Vai trò của các nhà quản lý trong việc nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ môi
trường thông qua phát triển du lịch sinh thái ở VN - nghiên cứu trường hợp ở Cần
Giờ, TP.HCM
Chương 2: Du lch sinh thi v thực trạng tình hình ô nhiễm môi trường tại
cc điểm du lch sinh thi của Việt Nam hiện nay 16
Page 1
Vai trò của các nhà quản lý trong việc nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ
môi trường thông qua phát triển du lịch sinh thái ở VN - nghiên cứu trường hợp ở
Cần Giờ, TP.HCM
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề ti
Như chúng ta đã biết việc bảo vệ môi trường tại bất cứ lĩnh vực nào đều là
hoạt động tích cực và có lợi. Tuy nhiên chỉ xét riêng trên khía cạnh du lịch, việc
bảo vệ môi trường mang lại nhiều lợi ích:
- Lợi ích cho toàn xã hội.
- Lợi ích cho khách du lịch.
- Lợi ích cho dân cư và chính quyền sở tại.
- Lợi ích cho các nhà cung ứng.
- Lợi ích trong việc giữ gìn các tài nguyên du lịch và giữ gìn các di sản văn
hoá cho các thế hệ sau.
Vậy để phát triển du lịch một cách bền vững đem lại nhiều lợi ích cho tất cả
các bên liên quan thì điều đầu tiên cần nhắc đến đó chính là ý thức của cộng
đồng về bảo vệ môi trường. Hơn nữa, DLST đang là một loại hình du lịch có
nhiều điểm tương đồng với du lịch bền vững, nó có những điều kiện mạnh để
phát triển tại Việt Nam và thông qua DLST cộng đồng sẽ nhận thấy rõ ràng vai
trò của chính mình trong việc bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, thì hiện nay đang
còn tồn tại quá nhiều những hạn chế trong cách nhận thức cũng như chính sách
quản lý về DLST.
Chính vì thế, bài viết muốn nhấn mạnh đến vai trò của những người quản lý nhà
nước trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng về môi trường thông qua loại
hình DLST.
niệm môi trường: “Môi trường là tổng hợp - ở một thời điểm nhất định - các
trạng thái vật lý, hoá học, sinh học và các yếu tố xã hội có khả năng gây ra một
tác động trực tiếp hay gián tiếp, tức thời hay theo kỳ hạn, đối với các sinh vật
hay đối với các hoạt động của con người”.
Trong Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường đối với con người
được hiểu là “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo
ra, những cái hữu hình (tập quán, niềm tin ) trong đó con người sống và lao
động, khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những
Page 3
Vai trò của các nhà quản lý trong việc nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ
môi trường thông qua phát triển du lịch sinh thái ở VN - nghiên cứu trường hợp ở
Cần Giờ, TP.HCM
nhu cầu của mình". Như vậy, môi trường sống đối với con người không chỉ là
nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật và con người mà
còn là “khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự vui chơi giải trí của con
người”.
R.G. Sharme (1988) đã đưa ra một định nghĩa rất ngắn gọn: “Môi trường là
tất cả những gì bao quanh con người”.
Joe Whiteney (1993) cho rằng: “Môi trường là tất cả những gì ngoài cơ thể,
có liên quan mật thiết và có ảnh hưởng đến sự tồn tại của con người như: đất,
nước, không khí, ánh sáng mặt trời, rừng, biển, tầng ôzon, sự đa dạng sinh học
về các loài”. (Nguyễn Thế Chinh và nnk, 2003).
Theo Lê Văn Khoa (1995): Đối với cơ thể sống thì “Môi trường sống” là
tổng hợp những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển
của cơ thể.
Môi trường bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tố
vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sống, phát triển
và sinh sản của sinh vật (Hoàng Đức Nhuận, 2000).
Để thống nhất về mặt nhận thức, chúng ta sử dụng định nghĩa trong Luật
Bảo vệ Môi trường đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá IX, kỳ
giá trị của chúng là tài nguyên du lịch, điều này đặc biệt quan trọng ở các nước
đang phát triển. Tuy vậy, trong đa số trường hợp, tác động tiêu cực của du lịch
đối với môi trường thường vượt quá tác động tích cực. Để thấy rõ được điều này
phải dựa vào kết quả tổng hợp liên quan đến các tác động về mặt môi trường,
kinh tế và xã hội của ngành du lịch.
