BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
SANTY PHANTHADALA
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ THEO DÕI
PHẢN ỨNG SAU TIÊM CHỦNG CỦA BÀ MẸ
CÓ CON DƯỚI 1 TUỔI TẠI HUYỆN XAY CHĂM PHON
TỈNH BO LI KHĂM XAY, CHDCND LÀO NĂM 2018
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BỘ Y TẾ
SANTY PHANTHADALA
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ THEO DÕI
PHẢN ỨNG SAU TIÊM CHỦNG CỦA BÀ MẸ
CÓ CON DƯỚI 1 TUỔI TẠI HUYỆN XAY CHĂM PHON
TỈNH BO LI KHĂM XAY, CHDCND LÀO NĂM 2018
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành: Y tế công cộng
Measles-Mumps-Rubella (sởi quai bị và sởi Đức)
OPV
PCV
Oral Polio Vaccine (Bại liệt uống)
PUSTC
Phản ứng sau tiêm chủng
TCMR
Tiêm chủng mở rộng
TYT
UNICEF
Trạm y tế
United Nations Children’s Fund
(Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc)
World Health Organization
(Tổ chức y tế thế giới)
WHO
Pneumococcal conjugate vaccine
(Liên hợp phế cầu khuẩn)
phản ứng bất thường sau tiêm chủng có thể giúp xác định nguyên nhân từ đó
đề ra những biện pháp phù hợp đồng thời sẽ tránh được những thông tin sai
lệch có thể gây mất lòng tin đối với tiêm chủng và quan trọng hơn là củng cố
lòng tin của cộng đồng đối với công tác tiêm chủng [7],[8],[9]. Việc phối hợp
cùng gia đình trong công tác theo dõi, chăm sóc sức khỏe của trẻ trước và sau
tiêm chủng có vai trò đảm bảo an toàn tiêm chủng; các bà mẹ có kiến thức
8
đầy đủ và thực hành đúng về theo dõi, chăm sóc trẻ trước và sau tiêm chủng
sẽ giúp sớm phát hiện một số biểu hiện bất thường sau tiêm chủng đề đưa trẻ
đến các cơ sở y tế kịp thời.
Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của một số các trường hợp
phản ứng sau tiêm chủng đã xảy ra một số nước trên thế giới đã ghi nhận
những trường hợp phản ứng sau tiêm chủng vắc xin Quinvaxem tại Siri Lanka
năm 2008 đã có trẻ tử vong. Năm 2012 đến 2013 có 83 trường hợp phản ứng
sau tiêm tại Ấn Độ [10],[11]. Gần đây ở Lào năm 2016 đã có trẻ tử vong sau
tiêm chủng vắc xin Quinvaxem [12]. Trong Việt Nam năm 2017 có 27 trường
hợp tai biến nặng sau tiêm chủng [51]. Những phản ứng liên quan đến vắc xin
đã làm cộng đồng và các bà mẹ lo lắng, thậm chí từ chối tiêm chủng đã tác
động trực tiếp đến tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ của trẻ em và làm tăng số trường
hợp mắc bệnh truyền nhiễm phòng được bằng vắc xin [13].
Chính vì vậy, vấn đề an toàn tiêm chủng cần được quan tâm và nghiên
cứu để đưa ra các khuyến nghị đặc biệt nhằm hạn chế hậu quả xấu của các
trường hợp có phản ứng sau tiêm chủng. Tuy nhiên, tại CHDCND Lào (sau
đây gọi tắt là Lào) cho đến nay số nghiên cứu về vấn đề tiêm chủng nói chung
và an toàn tiêm chủng nói riêng còn rất hạn chế, đặc biệt là những vùng nông
thôn, xa trung tâm. Xuất phát từ vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu về: Thực trạng kiến thức, thực hành về theo dõi phản ứng sau tiêm chủng
1.1.2. Phân loại vắc xin
1.1.2.1. Vắc xin giải độc tố
Các loại vắc xin được sử dụng khi một độc tố của vi khuẩn là nguyên
nhân chính của bệnh do vi sinh vật tiết ra độc tố, hoặc hóa chất độc hại. Các
nhà khoa học đã phát hiện ra rằng họ có thể làm bất hoạt độc tố bằng cách xử
lý chúng với formalin, một dung dịch formaldehyde và nước khử trùng để
biến độc tố của vi sinh vật được an toàn để sử dụng trong vắc xin như giải độc
tố như Uốn ván, Bạch hầu [16],[17].
1.1.2.2. Vắc xin tinh chế
Thay vì toàn bộ tế bào vi sinh vật, vắc xin tinh chế chỉ bao gồm các
kháng nguyên mà tạo được miễn dịch tốt nhất. Trong một số trường hợp, các
vắc xin này sử dụng các quyết định kháng nguyên-phần đặc hiệu của kháng
nguyên mà kháng thể hoặc tế bào T nhận ra và gắn vào.
