BỘYTẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
NGUYỀN ĐÌNH THANH
THƯC TRANG LÀM ME AN TOÀN
VÀ VAI TRÒ CỦA CÁN Bộ Y TÉ TRONG VIỆC
NÂNG CAO CÔNG TÁC LÀM MẸ AN TOÀN
TẠI HUYỆN HƯNG NGUYÊN, NGHỆ AN NĂM 2014
LUẬN ÁN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
THÁI BÌNH-2014
NGUYỄN ĐÌNH THANH
Formatted: Font: (Default) Times New Romar
THực TRẠNG LÀM MẸ AN TOÀN
VÀ VAI TRÒ CỦA CÁN Bộ Y TÉ TRONG VIỆC
NÂNG CAO CÔNG TÁC LÀM ME AN TOÀN
TAI HUYÊN HƯNG NGUYÊN, NGHÊ AN NĂM 2014
Chuyên ngành: QUẢN LÝ Y TẾ
Mã số: CK 62 72 76 05
LUẬN ÁN BÁC Sĩ CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Vương Thị Hòa
2. TS. Nguyễn Đức Thanh
Thái Bình, ngàv 2 tháng 12 năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Đình Thanh
CÁC CHỮ VIẾT TẢT
AIDS
Acquired Immunodeficiency Syndrome
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phài
BLTỌĐTD
Bệnh lây truyền qua đường tình dục
BPTT
Biện pháp tránh thai
CBYT
Cán bộ y tế
CCDV
Cung cấp dịch vụ
SKSS
Nhiễm khuân đường sinh sản
TYT
Trạm y té
TVM
Tử vong mẹ
TVSS
Tủ vong sơ sinh
UNFPA
United Nations Population Fund
Quỹ dân số Liên hợp quốc
WHO
World Health Organization
Tố chức Y tế Thế giới
MỤC LỤC
Trang
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bảng 3.33. Lý do CBYT thôn không hài lòng với công việc dann đảm nhiệm 58
Trang
Biếu đồ 3.6.
Tỷ lệ CBYT có kiến thức đúng về thức ăn cho trẻ ăn dặm.... 53
9
-
-
ĐẬT VÂN ĐÊ
CBYT thôn là cánh tay nối dài của y tế cơ sở, vì CBYT thôn ở ngay
trong dân, có nhiệm vụ truyền thông - giáo dục sức khoẻ (TT-GDSK), phát
hiện sớm dịch bệnh, sơ cứu và xử trí cấp cứu ban đầu, chăm sóc người bệnh
nhẹ và bệnh mãn tính. Vì vậy CBYT thôn có ý nghĩa quan trọng và cần thiết
trong việc chăm sóc sức khoe nhân dân tại cộng dồng, nhất là khu vực nông
thôn miền núi. Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động CBYT thôn là thiết
thực và tạo điều kiện cho người dân được tiếp xúc với dịch vụ chăm sóc sức
khoe, nhằm thực hiện công bàng xã hội, góp phàn vào công cuộc xoá đói
giảm nghèo của Đang và Nhà nước ta tron" giai đoạn hiện nay.
Trong những năm gần đây, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe
sinh sản cho mọi người dã và đang nhận được nhiều sự quan tâm của Chính
phú các nước trên Thế giới cũng như của Việt Nam. Năm 2009 Bộ Y té đã
cao vai trò và vị thế cũng như hiệu quá của đội ngũ CBYT thôn. Kết quà thu
được từ nghiên cứu này hy vọng sẽ góp phần tronc việc nâng cao chất lượng
cung cấp dịch vụ làm mẹ an toàn tại tuyến xã hiện nay.
Từ thực trạng trên chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Thực trạng làm mẹ an
toàn và vai trò của cán hộ y tế trong việc nâng cao cồng tác làm mẹ an toàn
tại huyện Hung Nguyên
, Nghệ An năm 2014 ” với 2 mục tiêu sau:
1. Mô tả kết quả thực hiện làm mẹ an toàn của bà mẹ nuôi con dưới I
tuôi trên địa bàn huyện Hưng Nguyên, tinh Nghệ An nám 2013.
Đánh giá kiến thức và vai trò của cản bộ y tế thôn, xóm về nâng cao
công tác làm mẹ an toàn trên địa bàn nghiên cứu neun 2014.