- Môi trường vừa là nơi diễn ra các hoạt động du lịch, đồng thời vừa là đối
tượng tham quan du lịch.
- Trong nhóm tự nhiên và tổ hợp tự nhiên thì giữa hai khái niệm tài nguyên
du lịch và cấu trúc môi trường có độ tương đồng lớn. Trong nhóm nhân văn -
Page 5
Vai trò của các nhà quản lý trong việc nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ
môi trường thông qua phát triển du lịch sinh thái ở VN - nghiên cứu trường hợp ở
Cần Giờ, TP.HCM
dân tộc, tài nguyên du lịch là sản phẩm của sự tác động của con người vào môi
trường làm cho môi trường biến đổi theo chiều hướng tích cực hơn như “Danh
lam thắng cảnh”
Như vậy, việc đi du lịch trong các môi trường đồng nghĩa với việc khai thác
và thưởng ngoạn tài nguyên du lịch. Mối quan hệ giữa cấu trúc môi trường với
tài nguyên, đối tượng của du lịch đã được đề cập ở trên có thể khái quát lại như
sau:
- Con người: như là một hợp phần của cấu trúc môi trường, là lực lượng tổ
chức, quản lý, là lực lượng lao động và với nền văn minh, văn hoá cộng đồng
tham gia vào hoạt động du lịch.
- Tài nguyên du lịch: như là một nhân tố, đối tượng, chất liệu và là công cụ
tạo ra sản phẩm du lịch.
- Không gian môi trường: là điều kiện để tổ chức các hoạt động du lịch và
cũng là sản phẩm của chính sự hoạt động du lịch đó.
- Kinh tế du lịch như là một công cụ hạch toán đối với vòng quay vật chất -
năng lượng - tiền tệ của không gian các đối tượng vừa nêu trên.
3.3 Phân loại môi trường du lịch
2.1 Khái niệm DLST
Du lịch sinh thái chỉ mới xuất hiện từ những cuối những năm của thập kỷ 80
và trở thành một loại hình du lịch được ưa chuộng và phát triển nhanh trên
phạm vi toàn thế giới những năm cuối của thế kỉ 20.
Du lịch sinh thái được định nghĩa như một dạng du lịch dựa vào thiên nhiên
đồng thời được định dạng và nghiên cứu như một công cụ phát triển bền vững
do các tổ chức phi chính phủ, các viện nghiên cứu và chuyên gia nghiên cứu
phát triển từ những năm 1990. Vì vậy, thuật ngữ du dịch sinh thái một mặt đề
Page 7
Vai trò của các nhà quản lý trong việc nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ
môi trường thông qua phát triển du lịch sinh thái ở VN - nghiên cứu trường hợp ở
Cần Giờ, TP.HCM
cập đến một khái niệm theo một tập hợp các nguyên tắc, mặt khác nó được tiếp
cận như một phân khúc thị trường riêng biệt.
Công ty du lịch quốc tế (the intrnational ecotourism society- TIES), có trụ
sở đặt tại Washington, (trước đây được biết đến với cái tên công ty du lịch sinh
thái) đã đưa ra một định nghĩa sớm nhất vào năm 1991: “Du lịch sinh thái là
một loại hình du lịch có trách nhiệm đối với các vùng tự nhiên là nơi bảo tồn
môi trường và duy trì phúc lợi cho người dân địa phương”.
Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế - IUCN (hiện nay được gọi là Liên
minh bảo tồn thế giới) đã tuyên bố một định nghĩa về du lịch vào năm 1996 như
sau:“Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường,
không gây xáo trộn đối với các vùng tự nhiên nhằm mục đích thưởng thức và
đánh giá thiên nhiên (và bất kì đặc điểm văn hoá kèm theo nào - ở cả quá khứ
và hiện tại) để thúc đẩy các hoạt động bảo tồn, hạn chế các tác động tiêu cực
của khách tham quan và mang lại các lợi ích kinh tế xã hội cho cư dân địa
phương”.