10
Vắc xin tinh chế có thể chứa ở bất cứ đâu từ 1-20 kháng nguyên hoặc
nhiều kháng nguyên khác. Việc xác định kháng nguyên tốt nhất kích thích hệ
thống miễn dịch là một quá trình tốn thời gian khó khăn. Phát triển vắc xin
tinh chế bằng cách: Phát triển các loại vi khuẩn trong phòng thí nghiệm và sau
đó sử dụng hóa chất để phá vỡ nó ra và thu thập các kháng nguyên quan
trọng, hoặc có thể sản xuất các phân tử kháng nguyên từ vi khuẩn sử dụng
công nghệ DNA tái tổ hợp, như vắc xin Ho gà vô bào, Hib, phế cầu(PCV7,PCV-10,PCV-13, viêm gan B [18].
1.1.2.3. Vắc xin bất hoạt (chết)
Là vắc xin có nguồn gốc từ toàn bộ tế bào vi khuẩn, vi rút gây bệnh
được xử lý bằng hóa chất, nhiệt độ làm vi sinh vật bị chết, hoàn toàn không
còn khả năng gây bệnh. Vắc xin Ho gà toàn tế bào, bại liệt tiêm [17],[18].
1.1.2.4. Vắc xin sống giảm động lực (được làm yếu đi)
Là dạng vi rút hoặc vi khuẩn gây bệnh đã được làm giảm độc lực hoặc
chủng đầu tiên cho người chưa bao giờ tiếp xúc với kháng nguyên thường tạo
ra kháng thể loại IgM. Tùy thuộc vào khả năng đáp ứng và thời gian tiêm, mũi
thứ hai sẽ kích thích đáp ứng miễn dịch nhanh hơn, cao hơn và thường là
kháng thể loại IgG. Sau khi tiêm đủ các mũi cơ bản, miễn dịch sẽ duy trì ở
mức độ cao trong thời gian dài và cho dù lượng kháng thể giảm xuống nhưng
do cơ chế trí nhớ miễn dịch nên đa số trường hợp vẫn có khả năng kích thích
cơ thể đáp ứng nhanh khi tiếp xúc lại với mầm bệnh [20].
Trong suốt 200 năm qua, kể từ khi thầy thuốc người Anh - Edward Jenner
dùng vẩy đậu bò để phòng bệnh đậu mùa ở người cho đến nay, tiêm chủng đã
góp phần đáng kể vào việc phòng ngừa bệnh, kiểm soát được ít nhất 10 bệnh
chính sau đây ở nhiều khu vực trên thế giới: đậu mùa, uốn ván, sốt vàng, các
bệnh gây ra bởi Haemophilus influenza type B, bại liệt, sởi, quai bị và rubella
[11]. Tác động của việc tiêm chủng vắc xin đối với sức khỏe con người trên toàn
thế giới là vô cùng to lớn, làm giảm tỷ lệ chết cho cộng đồng [21].
12
1.2. Chương trình tiêm chủng mở rộng
1.2.1. Lịch sử phát triển của chương trình tiêm chủng mở rộng trên thế
giới
Chương trình TCMR được WHO khởi xướng từ năm 1974 [22]. Đến
nay, qua 4 thập kỷ, chương trình đã mở rộng diện triển khai và tăng tỷ lệ tiêm
chủng ở các khu vực và nhiều quốc gia khác nhau [23]. Các vắc xin phòng
lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, sởi, viêm gan B, viêm màng não mủ do
Haemophius influenza type B được đưa vào chương trình TCMR ở hầu hết
các nước kể cả các nước đang phát triển.
Chương trình TCMR đã góp phần đẩy lùi nhiều bệnh tật và giảm tỷ lệ
tử vong của con người, đặc biệt là đối với trẻ em ở các nước đang phát triển.
Năm 2000, có 135 nước đã loại trừ được bệnh uốn ván sơ sinh. Năm 2006 số
lượng cuộc sống của người dân. Vào năm 2000, Lào chính thức được WHO
công nhận đã thanh toán hoàn toàn bệnh bại liệt. Đến năm 2016, tỷ lệ tiêm
chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi đạt trên 76%, bên cạnh đó, tỷ lệ tiêm chủng
vắc xin uốn ván cho phụ nữ có thai và phụ nữ tuổi sinh đẻ luôn đạt từ 80 đến
90%. Bệnh ho gà và bạch hầu là những bệnh có tỷ lệ mắc và chết cao ở trẻ em
trước khi có chương trình TCMR, nay cũng đã được khống chế, tỷ lệ tiêm
chủng các vắc xin đó đạt 82% [6].
