Thực trạng và kiến thức, thực hành của các bà mẹ có con đủ 12 tháng tuổi về tiêm chủng mở rộng tại huyện thanh hà, tỉnh hải dương năm 2014 2015 - Pdf 34

1

MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ……………………………………………………………..

5

Chương 1: TỔNG QUAN ……………………………………………….

7

1.1. Lịch sử chương trình tiêm chủng mở rộng……………………………

7

1.2. Tình hình tiêm chủng mở rộng……………………………………….

8

1.3. Các loại vaccine được dùng trong chương trình TCMR………………

15

1.4. Bảo quản dây chuyền lạnh…………………………………………….

17

1.5. Quy trình tiêm chủng an toàn của Chương trình tiêm chủng mở rộng

24


39

2.6. Đạo đức trong nghiên cứu…………………………………………….

39

Chương 3. KẾT QUẢ……………………………………………………

41

3.1. Xác định tỷ lệ tiêm chủng mở rộng Quốc gia cho trẻ em đủ 12 tháng

41

tuổi tại huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương năm 2014 - 2015.
3.2. Mô tả kiến thức và thực hành của các bà mẹ có con đủ 12 tháng tuổi

45

về tiêm chủng mở rộng huyện Thanh Hà, Hải Dương năm 2014 - 2015.
Chương 4. BÀN LUẬN………………………………………………….

55

4.1. Xác định tỷ lệ tiêm chủng mở rộng Quốc gia cho trẻ em đủ 12 tháng

55

tuổi tại huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương năm 2014 - 2015.
4. 2. Mô tả kiến thức và thực hành của các bà mẹ có con đủ 12 tháng tuổi

41

Bảng 3.3. Tỷ lệ trẻ có sẹo BCG đạt yêu cầu kỹ thuật tiêm…………………

42

Bảng 3.4. Tỷ lệ trẻ tiêm chủng đầy đủ 8 loại vaccine (chưa tính sẹo BCG 43
đạt yêu cầu)…………………………………………………………………
Bảng 3.5. Tỷ lệ trẻ tiêm đủ liều theo loại vaccine………………………….. 43
Bảng 3.6. Lý do không đưa trẻ đi tiêm chủng đầy đủ……………………… 44
Bảng 3.7. Liên quan giữa số con của các bà mẹ với tiêm chủng đầy đủ

44

Bảng 3.8. Liên quan giữa nghề nghiệp của các bà mẹ với tiêm chủng đầy 45
đủ……………………………………………………………………………
Bảng 3.9. Hiểu biết đúng về lợi ích tiêm chủng theo học vấn của các bà 47
mẹ…………………………………………………………………………..
Bảng 3.10. Bà mẹ hiểu biết đúng về lợi ích của tiêm chủng theo độ 48
tuổi…………………………………………………………………..............
Bảng 3.11. Liên quan giữa hiểu biết đúng của các bà mẹ với tỷ lệ tiêm

48

chủng………………………………………………………………………..
Bảng 3.12. Hiểu biết của các bà mẹ về số mũi tiêm chủng………………… 49
Bảng 3.13. Tỷ lệ các bà mẹ biết các bệnh phòng được trong 50
CTTCMR…………………………………………………………………...
Bảng 3.14. Tỷ lệ các bà mẹ biết được trường hợp nào vẫn được tiêm chủng 51
cho trẻ em để đảm bảo đúng lịch tiêm……………………………………..