Theo tổ chức du lịch thế giới WTO: “ Du lịch sinh thái là loại hình du lịch
được thực hiện tại những khu vực tự nhiên còn ít bị can thiệp bởi con người, với
mục đích chính là để chiêm ngưỡng, học hỏi về các loại động thực vật cư ngụ
DLST đóng góp tài chính cho chính quyền sở tại bằng các khoản thuế và lệ phí;
dân cư địa phương tránh khai thác quá mức, lạm dụng để ảnh hưởng xấu tới các
loài động vật, thực vật
-Thứ 3:DLST phải bao gồm các hoạt động mang tính giáo dục và giảng
giải : bằng phương pháp hướng dẫn, thuyết minh trực tiếp từ Hướng dẫn viên
tới khách Du lịch, qua tời giới thiệu về thông tin địa điểm du lịch, qua phương
tiện nghe nhìn
-Thứ 4: DLST phải mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư bản địa: bằng
việc sử dụng người dân bản địa làm hướng dẫn viên DLST tại những khu sinh
thái; khuyến khích người dân gìn giữ những nghề truyền thống của mình như
dệt thổ cẩm, trồng thảo quả, làm đồ thủ công mĩ nghệ…; gìn giữ các lễ hội,
phong tục tập quán; giúp người dân bản địa chủ động tham gia kinh tế bằng việc
Page 9
Vai trò của các nhà quản lý trong việc nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ
môi trường thông qua phát triển du lịch sinh thái ở VN - nghiên cứu trường hợp ở
Cần Giờ, TP.HCM
cung ứng dịch vụ lưu trú (homestay) trong hành trình của khách; khai thác tối
đa sản phẩm, nguyên liệu để tạo ra hàng hóa phục vụ du khách…
2.2.2. Đặc điểm của một điểm đến du lịch sinh thái tốt
Bảo tồn tính năng tự nhiên trong khu cảnh quan.
Giảm thiểu mật độ phát triển, những khu vực tự nhiên phong phú và việc
xây dựng cảnh quan không chiếm ưu thế.
Dấu hiệu của DL không gây hại đến hệ thống tự nhiên là đường thủy, khu
vực ven biển, vùng đất ngập nước và khu vực có động vật hoang dã.
Phát triển mạnh các doanh nghiệp cộng đồng nhỏ, bao gồm thực phẩm
hay các loại hình kinh doanh mặt hàng thủ công do dân cư địa phương sở hữu.
Nhiều khu vui chơi giải trí ngoài trời đc thiết kế phải bảo vệ nguồn tài
nguyên, bao gồm đường đi xe đạp, đường mòn hay boardwalks phải đc chia sẻ
đều cho dân cư và khách thăm quan.
Phát triển mạnh các khu cư trú, khách sạn, nhà hàng hay doanh nghiệp có
lịch có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về môi
trường và nâng cao nhận thức của khách du lịch thông qua điều chỉnh hành
động của họ tác động đến môi trường
2.2.4. Điều kiện về hướng dẫn viên DLST
Như đã biết, DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm, hướng tới phát triển
du lịch bền vững. Chính vì vậy, để làm tốt loại hình du lịch này, cần thực hiện
đồng bộ không chỉ từ phía các nhà quản lý, chính quyền mà còn cần cả từ phía
hướng dẫn viên - những người tiếp xúc trực tiếp với khách du lịch. Vậy hướng
dẫn viên DLST khác với HDV bình thường ở chỗ nào? Ngoài những kĩ năng xử
lý tình huống, cũng như kỹ năng tốt về nghiệp vụ, bản thân HDV cho DLST còn
cần có những điểm khác biệt sau:
- Phải am hiểu về vùng, điểm du lịch sinh thái tại nơi làm việc.
- Biết cách hướng dẫn, thu hút khách du lịch tham gia việc bảo vệ môi
trường, không gây tổn hại đến tự nhiên: không vứt rác bừa bãi…
- Nếu có thể cần hiểu biết về ngôn ngữ người địa phương.
- Khuyến khích khách du lịch hạn chế sử dụng phương tiện giao thông gây
ô nhiễm môi trường: xe máy, oto…vận động họ đi bộ nhiều hơn.
- Cần thân thiện với khách du lịch, tạo cơ hội cho việc giao lưu giữa khách
và người dân địa phương.
