã và đang là vấn đề được quan tâm. Sử
dụng thuốc không hợp lý sẽ gây nên hậu quả rất nghiêm trọng về kinh tế - xã
hội. Thực trạng này làm tăng chi phí và giảm chất lượng điều trị, đồng thời
làm tăng nguy cơ xảy ra ADR và làm cho bệnh nhân lệ thuộc vào thuốc. Vì
vậy cần phải nghiên cứu, đánh giá tình hình sử dụng thuốc và tăng cường các
hoạt động quản lý sử dụng thuốc để đạt được mục tiêu sử dụng thuốc an toàn,
dùng đến các khoa lâm sàng.
- Tư vấn cho Hội đồng thuốc và điều trị trong việc lựa chọn thuốc đưa vào
Danh mục thuốc dùng trong bệnh viện, trong việc xây dựng tiêu chí lựa chọn
thuốc trong đấu thầu.
- Tư vấn về sử dụng thuốc cho bác sĩ kê đơn lựa chọn thuốc trong điều trị.
- Hướng dẫn về sử dụng thuốc cho điều dưỡng, người bệnh nhằm tăng cường
sử dụng thuốc an toàn, hợp lý; hướng dẫn cách dùng, đường dùng, khoảng
cách dùng, thời điểm dùng thuốc; hướng dẫn, theo dõi, giám sát điều trị.
- Tham gia phổ biến, cập nhật các kiến thức chuyên môn liên quan đến thuốc
và sử dụng thuốc cho cán bộ y tế.
- Tham gia công tác cảnh giác dược; theo dõi, tập hợp các báo cáo về tác dụng
không mong muốn của thuốc trong đơn vị và báo cáo về Trung tâm Quốc gia
14
về Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc. Đề xuất biện pháp
giải quyết và kiến nghị về sử dụng thuốc hợp lý, an toàn.
- Tham gia nghiên cứu khoa học về sử dụng thuốc, về thử nghiệm thuốc trên
lâm sàng, đánh giá hiệu quả kinh tế y tế trong bệnh viện.
- Tham gia chỉ đạo tuyến trước đối với bệnh viện tuyến trung ương và tuyến
tỉnh [19].
Hình thức thông tin thuốc:
Để trao đổi thông tin thuốc, tùy từng tình huống, một hoặc nhiều các
hình thức thông tin sau thường được sử dụng:
- Trực tiếp
- Qua văn bản
- Qua điện thoại
- Qua email, trực tuyến qua mạng Internet
- Trả lời qua các cuộc họp, giao ban, thảo luận,…