tháng 6 năm 2010 vaccine BH - HG - UV được thay thế thành Quinvaxem tỷ lệ
tiêm 3 mũi Quinvaxem đạt 95% và từ đó Quinvaxem đã được thay thế cho Bạch
hầu - Ho gà - Uốn ván - VGB - Hib [2].
Chương trình tiêm chủng mở rộng không chỉ bảo vệ sức khoẻ trẻ em mà
còn có ý nghĩa chính trị xã hội và quan hệ Quốc tế quan trọng [8]. Là một trong
những chương trình y tế Quốc gia ưu tiên hàng đầu và được đưa vào 10 nội dung
chăm sóc sức khỏe ban đầu, đã mang lại thành công lớn trong việc giảm tỷ lệ
mắc, tỷ lệ chết ở trẻ em do 8 bệnh truyền nhiễm phổ biến gây ra. Việt Nam ta đã
thanh toán bại liệt năm 2000, dần dần loại trừ uốn ván sơ sinh và tiến tới khống
chế bệnh sởi.
Nâng cao sức khỏe con người là nhiêm vụ trọng tâm của ngành y tế, sự
nghiệp chăm sóc sức khỏe là sự nghiệp của toàn xã hội. Trong những năm qua
được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, chính quyền các cấp, sự phối hợp của các


6

ban ngành, ngành y tế đã đạt một số thành tích trong công tác chăm sóc sức
khỏe nhân dân nói chung và công tác tiêm chủng nói riêng.
Thanh Hà là một huyện nông nghiệp nằm phía Nam tỉnh Hải Dương có
diện tích: 159 km², dân số: 152.492 người, có 24 xã và 01 thị trấn theo thống kê,
báo cáo của Trung tâm Y tế huyện Thanh Hà đến hết năm 2013 tiêm chủng đầy
đủ là 99,2% đạt chỉ tiêu, tuy nhiên tiến độ tiêm chủng hàng tháng giao động từ
0,6 - 0,8% nhất là chênh lệch giữa các mũi tiêm. Phải chăng điều này có liên
quan đến hiểu biết của các bà mẹ về tiêm chủng. Do đó việc tìm hiểu kiến thức
về tiêm chủng mở rộng của các bà mẹ có con đủ 12 tháng tuổi của huyện Thanh
Hà là yêu cầu cần thiết.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên tôi chọn đề tài: “ Thực trạng
và kiến thức, thực hành của các bà mẹ có con đủ 12 tháng tuổi về tiêm chủng
mở rộng tại huyện Thanh Hà, Hải Dương năm 2014 - 2015 ”. Nhằm mục tiêu

để nâng cao tỷ lệ tiêm chủng. Hình thức này dần dần được thay thế bằng hình
thức tiêm chủng thường xuyên để nâng cao chất lượng của dịch vụ của chương
trình TCMR.


8

- Tiêm chủng chiến dịch: Đây là hình thức tiêm chủng đồng loạt cho đối
tượng lớn, trên phạm vi rộng trong một thời gian ngắn. Hình thức tiêm chủng
này được áp dụng trong chiến dịch những ngày tiêm chủng toàn quốc để thanh
toán bệnh bại liệt, chiến dịch tiêm nhắc mũi 2 vaccine sởi cho trẻ em từ 9 tháng
đến 14 tuổi nhằm đạt mục tiêu loại trừ sởi vào năm 2014.
1.2. Tình hình tiêm chủng mở rộng
1.2.1. Tình hình tiêm chủng mở rộng trên thế giới
Kỷ nguyên của tiêm chủng bắt đầu từ năm 1796 khi một thầy thuốc người
Anh ở nông thôn tên là Edward Jenner, đã cấy cho một đứa trẻ 8 tuổi những chất
tiết lấy từ tổn thương của bệnh đậu bò và cho thấy rằng đứa trẻ đã được bảo vệ
chống lại bệnh đậu mùa. Sau khi tiến hành thí nghiệm này nhiều lần với một kết
quả giống hệt nhau, năm 1798 Jenner công bố kết quả nghiên cứu vắc xin phòng
bệnh đậu mùa. Đến năm 1810, nhiều nước ở Châu Âu đã thực hiện tiêm chủng
bắt buộc đối với bệnh đậu mùa. Bệnh đậu mùa là bệnh đầu tiên trên thế giới
thanh toán được trong thập niên 70 của thế kỷ XX, đến nay toàn thế giới chưa
phát hiện bệnh đậu mùa quay trở lại. Đây là một kết quả có ý nghĩa lớn cho nền
y học và là cơ sở cho việc thanh toán các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên
toàn thế giới sau này.
Gần một thế kỷ sau phát minh của Jenner, Louis Pasteur phát hiện ra rằng
người ta có thể thu được tác nhân gây miễn dịch bằng cách bất hoạt vi sinh vật
gây bệnh nhiễm trùng và ông gọi chúng là những vaccine. Năm 1885, sau khi đã
thử trên súc vật một vaccine sản xuất từ vi rút bất hoạt gây bệnh dại, ông Louis
Pasteur đã đem thử nghiệm cho một đứa trẻ 9 tuổi bị thương rất nặng do chó dại