Page 11
Vai trò của các nhà quản lý trong việc nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ
môi trường thông qua phát triển du lịch sinh thái ở VN - nghiên cứu trường hợp ở
Cần Giờ, TP.HCM
2.2.5. Điều kiện về khch đi DLST
Khách du lịch sinh thái là người tiêu dùng du lịch với mục đích chính là
tham quan nghiên cứu tài nguyên du lịch, có ý thức và trách nhiệm về bảo tồn
và phát triển thiên nhiên, có trách nhiệm đối với cộng đồng dân cư bản địa.
Hành vi tiêu dùng của của khách DLST có thể khái quát là không giết gì ngoài
thời gian, không lấy gì ngoài những bức ảnh, không để lại gì ngoài những dấu
chân.
đã biết phát huy những thế mạnh tự nhiên, văn hóa của mình để đẩy mạnh phát
triển kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Quản lý nhà nước về du lịch đã từng
bước khẳng định tầm quan trọng của mình trong sự phát triển một nền du lịch
cộng đồng thực sự bền vững. Điều đó được thể hiện trong vai trò, nhiệm vụ
quản lý của các cấp ngành quản lý du lịch tại địa phương như sau:
- Định hướng phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững, từng
bước giúp bà con nhân dân địa phương xóa đói giảm nghèo, nâng cao nhận thức
và mức sống hàng ngày.
- Lập kế hoạch phát triển du lịch sinh thái dựa trên những định hướng
phát triển du lịch chung của toàn ngành.
- Quản lý các hoạt động kinh doanh du lịch, dịch vụ trên địa bàn có
các điểm đến du lịch cộng đồng nhằm tạo ra cơ chế khuyến khích nhân dân địa
phương tham gia tích cực vào các hoạt động phát triển du lịch tại điểm đến, đảm
bảo chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch một cách lành mạnh, tạo cơ sở phát triển
bền vững về mặt kinh tế – xã hội, tài nguyên môi trường tự nhiên và bản sắc văn
hóa truyền thống các dân tộc của các địa phương. Bên cạnh đó, còn nêu cao tính
xã hội của cộng đồng và sự đóng góp của các đơn vị kinh doanh du lịch dịch vụ
trong tiến trình phát triển một nền du lịch bền vững.
Page 13
Vai trò của các nhà quản lý trong việc nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ
môi trường thông qua phát triển du lịch sinh thái ở VN - nghiên cứu trường hợp ở
Cần Giờ, TP.HCM
- Tham gia vào việc phân phối và sử dụng tài nguyên một cách hợp lý,
đưa ra các quy định về việc duy trì, bảo tồn tài nguyên du lịch.
- Bảo vệ lợi ích của chính mình.
- Điều hoà mối quan hệ giữa du lịch và các ngành liên quan.
Với những vai trò trên đây có thể tóm tắt lại những nội dung của quản lý
nhà nước về du lịch sinh thái như sau:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và
1. Lợi thế của Việt Nam về pht triển du lch sinh thi
Tại Việt Nam, du lịch sinh thái là một loại hình du lịch khá mới mẻ, tuy
chưa có nhiều thành tựu cũng như kinh nghiệm trong việc phát triển du lịch sinh
thái nhưng Việt Nam có một tiềm năng du lịch sinh thái vô cùng to lớn. Với
những ưu thế của thiên nhiên nhiệt đới ẩm, địa hình, cảnh quan đa dạng với
nhiều hệ sinh thái điển hình khác nhau từ vùng núi cao nguyên đến vùng đồng
bằng ven biển và hải đảo, đường bờ biển dài, rừng núi hoang sơ với nhiều khu
bảo tồn, vườn quốc gia và nhiều rừng cấm, đó là những di sản thiên nhiên của
quốc gia, chứa đầy tiềm năng cho phát triển du lịch sinh thái. Trên những khu
vực cảnh quan này là địa bàn cư trú của hàng chục các dân tộc thiểu số trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam với những phong tục tập quán, nền văn hóa
dân gian đặc sắc, là nền tảng cơ sở cho phát triển du lịch sinh thái.