1.2.3. Vắc xin thuộc chương trình tiêm chủng mở rộng
Tại Lào, đã có 8 loại vắc xin sử dụng trong tiêm chủng mở rộng cho trẻ
dưới 1 tuổi hiện đang triển khai trên toàn quốc là [27]:
Vắc xin lao (BCG): Phòng bệnh Lao.
Vắc xin viêm gan B (VGB): Phòng bệnh viên gan B.
Vắc xin bạch hầu-ho gà-uốn ván (DPT): Phòng bệnh Bạch hầu, Ho
gà, Uốn ván.
Vắc xin bại liệt uống (OPV): Phòng bệnh Bại liệt
Vắc xin sởi: Phòng bệnh Sởi
02 tháng
-
3
03 tháng
-
4
04 tháng
-
5
6
09 tháng
18 tháng
-
7
Từ 12 tháng
tuổi
Vắc xin Viêm não Nhật Bản mũi 2
(hai uần sau mũi 1)
Vắc xin Viêm não Nhật Bản mũi 3
(một năm sau mũi 2)
Vắc xin Tả 2 lần uống (vùng nguy cơ cao)
(lần 2 sau lần một 2 tuần)
Vắc xin thương hàn tiêm 1 mũi duy nhất (vùng
15
tuổi
10
nguy cơ cao)
Vắc xin phòng uốn ván cho phụ nữ
Phụ nữ có - Tiêm càng sớm càng tốt khi có thai lần đầu hoặc
thai;nữ tuổi
nữ 15-35 tuổi ở vung nguy cơ mắc UVSS cao.
sinh đẻ
- 1 tháng sau mũi 1
- 6 tháng sau mũi 2 hoặc trong thời kỳ có thai sau
- 1 năm sau mũi 3 hoặc trong thời kỳ có thai sau
- 1 năm sau mũi 4 hoặc trong thời kỳ có thai sau
1.3. Chỉ định và chống chỉ định trong tiêm chủng
1.3.1.Chỉ định tiêm vắc xin
Chỉ định tiêm vắc xin theo đúng lịch tiêm chủng và thực hiện đúng chỉ
định, chống chỉ định đối với từng loại vắc xin theo hướng dẫn [29].
1.3.2. Chống chỉ định tiêm vắc xin
1.4. Phản ứng sau tiêm chủng
1.4.1. Khái niệm về phản ứng sau tiêm chủng
Phản ứng sau tiêm chủng là hiện tượng bất thường về sức khỏe bao
gồm các biểu hiện tại chỗ tiêm chủng hoặc toàn thân xảy ra sau tiêm chủng,
không nhất thiết do việc sử dụng vắc xin, bao gồm phản ứng thông thường
sau tiêm chủng và tai biến nặng sau tiêm chủng [32].
17
1.4.2. Nguyên nhân phản ứng sau tiêm chủng
Phản ứng do thuộc tính của vắc xin: Tác dụng phòng vệ của vắc xin là
do chúng kích thích hệ thống miễn dịch của người dùng, tổng hợp các kháng
thể, đẩy mạnh sự phá hủy vi sinh vật nhiễm hoặc trung hòa độc tố của vi
khuẩn [33]. Phản ứng tại chỗ, các triệu chứng toàn thân, sốt có thể là một
phần của phản ứng miễn dịch cơ thể. Tuy nhiên, một số thành phần của vắc
xin như tá dược, chất bảo quản, protein kháng nguyên (ho gà toàn tế bào)
cũng có thể gây phản ứng.
- Một số tác động trực tiếp gây ra bởi vắc xin như: phản ứng tại
chỗ và sốt trong vòng 48 giờ sau khi tiêm DPT/IPV/Hib; phát ban kèm theo
sốt từ bảy đến mười ngày và viêm tuyến mang tai ba tuần sau khi tiêm
MMR [34].
Phản ứng do sai sót trong tiêm chủng: Sai sót khi thực hành tiêm
chủng là những lỗi gây ra trong lúc chuẩn bị tiêm chủng do kỹ thuật tiêm,
bảo quản hoặc sử dụng vắc xin. Các sai sót thường gặp trong tiêm chủng
[15] như:
- Sử dụng dụng cụ tiêm không vô khuẩn có thể gây nên áp xe, nhiễm
khuẩn huyết, lây nhiễm các bệnh qua đường máu (HIV, viêm gan B, C).
- Chuẩn bị vắc xin không đúng: pha hồi chỉnh sai dung môi, lấy nhầm
dung môi hoặc vắc xin gây phản ứng tại chỗ hoặc áp xe.
a) Phản ứng thông thường sau tiêm chủng:
Bao gồm các phản ứng tại chỗ như ngứa, đau, sưng hoặc đỏ tại chỗ
tiêm; phản ứng toàn thân bao gồm sốt và các triệu chứng khác (khó chịu, mệt
mỏi, chán ăn) có thể là một phần của đáp ứng miễn dịch bình thường. Các
phản ứng này thông thường là nhẹ và tự khỏi [39].