-
1
1
Chương
1
-
TỐNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.
••
Môt số khái niêm
Trong việc thực hiện các biện pháp tránh thai (BPTT) có rất nhiều biện
pháp như: Dùng bao cao su; Thuốc tránh thai (thuốc tiêm, thuốc uống, thuốc
cấy và thuốc tránh thai khấn cấp); Dụng cụ tử cung; Triệt sản/Đình sản; Xuất
tinh ngoài âm đạo; và Tính vòng kinh/Lịch kinh.
Việc phân loại biện pháp tránh thai có nhiều cách như:
- BPTT tạm thời, BPTT vĩnh viễn
- PBTT có hocmon và không có hocmon...
- BPTT hiện đại, BPTT truyền thống
về BPTT hiện đại ta có thể hiểu: là biện pháp mà người phụ nữ cần
tránh thai được sử dụng một dụng cụ đặt vào tử cung (nhờ cán bộ y tế đặt
DCTC), hoặc dùng thuốc để dưa vào cơ thề làm ức chế quá trình rụng trứng
hoặc làm mòng niêm mạc tử cung, loãng chất nhầy cồ tử cung,... (thuốc tránh
thai). Có thể phẫu thuật để thắt, cắt ống dần trứng, ống dẫn tinh để ngăn cản
sự gặp nhau của noăn và tinh trùng (triệt sản nam/triệt sản nừ). Đơn giản hơn
để ngăn cản không cho noãn gặp tinh trùng có thể dùng bao cao su cho nam
hoặc nữ (bao cao su). Đó là những biện pháp tránh thai hiện đại hiện đang
dược dùng tại Việt Nam [46].
CBYT thôn xóm là một người mà người đó giúp hướng dẫn gia đình và
hàng xóm hướng đến một sức khỏe tốt hơn. Thông thường người này được
lựa chọn bởi những người trong thôn bản vì người đó có khà năng đặc biệt
hoặc tứ tế, tốt bụng. Một số CBYT thôn xóm nhận được sự đào tạo và sự giúp
đờ từ các chương trình được tổ chức, có thể là từ Bộ Y tế. Nhưng người khác
không có một vị trí chính thức nào, nhưng họ chỉ đơn giản là một thành viên
của cộng đồng gồm những người được kính trọng như thầy lang, hay người
hướng dẫn về các vấn đề sức khỏe. Thông thường họ học bằng cách quan sát,
giúp dờ và tự học [50].
quan đến thai sản [69], [2727], [7070].
Theo ước tính năm 2005, tý suất tử vong mẹ (MMR) trên phạm vi toàn
thế giới vẫn còn rất cao (MMR=400). Con số này cao nhất ở khu vực cận
Sahara (MMR=900), tiếp đến là châu Phi (MMR=820), khu vực Nam Á
(MMR=490). Tại các khu vực đang phát triển ti lộ này vẫn cao hơn ti lệ chung
trên thế giới (MMR=450). Tỷ suất tử vong mẹ tại khu vực Đông Nam Á
(MMR=300) thấp hơn so với tỷ suất chung của khu vực các nước đang phát
triển [7070].
-
1
4
-
Tỷ suất tử vong mẹ có sự khác biệt rõ ràng giừa các giữa các nước giàu
và nước nghèo, và giữa các châu lục với nhau. Tý suất tử vong mẹ ở các nước
phát triền là 9/100.000, đối lập sâu sắc với tỷ suất tử vong mẹ lên đến
450/100.000 tại các nước đang phát triền [ 174-7], [7070]. Có tới 99% số các
trường hợp tử vong mẹ xảy ra ờ các nước đang phát triển, nhiều nhất ở khu
vực châu Phi và Nam Á. Ngay trong cùng một châu lục, sự khác biệt về tý suất
tử vong mẹ cũng khá rõ rệt. Tại khu vực châu Á, tỷ suất từ vong mẹ cao nhất
thuộc về khu vực Nam Á (MMR=490), trong khi tại khu vực Đông Á con số
này chi là MMR=50. Công bố của Liên Hợp Quốc cũng chỉ ra, một phụ nừ 15
tuổi có nsuy cơ tư vong do biến chứng liên quan đến thai san cao nhắt ớ
Nigeria (1/7), và nguy cơ thấp nhất ở Ireland (1/48.000) [7070].