Tài nguyên tự nhiên giàu có
Về các tiềm năng tự nhiên cho phát triển du lịch sinh thái, thể hiện rõ nhất
là Việt Nam có sự đa dạng sinh học khá cao, cũng như nhiều hệ sinh thái đặc
trưng, với một lượng lớn các vườn quốc gia và khu bảo tồn. Với vị trí nằm ở
vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, lãnh thổ Việt Nam trải dài trên 15 độ vĩ
tuyến với 3/4 là địa hình đồi núi và cao nguyên, có hơn 3200 km đường bờ biển,
hàng ngàn hòn đảo, địa hình đa dạng với nhiều loại hình địa chất địa mạo và khí
hậu phân hóa. Đây là cơ sở chính hình thành nên sự đa dạng sinh học đầy tiềm
năng cho phát triển du lịch sinh thái.
Theo đánh giá của quốc tế, Việt Nam đứng thứ 16 về sự phong phú đa
dạng sinh học, là đại diện cho khu vực Đông Nam Á về sự độc đáo và giàu có
Page 16
Vai trò của các nhà quản lý trong việc nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ
môi trường thông qua phát triển du lịch sinh thái ở VN - nghiên cứu trường hợp ở
Cần Giờ, TP.HCM
về thành phần loài. Việt Nam là cả hai "cái nôi" của các loài bản địa và một khu
vực chuyển tiếp của sinh vật từ các sinh vật phía Bắc (Himalaya phía nam
Trung Quốc), phía Nam (Malaysia, Indonesia) và phía tây (Ấn Độ-Myanmar).
tâm Nam Trung Hoa, 70% cây trồng thuộc trung tâm Ấn, Miến. Đây là tiền đề
cho tổ chức du lịch sinh thái canh nông.
Các hệ sinh thái: Việt Nam có một số hệ sinh thái đặc trưng như hệ sinh
thái san hô, hệ sinh thái đất ngập nước; hệ sinh thái vùng cát ven biển và hệ sinh
thái rừng nhiệt đới…
Hệ sinh thái ven biển: với 3.260 km bờ biển, Việt Nam xuất hiện một loạt
các hệ sinh thái ven biển. Số lượng các loài cỏ biển ở Việt Nam đứng thứ hai
chỉ sau Philippin trong ASEAN. Thảm cỏ biển đang ngày càng phong phú từ
Bắc vào Nam và có đến 125 loài sinh vật đáy và 158 loài rong biển. Đặc biệt
loài Bò biển (Dugong - bò biển hoặc lợn biển), một loài động vật có nguy cơ
tuyệt chủng có thể được tìm thấy trong thảm cỏ biển Côn Đảo của Việt Nam.
Hệ sinh thái rạn san hô của Việt Nam khá giàu về thành phần loài, tương
đương với các khu vực giàu san hô khác ở Tây Thái Bình Dương, trong đó ở
khu vực ven bờ phía Bắc có 95 loài thuộc 35 chi, ở khu vực ven bờ phía Nam có
255 loài của 69 chi. Trong các rạn san hô quần tụ nhiều loài sinh vật khác nhau,
nhiều loài có màu sặc sỡ và có giá trị kinh tế cao. Chúng bao gồm 180 loài thực
vật phù du, 97 loài động vật phù du, 70 loài rong biển, 208 loài động vật thân
mềm, 76 loài giáp xác, và 157 loài cá. Đây là tiềm năng hấp dẫn để phát triển
ecotourism, với khu du lịch được thành lập tại đảo Cát Bà, Cô Tô, Bạch Long
Vĩ, Cồn Cỏ, Hòn Sơn Trà - Hải Vân, Côn Đảo, Phú Quốc, và hải đảo trên địa
bàn tỉnh Khánh Hòa Các thợ lặn có thể quan sát các rạn san hô đầy màu sắc
với một loạt các hệ động thực vật. Mẫu rạn san hô được khai thác quà lưu niệm
du lịch tại các tỉnh Quảng Ninh, Nha Trang, Côn Đảo.
Về hệ sinh thái đất ngập nước: Hệ sinh thái đất ngập nước ở các vùng có
những đặc thù riêng, trong đó nổi bật là các hệ sinh thái ngập mặn ven biển trải
dài dọc bờ biển từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Mũi Nai (Kiên Giang). Cơ quan
Môi trường Quốc gia của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (2000) đưa
Page 18
Vai trò của các nhà quản lý trong việc nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ
môi trường thông qua phát triển du lịch sinh thái ở VN - nghiên cứu trường hợp ở
Vai trò của các nhà quản lý trong việc nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ
môi trường thông qua phát triển du lịch sinh thái ở VN - nghiên cứu trường hợp ở
Cần Giờ, TP.HCM
chú ý nhất, 26% cá thể một loại chim mặt đen của thế giới có thể tìm thấy tại
đây.