và UNICEF muốn làm cho phổ cập đến tất cả mọi người.
Chương trình TCMR được WHO chính thức thành lập và triển khai từ
năm 1974 chủ yếu phòng các bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, lao,
sởi…Thực tế cho thấy chương trình tiêm chủng hàng năm đã cứu sống hàng
triệu trẻ em ở các nước đang phát triển, tuy vậy vẫn còn hơn 3.5 triệu trẻ em bị


10

tử vong hoặc tàn phế mà lẽ ra có thể phòng tránh được bằng tiêm chủng vaccine
phòng bệnh [1], [10]. Tháng 5 năm 1977 Chương trình TCMR được WHO xác
định mục tiêu quan trọng là: “ Giảm tỷ lệ tử vong có thể quy cho 6 bệnh: bạch
hầu, ho gà uốn ván, bại liệt, sởi, lao bằng cách tạo miễn dịch cho tất cả các trẻ
em trên toàn cầu năm 1990 ”. Đây là những bệnh mà hàng năm trong thập niên
70 của thế kỷ XX ước tính đã giết hại và gây ra tàn phế cho hàng triệu trẻ em.
Việc tiêm chủng phòng ngừa các bệnh trên vừa hiệu quả, vừa an toàn và thực tế
các nước đã cho thấy các trường hợp mắc, chết của 6 bệnh giảm đi một cách
nhanh chóng khi hầu hết các trẻ em được tiêm vaccine phòng bệnh. Theo dự
đoán của WHO, nếu tiêm chủng cho trẻ em trên toàn thế giới, có thể cứu sống 3
triệu trẻ em trên toàn thế giới [11].
Chương trình TCMR đã được WHO xác định là 1 trong 8 nội dung chăm
sóc sức khỏe ban đầu theo tuyên ngôn Alma - Ata năm 1978, kêu gọi và vận
động các nước thành viên thực hiện chương trình có ích trong khuôn khổ hoạt
động, nhằm thực hiện mục tiêu “Sức khỏe cho mọi người”. Mục đích của
chương trình này là mở rộng, phát triển công tác tiêm chủng cho toàn thể trẻ em
trên toàn thế giới, đặc biệt là trẻ em ở các nước đang phát triển sẽ được tiêm
phòng 8 loại vaccine phòng 8 bệnh truyền nhiễm [25].
Cho đến nay các nước thành viên liên hợp quốc đều có chương trình
TCMR, trong đó có Việt Nam đã đạt được mục tiêu phổ cập tiêm chủng cho trẻ
em dưới một tuổi. Cách đây hai thập kỷ có 5% trẻ sơ sinh ở các nước đang phát

80% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm, uống 8 loại vaccine.
Trong những năm đầu, việc thực hiện tiêm chủng có rất nhiều khó khăn
song Đảng, nhà nước, cán bộ y tế và nhân dân dân ta đã cố gắng vượt qua những
trở ngại khó khăn đã đưa vaccine đến tận những vùng xa xôi, hẻo lánh để tiêm
chủng cho trẻ. Những nơi có điều kiện tổ chức tiêm chủng thường xuyên, có thể
vừa kết hợp tiêm chủng thường xuyên và tiêm chủng chiến dịch. Tỷ lệ tiêm