Các số liệu thống kê đã chỉ ra rằng tỷ suất tử vong mẹ tính chung trên
toàn cầu giảm chậm dồng thời cho thấy tý lộ giảm này chủ yếu chi diễn ra ở
quả của việc mang thai. Ví dụ như bệnh gan, thiếu máu, sốt rét, bệnh tim, lao,
AIDS và uốn ván. Các nguyên nhân gián tiếp này chiếm khoảng 20% các
trường hợp tử vong mẹ trên thế giới [4344].
Bên cạnh đó, các yếu tố góp phần tác động đến tử vong mẹ là các thực
hành tìm kiếm sự chăm sóc trong thời kỳ mang thai, sinh đẻ và giai đoạn sau
sinh như chậm trễ đến các cơ sơ chăm sóc thích hợp, chậm trễ trong việc chần
đoán, điều trị ờ cơ sở y tế, sự sẵn có và chất lượng chăm sóc tại cơ sở y tế mà
người phụ nữ có thề tiếp cận. Như vậy, trình độ kỹ thuật, điều kiện cơ sở vật
chất, dịch vụ chăm sóc y tế thiếu thốn, lạc hậu cùng với các thói quen và kiến
thức hạn chế cùa các bà mẹ trong khi mang thai và khi sinh là những yếu tố
ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sức khỏe bà mẹ [1747],
-
1
6
-
Tại Việt Nam, kết quả rà soát tại 17 tỉnh cho thấy tông số có 122 ca tử
vong mẹ trong năm 2007-2008. Tỷ suất tử vong mẹ sau khi hiệu chinh là
119/100.000 ca sinh sống. Tỷ lộ tử vong mẹ tính trên 100.000 phụ nữ 15-49 tuổi
tại 14 tinh là 8,2. Nguvên nhân trực tiếp hàng đầu gây tử vong mẹ là băng huyết
(43,4%), tiếp theo là sản giật/tiền sản giật (10,7%). Két quả nghiên cứu cũng cho
thấy tý suất tử vong mẹ của nhóm phụ nữ sinh con thứ 3 trờ lên (283/100.000 ca
sinh sống) cao gấp 4 lần nhóm sinh 1 -2 con; ở nhóm kết thúc thai nghén tại nhà
rất cao (156/100.000 ca sinh sống) và cao gấp 5 lần so với nhóm kết thúc thai
nghén tại trạm y tế và bệnh viện (32/100.000 ca sinh sống) [3848].
nhân thường được xác định chi tập trung vào ngạt khi sinh, các nhiễm khuân nặng,
các biến chứng của đé non và uốn ván [3838] bên cạnh đó phai kề đến kiến thức
về chăm sóc trẻ nói chung trẻ sơ sinh nói riêng còn có những hạn ch|21].
-
1
8
-
Sức khỏe trẻ sơ sinh liên quan chặt chẽ đến sức khỏe bà mẹ, nhiều
trường hợp từ vong sơ sinh sớm lien quan đen việc chăm sóc trong đẻ. Một số
yếu tố dẫn đến tử vong mẹ cũng có thể là nguyên nhân gây hại cho thai nhihoặc sơ
sinh. Chuyển dạ tác nghẽn và kco dài ở bà mẹ dẫn den ngạt sơ sinh
hoặc thai chết trong tử cung. Sản giặt và cháy máu trước đẻ cùng là những
nguyên nhân đe doạ đến sự sống của thai nhi. Các nhiễm khuẩn trong quá
trình mang thai hoặc khi sinh có thế dẫn đến nhiễm khuấn thai nhi hoặc sơ
sinh. Vì vậy, một số các can thiệp thiết yếu de giảm tử vong mẹ là cũng dô
giảm từ vong sơ sinh [66éé].
Từ vong ờ trẻ sơ sinh còn do nguyên nhân uốn ván sơ sinh, nếu trong
quá trình mang thai người mẹ khồng được tiêm phòng uốn ván đủ mũi thì đứa
trẻ sinh ra không được bảo vệ. Cách ngăn ngừa bệnh uốn ván là chủng ngừa
bằng vẳc-xin trước thực trạng trẽ sơ sinh có tỹ lệ từ vong cao do mác uốn ván,
tổ chức y tế Thế giới WHO kết hợp với UNICEF cùng các nước trên thế giới
đã đưa vacxin uốn ván vào chương trình tiêm chùng mở rộng toàn cầu.