Hệ sinh thái cát ven biển: Tổng diện tích của bãi biển cát tại Việt Nam là
170 km2, tập trung chủ yếu ở ven biển miền Trung (30% tổng diện tích). Các
nhóm hệ sinh thái cát hình thành trên các loại cát khác nhau: hệ sinh thái vùng
cồn cát trắng vàng; hệ sinh thái vùng đất cát biển; hệ sinh thái vùng đất cát đỏ.
Đặc biệt lớn là khối cát đỏ ở Tây Bắc Phan Thiết với các cồn di động (do gió
tạo nên) vừa có sức hấp dẫn lớn với du khách, vừa có thể phục vụ sản xuất nông
nghiệp (trồng hoa màu, dưa hấu, đào lộn hột ). Các loài sinh vật biển thường
được tìm thấy là động vật thân mềm, động vật lưỡng cư, bò sát và chim. Đáng
chú ý nhất, hệ sinh thái này cung cấp một nơi sinh sản cho một số loài rùa có
nguy cơ tuyệt chủng. Trong số các bãi biển đẹp nhiều cát tại Việt Nam là đảo
Cát Bà, Trà Cổ, Bãi Cháy (Quảng Ninh), Đồ Sơn (Hải Phòng), Đồng Châu
(Thái Bình), Hải Thịnh (Nam Định), Sầm Sơn (tỉnh Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ
An), Thiên Cầm (Hà Tĩnh), Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), Ngũ Hành Sơn (Đà
Nẵng), Nha Trang (Khánh Hòa), Phan Thiết (Ninh Thuận), và Vũng Tàu.
Hệ sinh thái đá vôi: núi đá vôi phân phối chủ yếu từ phía bắc Quảng Bình.
Những ngọn núi rừng thường xanh có động vật, thực vật sống động và thực vật
hoang dã. Đây cũng là nơi để các nền văn hóa khác biệt đại diện của một số dân
tộc thiểu số Việt Nam. Du khách có thể đi lang thang trong núi đá vôi ở Cát Bà,
Ba Bể, vườn quốc gia Cúc Phương và Phong Nha - Kẻ Bàng…
Các hệ sinh thái rừng, vườn quốc gia, khu bảo tồn: với nét đặc trưng là hệ
thống các khu rừng đặc dụng là nơi lưu trữ các nguồn gen quý, các hệ sinh thái
rừng của nước ta phân bố ở khắp từ Nam ra Bắc, từ đất liền tới các hải đảo.
Tính đến năm 2004, cả nước đã có 107 khu rừng đặc dụng trong đó có 28 vườn
quốc gia, 43 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hóa - lịch sử - môi
trường với tổng diện tích là 2.092.466 ha. Theo Viện Nghiên cứu Phát triển Du
Hong Liên 1996 38.724 Lai Châu, Lo Cai
Đồng bằng
Bắc Bộ
Ct B 1986 15.200 Hải Phòng
Xuân Thủy 2003 7.100 Nam Đnh
Ba Vì 1991 6.986 H Nội
Cúc Phương 1966 20.000
Ninh Bình, Thanh Hóa, Hòa
Bình
Bắc Trung
Bộ
Bến En 1992 16.634 Thanh Hóa
Pù Mt 2001 91.113 Nghệ An
Vũ Quang 2002 55.029 H Tĩnh
Phong Nha-Kẻ
Bng
2001 200.000 Quảng Bình
Bạch Mã 1991 22.030 Thừa Thiên-Huế
Nam Phước Bình 2006 19.814 Ninh Thuận
Page 21
Vai trò của các nhà quản lý trong việc nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ
môi trường thông qua phát triển du lịch sinh thái ở VN - nghiên cứu trường hợp ở
Cần Giờ, TP.HCM
Trung Bộ Núi Chúa 2003 29.865 Ninh Thuận
Tây
Nguyên
Chư Mom Ray 2002 56.621 Kon Tum
Kon Ka Kinh 2002 41.780 Gia Lai
Yok Đôn 1991 115.545 Đăk Nông, Đăk Lăk
Chư Yang Sin 2002 58.947 Đăk Lăk
Page 22
Vai trò của các nhà quản lý trong việc nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ
môi trường thông qua phát triển du lịch sinh thái ở VN - nghiên cứu trường hợp ở
Cần Giờ, TP.HCM
ngoài. Kể từ năm 1987, việc thành lập các khu rừng đặc dụng tăng nhanh nhờ
sự quan tâm từ Trung ương đến cấp địa phương, sự hợp tác của các nhà khoa
học và các nhà nghiên cứu, và sự phối hợp và hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và
các tổ chức phi chính phủ. Đó là trong các khu rừng du lịch sinh thái nên tiếp
tục được phát triển cho cả hai tự nhiên và giá trị văn hóa.