12

chủng được là 80% ở trẻ em trong độ tuổi tiêm chủng trong cả nước là rất cao so
với thực trạng nền kinh tế đất nước ta lúc bấy giờ. Từ năm 1989 chuyển sang
tiêm chủng thường xuyên kết hợp tiêm chủng chiến dịch và đã duy trì tiêm
chủng ở tỷ lệ cao [2], [7].
Trước năm 1985, địa bàn thực hiện tiêm chủng chỉ giới hạn trong 1313
xã, phường thuộc 166 huyện, đến năm 1990 đã triển khai được ở 8933 xã, thuộc
522 huyện trong cả nước. Đến năm 1995 toàn quốc đã xóa xã trắng về TCMR.
Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi tiêm chủng ngày càng cao, những năm cuối thế kỷ XX
tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ luôn đạt trên 90%.
Chương trình TCMR đã đạt được một số thành tích nhất định, Chính phủ
Việt Nam đã tuyên bố thanh toán bệnh bại liệt tháng 12 năm 2000. Phấn đấu loại
trừ uốn ván sơ sinh và khống chế bệnh sởi năm 2010. Tuy nhiên việc bảo vệ
thanh quả thanh toán bệnh bại liệt là rất khó khăn vì các nước xung quanh Việt
Nam còn lưu hành bệnh bại liệt. Uốn ván sơ sinh giảm rất nhiều nhưng số mắc
còn cao ở nhiều nước. Sởi vẫn là bệnh có số ca mắc cao ở cộng đồng, đặc biệt là
bệnh sởi đang quay trở lại và mắc bệnh ở những người lớn của miền Bắc nước ta
vào những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009 [3], [4], [6], [7].
Viêm gan B và viêm não Nhật Bản là những bệnh đang lưu hành và đe
dọa đến sức khỏe và tính mạng trẻ em…Những nguy cơ trên đòi hỏi Việt Nam
cần nỗ lực hơn nữa trong việc thực hiện TCMR, không những phải đảm bảo tỷ

văn chỉ đạo các bệnh viện tiếp tục triển khai tiêm viêm gan B mũi 1 trong vòng
24h.
Chỉ đạo của Sở Y tế trong những năm tới đến toàn tỉnh duy trì thành quả
thanh toán bại liệt năm 2000, bảo vệ thành quả loại trừ uốn ván sơ sinh năm
2005, 100% các huyện đạt tỷ lệ UVSS < 1/1.000 trẻ sống, giảm tỷ lệ mắc sởi
2/100.000 dân, 100% ca bệnh trong chương trình được điều tra giám sát.
1.2.4. Tình hình tiêm chủng mở rộng của huyện Thanh Hà
Thanh Hà là một huyện nằm ở phía nam tỉnh Hải Dương, phía bắc giáp
huyện Nam Sách, phía đông giáp huyện Kim Thành, phía nam giáp thành phố
Hải Phòng, phía tây giáp thành phố Hải Dương. Huyện có 24 xã và 01 thị trấn.
Huyện được chia làm 4 khu là Hà Nam, Hà Đông, Hà Tây và Hà Bắc
+ Hà Nam bao gồm 6 xã: Thanh Xuân, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn, Thanh
Xá, Thanh Khê, thị trấn Thanh Hà.
+ Hà Đông bao gồm 6 xã: Hợp Đức, Thanh Bính, Trường Thành, Thanh
Hồng, Thanh Cường, Vĩnh Lập
+ Hà Tây bao gồm 6 xã: Tiền Tiến, Quyết Thắng, Tân An, Thanh Hải, An
Lương, Phượng Hoàng
+ Hà Bắc bao gồm 7 xã: Việt Hồng, Hồng Lạc, Thanh An, Thanh Lang,
Cẩm Chế, Liên Mạc, Tân Việt
Chương trình TCMR được triển khai 100% các xã, thị trấn trong toàn
huyện.
Bảng 1. Kết quả TCMR tại huyện Thanh Hà từ năm 2009 - 2013
Tổng số trẻ