Chương trình Tiêm chủng mở rộng bắt đầu vào năm 1974. Năm 1980, ước
tính có khoảng 20% số trỏ em dưới 1 tuổi được tiêm phòng vắc-xin uốn ván
trên thế giới. Tỷ lệ đó đã tăng lên khoảng 83% vào tháng 7 năm 2013. Chủng
hàng hiện vần chưa được nhân viên y tế thực hiện đúng nghĩa cả về mặt số
lượng và chất lượng. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc này là
do các bệnh viện lớn hiện nay đang bị quá tải dẫn den bác sỹ phải làm việc
quá sức và không có đủ thời gian dành cho công việc tư vấn.
Bên cạnh đó, theo kết quả nghiên cứu của Đào Thị Minh An (2005) [ 1],
việc hỗ trợ sau tư vấn đối với khách hàng của nhân viên y tế về các biện pháp
cằn phải thực hiện sau tư vấn còn chưa tốt. Có tới 43% người sử dụng dịch vụ
tư vấn về HIV/A1DS trong nghiên cứu đánh giá rằng dịch vụ tư vấn mà họ
nhận được không có hiệu quả.
Việc kiếm soát các tai biến sản khoa ở Việt Nam đà nhận được sự quan
tâm hàng đầu trong các hoạt dộng y té nói chung và chăm sóc, bảo vệ sức
khỏe bà mẹ và trẻ em nói riêng. Điều lạc quan là tuy tai biến sản khoa là
nhừng tai biến nặng có thể gây từ vong cho bà mẹ và trẻ sơ sinh nhưng chúng
có thế phòng ngừa được. Mặc dầu vậy, theo Niên giám Thống kê Y tế 2007
[4], số tai biến sản khoa và tý lẹ tử vong do tai biến sản khoa ở Việt Nam hiện
còn khá lớn. So trường hợp từ vong trong tông sổ mắc của 5 loại tai biến sản
khoa như sau: băng huyết: 69/2.692, sán giật: 7/441, uốn ván sơ sinh: 23/36,
vờ từ cung: 7/66 và nhiễm trùng hậu sản: 11/300.
Theo kết quả nghiên cứu cùa Đào Quang Vinh (2007) [42] về thực trạng
tai biến sản khoa tại cộng đồng ở một số xã của huyện Hoài Đức, Hà Tây, nay
là Hà Nội, thì hình thái tai biến sản khoa gặp nhiều nhất trong mẫu điều tra là
băng huyết, chiếm tới trên ba phần tư số trường họp tai biến sản khoa (94,4%),
tiếp đó là nhiềm trùng và sản giật/tiền sàn giật (cùng chiếm tỳ lệ 2,8%).
21
-
-
22
-
-
Việc đáp ứng đầy đù các nội dung CCDV chăm sóc trước sinh ờ nước
ta thực sự còn gặp nhiều khó khăn. Nghiên cứu của Phan Lạc Hoài Thanh
(2005) [26] qua phỏng vấn nhừng người không khám thai hoặc khám thai
không đủ ba lần cho thấy: có 66,2% số đối tượng đưa ra lý do vì bận không
bố trí dược thời gian; 28,4% thấy không cần thiết, ngại đi xa và có tới 5,4%
thai phụ đến trạm xá nhưng không gặp cán bộ y tế. Tý lệ các bà mẹ không
hiểu về sự cần thiết phái uống bồ sung viên sắt khi mang thai còn cao
(40,9%); tuy nhiên, đáng chú ý là việc đưa ra lý do TYT xâ không có viên sắt
(49,1%). Bên cạnh đó, việc thực hành các bước khám thai của cán bộ y tế ở
tuyến cơ sơ còn chưa đầy đú, chắt lượng chưa cao, thiếu hụt tư vấn cho phụ
nữ về các vấn đề thai nghén.
Một nghiên cứu cho thấy, 94% phụ nữ ở khu vực thành thị dă sinh con
tại CSYT, tỷ lộ này gấp 1,4 lần so với nhừng phụ nữ sông ở vùng nông thôn
và gấp tới 3 lần so với nhừng vùng sâu, vùng xa [60].
Kết quả phóng vấn kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn 240 bà
mẹ sinh con tại nhà ở Nepal năm 2006 cho thấy, có 140 bà mẹ (58,3%) chủ
định sinh ở nhà và 100 (41,7%) không chu định sinh ờ nhà nhưng do một số
lý do đã khiến họ phải thực hiện cuộc sinh đè tại nhà. Trong số 240 ca sinh,
chi có 6,2% được đờ bởi CBYT trong khi đó có 38 (15,8%) bà mẹ dã sinh
một mình. 57,9% trẻ sơ sinh được bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh và 85,4%
dược bú trong vòng 24 giờ [6464].
Một nghiên cứu tương tự tại Nigeria được thực hiện vào năm 2008 cho
CSYT thường tập trung ở nhừng tỉnh thuộc khu vực Đông Bắc, Tây Bắc và
Tây Nguyên. Các lý do được đưa ra bao gồm đường xa, chi phí tốn kém. Bên
cạnh đó, phong tục tập quán của đồng bào cũng có ảnh hưởng tới lựa chọn địa
điểm sinh của đồng bào: người dân tộc thích đẽ tại nhà, không thích khám cán
bộ y tế là nam giới. Sự khác biệt về ngôn ngừ cũng khiến người phụ nừ dân
tộc thiếu số không hiểu được các nội dung truyền thồng và tư vấn về làm mẹ
an toàn và chăm sóc sơ sinh, khiến cho họ cùng không có được thông tin cho
sự lựa chọn phù hợp [3646].
24
-
-
Ket quả nghiên cứu kiến thức và thực hành cua 1.942 phụ nừ nuôi con
dưới 1 tuổi thực hiện trên địa bàn 14 tĩnh cùa Việt Nam được thực hiện vào
5/2009 cho thấy: 77,7% phụ nữ biết về số lần cần khám thai trong một thai
kỳ; tuy nhiên, chỉ có 57,1% phụ nữ đâ khám thai từ 3 lần trở lên; lv do chủ
yếu là họ thấy không cần thiết phải khám thai (35,7%), tiếp đến là không biết
phải đi khám thai (29,5%). Da số phụ nừ lựa chọn trạm y tế và cơ sở y té tư
nhân là nơi khám thai (46,8% và 24,5% theo thứ tự). Tỳ lệ phụ nữ biết các
dấu hiệu nguy hiểm đối với bà mẹ và thai nhi trong kỳ thai nghén rất thấp, chỉ
ờ mức dưới 50%. Tỷ lệ phụ nữ đã tiêm phòng đủ mũi, uống viên sắt chiếm
khá cao (85,9% và 73,9% theo thứ tự). Tỷ lệ phụ nừ được tư vấn về xét
nghiệm HIV tự nguyện hay đă đi xét nghiệm HIV tự nguyện còn thấp (26,4%
và 13,9%) [2020].
Kết quả phỏng vấn 978 phụ nữ có chồng tại hai tỉnh Thừa Thiên Huế
và Vĩnh Long cho thấy, 89,0% phụ nữ cho rằng trong lần mang thai gần dây
hạn chế. Đa số phụ nữ được phỏng vấn mới nêu được hai dấu hiệu nguy hiềm
trong thời gian mang thai là “đau bụng” (56,6%) và “chảy máu“ (59,3%)
[4444].
Ket quà Điều tra ban đầu Dự án hồ trợ y tế vùng duyên hải Nam Trung
bộ cho thấy, có 81,6% số phụ nừ đang nuôi con bé nhất năm 2009 được
phỏng vấn đă đi khám thai từ 3 lần trở lên; 90,8% được tiêm phòng đày đù
trong lần mang thai gần dây nhất. Phần lớn phụ nữ được phỏng vấn trong
nghiên cứu cho biết họ đã đốn cơ sở y tế nhà nước đế đẻ trong lần sinh con
vừa rồi. Nhiều nhất là bệnh viện (BV) huyện (40,2%), tiếp đến là TYT xã
(23%), BV tỉnh (22,7%) [99].
Nghiên cứu tại 4 tỉnh Điện Biên, Hòa Bình, Thanh Hóa và An Giang
năm 2011 cho kết quả như sau: 91,9% phụ nữ đang nuôi con dưới 3 tuồi được