Bảng danh sách các khu bảo tồn loài:
Vùng Tên khu bảo tồn
Diện tích
(ha)
Địa điểm
Trung du
v miền núi
phía Bắc
Khu bảo tồn loi vượn Cao vít Trùng
Khnh
2.261 Cao Bằng
Khu bảo tồn loi v sinh cảnh Nam
Xuân Lạc
1.788 Bắc Kạn
Khu bảo tồn loi v sinh cảnh voọc
mũi hếch Khau Ca
2.010 H Giang
Khu bảo tồn loi v sinh cảnh Chế
Tạo
20.293 Yên Bi
Bắc Trung
với sự có mặt của các loài sinh vật đặc hữu, cũng như căn cứ vào các điều kiện
về kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng , định hướng tổ chức không gian cho hoạt
động du lịch sinh thái ở Việt Nam theo định hướng chiến lược phát triển du lịch
đã được Chính Phủ phê duyệt được thể hiện qua bảng sau:
Khu
vực
Không gian địa
lý chủ yếu
Giá trị du lịch sinh thái điển hình Loại hình
du lịch
sinh thái
Vùng
núi và
ven
biển
Đông
Bắc
Gồm các tỉnh
Lạng Sơn, Cao
Bằng, Bắc Kạn,
Thái Nguyên,
Quảng Ninh,
Hải Phòng.
Hệ sinh thái trên núi đá vôi, hệ sinh
thái đất ngập nước, hệ sinh thái san
hô Tiêu biểu là khu bảo tồn thiên
nhiên Bắc Sơn, Hữu Liên - Lạng Sơn;
vườn quốc gia Ba Bể - Bắc Kạn; hồ
Núi Cốc - Thái Nguyên; vườn quốc
gia Bái Tử Long - Quảng Ninh; vườn
thái vùng
núi cao, du
lịch mạo
hiểm.
Page 24
Vai trò của các nhà quản lý trong việc nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ
môi trường thông qua phát triển du lịch sinh thái ở VN - nghiên cứu trường hợp ở
Cần Giờ, TP.HCM
Vùng
đồng
bằng
sông
Hồng
Hà Tây, Vĩnh
Phúc, Nam
Định, Thái Bình,
Ninh Bình.
4 vườn quốc gia là Ba Vì, Tam Đảo,
Xuân Thủy và Cúc Phương, lưu trữ đa
dạng sinh học cao.
Tham
quan
nghiên cứu
các hệ sinh
thái đặc
thù kết hợp
với thắng
cảnh và du
lịch văn
hóa.
lịch lặn
biển
Vùng
Nam
Trung
Bộ và
Tây
Nguyê
n
Phía Tây Tây
Nguyên, một
phần phía Bắc
Lâm Đồng
xuống đến
Khánh Hòa,
Ninh Thuận,
Bình Thuận.
Hệ sinh thái rừng khộp tiêu biểu ở
Yok Đon, hệ sinh thái đất ngập nước
ở Hồ Lắc, hệ sinh thái vùng núi cao ở
Ngọc Linh, Bidoup - Núi Bà, hệ sinh
thái san hô ở Nha Trang, hệ sinh thái
cát ở Mũi Né Đây là vùng tập trung
nhiều hệ sinh thái điển hình và cũng
là nơi được thế giới công nhận có tính
Tham
quan
nghiên cứu
các hệ sinh
thái, du