2012

3016

2878

95,4

2013

2834

2812

99,2

Năm

Tỷ lệ %


15

Chương trình TCMR được triển khai thường xuyên ở toàn huyện. Kết quả
tổng kết tình hình tiêm chủng của huyện từ 2009 - 2013, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ
được duy trì trung bình đạt 97,2%.
1.3. Các loại vaccine được dùng trong chương trình TCMR
1.3.1. Vaccine BCG (Bacillus camette Guerin)
Vaccine được tạo ra bằng cách cấy truyền vi khuẩn lao nhiều lần trên môi

sởi nhạy cảm với nhiệt độ cao, cần bảo quản nhiệt độ đông lạnh. Dung môi cũng
cần bảo quản ở nhiệt độ 2- 80C.
Hiệu lực của vaccine sởi khá cao (95%). Hiệu lực cao nhất nếu tiêm cho
trẻ đúng lúc từ 9-12 tháng tuổi.
1.3.5. Vaccine viêm gan B
Từ những năm 1980, vaccine viêm gan B lần đầu tiên có mặt trên thế giới.
Các vaccine viêm gan B đã sử dụng kháng nguyên bề mặt của siêu vi viêm gan
B (HBsAg) có độ tinh khiết cao. Cho đến nay đã có ba thế hệ vaccine viêm gan
B tùy theo tính chất của kháng nguyên HBsAg.
Vaccine thế hệ I điều chế HBsAg từ huyết tương người lành mang HBsAg
(gồm kháng nguyên S, tiền S1 và S2), vaccine này có ưu điểm hiệu quả bảo vệ
cao và giá thành thấp, tuy nhiên do nguồn kháng nguyên cạn kiệt và tính an toàn
nên vaccine thế hệ II ra đời.
Ví dụ: Vaccine viêm gan B thế hệ I do viện vệ sinh Dịch tễ Hà Nội sản
xuất và ứng dụng trong chương trình TCMR năm 1997.
Vaccine thế hệ II là vaccine tái tổ hợp sản xuất do công nghệ di truyền.
Cài đặt một gen mã hóa tổng hợp HBsAg vào một véc tơ (các plasmid khác
nhau), sau đó chuyển nạp chúng vào một trong các tế bào nấm men (S.
cerevisiae, H. polymorpha, P. pastoris). Tuy nhiên có khoảng 5-15% số người
tiêm vaccine này không có đáp ứng miễn dịch.
Ví dụ: Vaccine Hepavac-gen, Engerix-B, Recombivac,…v.v.


17

Vaccine thế hệ III sản xuất dựa trên công nghệ di truyền giống thế hệ II,
nhưng ngoài kháng nguyên S còn có kháng nguyên tiền S1 và tiền S2; cho hiệu
quả bảo vệ cao hơn. Đoạn gen tổng hợp được đưa vào tế bào trứng chuột vàng
Trung Quốc, loại vaccine này có tính miễn dịch cao và an toàn. Sự phát triển của
các thế hệ vaccine nhằm mục đích tăng cường đáp ứng tạo kháng thể với nồng

MR
Hib đông khô

Bảo quản ở nhiệt độ
từ +2oC đến +8oC

15oC đến -25oC nếu không đủ chỗ

Hib dung dịch
Viêm gan B
DPT
DT/TT/Td

Bảo quản ở nhiệt độ từ +2oC đến +8oC, không được để
đông băng.

DTP-VGB-Hib
DTP-VGBIPV-Hib
1.4.1. Nguyên tắc chung bảo quản vaccine trong dây chuyền lạnh


18

- Sắp xếp vaccine và dung môi theo loại, theo lô, hạn sử dụng để thuận
tiện cho việc cấp phát.
- Vaccine được sử dụng theo nguyên tắc hạn ngắn phải được sử dụng
trước, tiếp nhận trước phải sử dụng trước và/hoặc theo tình trạng của chỉ thị
nhiệt độ lọ vaccine.
- Để những lọ vaccine còn nguyên lọ được mang về từ buổi tiêm chủng, lọ
vaccine có chỉ thị nhiệt độ đã chuyển màu sang giai đoạn có tiếp xúc với nhiệt

- Đặt thiết bị ghi nhiệt độ trên giá gần giàn lạnh. Để thiết bị ít nhất 48 giờ
và kiểm tra nhiệt độ cao nhất và thấp nhất. Nếu nhiệt độ nằm trong khoảng +
20C đến + 80C thì khu vực đó an toàn để bảo quản vaccine. Nếu nhiệt độ không
nằm trong khoảng nhiệt độ trên, đánh dấu “không an toàn” và chuyến thiết bị
theo dõi nhiệt độ ra khu vực khác của giá.
- Lặp lại quy trình thử nhiệt độ trên tất cả các giá gần giàn lạnh cho đến
khi thiết lập được giới hạn khu vực bảo quản an toàn.
- Đánh dấu rõ trên giá những khu vực nguy hiểm “lạnh” bằng băng dính
màu. Không sử dụng những khu vực đó để bảo quản vaccine nhạy cảm với đông
băng.
- Lặp lại việc kiểm tra này mỗi khi thay thế thiết bị làm lạnh.
c) Kiểm tra khu vực an toàn bảo quản vaccine trên nền buồng lạnh
- Xếp một chồng hộp bìa rỗng cao khoảng 150 cm trong khu vực bảo quản
vaccine bằng kệ. Để thiết bị ghi nhiệt độ lên trên trong ít nhất 48 giờ và sau đó
kiểm tra nhiệt độ cao nhất, nhiệt độ thấp nhất.
- Nếu nhiệt độ nằm trong khoảng + 20C đến + 80C thì khu vực đó an toàn
để bảo quản vaccine nhạy cảm với đông băng. Dùng sơn hoặc băng dính để đánh
dấu và đảm bảo khu vực được đánh dấu phù hợp với kích thước các kệ. Giữa các
kệ phải có khoảng cách ít nhất 10 cm để không khí lạnh lưu thông.


20

- Nếu không nằm trong khoảng nhiệt độ trên, đánh dấu khu vực đó lại và
tiến hành thử nghiệm ở vị trí khác cho đến khi thiết lập được các giới hạn của
vùng bảo quản an toàn.
- Lặp lại việc kiểm tra này mỗi khi thay thiết bị làm lạnh.
- Nên sử dụng kệ nhựa vì kệ gỗ có thể bị nấm mốc, xếp chúng ở nơi khô
ráo trong kho để dùng khi cần.
d) Bảo quản vaccine trên các giá trong buồng lạnh

băng.
- Nếu có khoang làm đá riêng, thì sử dụng khoang này để làm đông băng
bình tích lạnh. Không để quá nhiều bình tích lạnh.
- Vaccine OPV, sởi, BCG sắp xếp để ở phía dưới đáy tủ.
- Vaccine dễ hỏng do đông băng (như VGB, DPT, DT, Td, uốn ván, DPTVGB-Hib, Thương hàn, Tả) để ở phía trên.
- Sắp xếp vaccine và dung môi theo hướng dẫn tại Phụ lục 2.
1.5.4. Bảo quản vaccine trong tủ lạnh cửa mở trước
- Nếu có khoang làm đá riêng, thì sử dụng khoang này để làm đông băng
bình tích lạnh. Không để quá nhiều bình tích lạnh.
- Vaccine OPV, sởi, BCG để ở giá trên cùng gần khoang làm đá.
- Vaccine dễ hỏng do đông băng như VGB, DPT, DT, Td, uốn ván, DPTVGB-Hib, thương hàn, tả để ở giá giữa.
- Dung môi xếp bên cạnh vaccine hoặc dưới đáy tủ.
- Để nhiệt kế và chỉ thị đông băng cùng với những vaccine nhạy cảm với
đông băng ở giá giữa.
- Không để vaccine ở cánh cửa tủ lạnh
- Để bình chứa nước ở ngăn dưới cùng tủ lạnh để giúp duy trì nhiệt độ khi
tủ lạnh mất điện.
- Sắp xếp vaccine, dung môi theo hướng dẫn hướng dẫn tại Phụ lục 2.


22

1.4.5. Đóng gói, vận chuyển vaccine trong hòm lạnh và phích vaccine
a) Chuẩn bị bình tích lạnh
Chuẩn bị đủ số bình tích lạnh cần dùng. Tính thời gian cần thiết để làm
đông băng bình tích lạnh.
Chuẩn bị bình tích lạnh:
- Bước 1: Làm đông băng bình tích lạnh:
+ Đổ đầy nước vào bình tích lạnh, chỉ để lại 1 khoảng nhỏ cho không khí
và đậy nắp thật chặt.

c) Đóng gói vaccine sử dụng đá lạnh
- Để đá lạnh trong túi ni lông xếp vào đáy của hòm lạnh, phích vaccine
- Để miếng bìa ngăn cách vaccine với đá.
- Để hộp, lọ vaccine và nhiệt kế trong túi ni lông (để nhãn lọ vaccine
không bị ướt và bị bong).
- Không để đá lên trên vaccine.
- Để miếng xốp lên trên cùng (phích vaccine) và đậy nắp lại.
1.4.6. Bảo quản vaccine trong buổi tiêm chủng
a) Chuẩn bị phích vaccine: Nếu vaccine được bảo quản trong tủ lạnh,
hòm lạnh thì trong buổi tiêm chủng cần chuyển vaccine sang phích vaccine.
b) Sắp xếp vaccine trong phích vaccine theo quy định tại mục 3.5 của
Hướng dẫn này.
c) Bảo quản vaccine trong buổi tiêm chủng
- Đặt phích vaccine ở chỗ mát.
- Đóng chặt nắp phích vaccine, chỉ mở khi có người đến tiêm chủng.
- Miếng xốp trong phích vaccine có những đường rạch nhỏ để cài lọ
vaccine. Những lọ vaccine nhiều liều đã mở phải được cài vào đường rạch nhỏ
trên miếng xốp trong phích vaccine trong suốt buổi tiêm chủng.


24

- Kiểm tra bình tích lạnh đã được làm tan đá bên trong, kiểm tra nhiệt kế
để đảm bảo nhiệt độ ở +2°C đến +8°C.
- Trường hợp bình tích lạnh đã tan hết đá bên trong (hoặc đá trong phích
vaccine đã tan hết) cần phải thay bình tích lạnh hoặc bổ sung thêm đá.
- Khi kết thúc buổi tiêm chủng, để những lọ vaccine chưa mở vào tủ lạnh
và đặt trong hộp “ưu tiên sử dụng trước” và cần được sử dụng sớm trong buổi
tiêm chủng tiếp theo.
1.5. Quy trình tiêm chủng an toàn của Chương trình tiêm chủng mở

tiêm chủng là chỗ ngồi theo dõi sau tiêm.
- Có sơ đồ hướng dẫn quy trình 1 chiều để người đến tiêm chủng dễ dàng
thực hiện theo các bước trong quy trình.
- Riêng đối với điểm tiêm vaccine viêm gan B liều sơ sinh tại các cơ sở y
tế có phòng sinh thì phải thực hiện theo Điểm đ Khoản 1 Điều 5 Thông tư số
12/2014/TT-BYT ngày 20/3/2014 của Bộ Y tế.
3. Bố trí, sắp xếp điểm tiêm chủng lưu động
- Điểm tiêm chủng lưu động phải tuân thủ các quy định tại Điều 6, Thông
tư số 12/2014/TT-BYT ngày 20/3/2014 của Bộ Y tế.
4. Các tài liệu tối thiểu cần có tại mỗi cơ sở tiêm chủng
- Có đầy đủ các tài liệu chuyên môn và hồ sơ theo quy định tại điểm c,
Khoản 2, Điều 5 và Khoản 1, Điều 28 Thông tư số 12/2014/TT-BYT ngày
20/3/2014 của Bộ Y tế.
- Các áp phích, tờ rơi hướng dẫn các bước thực hiện tiêm chủng, lịch tiêm
chủng, theo dõi, chăm sóc, xử trí phản ứng sau tiêm chủng treo, dán trên tường
tại nơi thực hiện tiêm chủng để cán bộ y tế và bà mẹ có thể đọc, xem được.
- Các áp phích, tờ rơi khác (nếu có).
5. Chuẩn bị trang thiết bị, dụng cụ, biểu mẫu tiêm chủng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status