20
Bảng 1.2. Các phản ứng thông thường của vắc xin [30].
Vắc xin
Phản ứng phụ
tại chỗ (sưng,
đỏ, đau)
0
Sốt (>38 C)
BCG
90-95%
-
Viêm gan B
21
Như sau tiêm vắc xin BCG phòng bệnh lao, ghi nhận 90%-95% các
trường hợp có biểu hiện phản ứng tại chỗ tiêm, trẻ thường xuất hiện nốt nhỏ
tại chỗ tiêm và biến mất sau 30 phút. Sau khoảng 2 tuần vết loét chảy mủ rồi
tự lành và để lại một sẹo nhỏ có đường kính khoảng 5 mm. Điều đó chứng tỏ
trẻ đã có miễn dịch [30].
Sau tiêm vắc xin có chứa thành phần ho gà toàn tế bào (DPwT) ghi
nhận trên 50% trường hợp trẻ sau tiêm có phản ứng tại chỗ (sưng, nóng, đỏ,
đau), trên 50% các trường hợp có phản ứng sốt (>38 0C), khoảng 60% các
trường hợp có triệu chứng toàn thân, kích thích, khó chịu, quấy khóc [30].
b) Tai biến nặng
Tai biến nặng sau tiêm chủng là phản ứng bất thường sau tiêm chủng có
thể đe dọa đến tính mạng người được tiêm chủng (bao gồm các triệu chứng
như khó thở, sốc phản vệ hay sốc dạng phản vệ, hội chứng sốc nhiễm độc, sốt
cao co giật, trẻ khóc kéo dài, tím tái, ngừng thở) hoặc để lại di chứng hoặc
làm người được tiêm chủng tử vong [35].
Bảng 1.3. Các phản ứng nặng và hiếm gặp sau tiêm vắc xin [30]
22
Vắc xin
BCG
Phản ứng
Thời gian xuất
Viêm gan B
Sốc phản vệ
0-1 giờ
1,1
Viêm não Nhật
Bản (bất hoạt)
Biểu hiện thần kinh (viêm não, bệnh não, thần kinh ngoại biên)
Sởi/Sởi-quai bị- Co giật có sốt
rubella/sởi-rubella
Giám tiểu cầu
1-2,3
6-12 ngày
330
15-35 ngày
30
Sốc phản vệ
Sốc phản vệ
0-1giờ
1-6
-
Áp xe vô trùng
1-6 tuần
6-10
- Khóc thét dai dẳng >3 giờ
1.24
- Co giật
0-3 ngày
Người được tiêm chủng phải được theo dõi tại trạm y tế ít nhất 30 phút
sau tiêm chủng. Các dấu hiệu cần theo dõi sau tiêm chủng gồm [38]:
- Toàn trạng, tinh thần, nhịp thở, nhiệt độ, phát ban
- Dấu hiệu tại chỗ tiêm: Sưng, đỏ, đau tại chỗ tiêm
1.5.2. Hướng dẫn chăm sóc tại nhà
24
Người được tiêm chủng phải được theo dõi tại nhà ít nhất 24 giờ sau
tiêm chủng. Trường hợp người được tiêm chủng là trẻ em thì người theo dõi
trẻ phải là người trưởng thành và biết chăm sóc trẻ. Các dấu hiệu cần theo dõi
sau tiêm chủng bao gồm [38]:
- Dấu hiệu về nhịp thở
- Tinh thần, tình trạng ăn, ngủ
- Toàn trạng
- Nhiệt độ, phát ban
- Các biểu hiện tại chỗ tiêm (sưng, đỏ...)
Đối với trẻ em cần cho trẻ bú mẹ hoặc uống nước nhiều hơn. Bế, quan
sát trẻ thường xuyên và chú ý không chạm, đè vào chỗ tiêm.
Người được tiêm chủng cần được đưa ngay tới cơ sở y tế để theo dõi,
điều trị nếu có dấu hiệu tai biến nặng sau tiêm chủng có thể đe dọa đến tính
mạng của người được tiêm chủng bao gồm các triệu chứng như: khó thở, sốc
phản vệ hay sốc dạng phản vệ, hội chứng sốc nhiễm độc, sốt cao co giật, trẻ
khóc kéo dài, tím tái, ngừng thở.
1.5.3. Hướng dẫn xử trí các phản ứng thông thường sau tiêm chủng
Nguyên tắc: hướng dẫn xử trí các phản ứng thông thường sau tiêm
chủng [38].
Theo dõi và chăm sóc tại nhà theo nội dung trong mục 2.1 của Hướng
dẫn theo dõi chăm sóc, xử trí phản ứng sau tiêm chủng [38], bao gồm: