BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thanh Vũ
NGHIÊN CỨU TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN
DU LỊCH SINH THÁI Ở CÁC XÃ CÙ LAO
THUỘC TỈNH VĨNH LONG LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu, hình ảnh
thu thập và phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ công
trình nghiên cứu khoa học nào. Các số liệu và tài liệu tham khảo hoặc trích dẫn
trong luận văn tôi đều chú thích nguồn rõ ràng, chính xác.
Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày 20 tháng 06 năm 2009
Học viên thực hiện
Nguyễn Thanh Vũ
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮTB : Hướng Bắc.
B.H.Phước : Bình Hòa Phước.
DLST : Du lịch sinh thái.
ĐV : Động vật.
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long.
GAP : Good Agricultural Practices (Thực hành nông nghiệp tốt).
HST : Hệ sinh thái.
H/P : Họ phụ.
IBA : Indol butiric axit.
IUCN : International Union for Conservation of Nature (Tổ chức bảo tồn
thiên nhiên thế giới).
NAA : α- Napthyl axêtic axit.
NN : Nông Nghiệp
thức là thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO). Phát triển du lịch đã và
đang là một lợi thế to lớn và góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước, nhất là miền sông nước Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bởi
nhiều yếu tố: Cảnh quan rất đẹp, truyền thống văn hóa, ẩm thực phong phú…t
rong
đó có Vĩnh Long là vùng đất nằm ở trung tâm châu thổ ĐBSCL giữa sông Tiền -
sông Hậu với các cù lao An Bình, cù lao Dài, cù lao Mây…Trên các cù lao sông
rạch chằng chịt, quanh co, hàng năm được bồi đắp một lượng phù sa rất lớn, được
phủ xanh bởi nhiều loại cây ăn trái với chủng loại phong phú và hương vị đặc biệt.
Với những lợi thế về điều kiện tự nhiê
n, khí hậu ôn hòa và đất đai màu mỡ,
nên Vĩnh Long thích hợp với nhiều loại cây trồng đặc sản như: Nhãn, bưởi, cam
sành, chôm chôm, sầu riêng, măng cụt, xoài… và các loại thuỷ sản nước ngọt có giá
trị kinh tế cao như cá tai tượng, cá điêu hồng, tôm càng xanh, cá tra,…Các vườn cây
phát triển tươi tốt quanh năm, tạo sự hấp dẫn cho du khách bằng hình thức du lịch
sinh thái (DLST) miệt vườn, du lịch trang trại m
ang nét độc đáo của vùng sông
nước. Không chỉ có những vườn cây xanh mướt, đầy trái ngọt và hệ thống sông,
rạch nhiều tôm cá, các cù lao ở Vĩnh Long còn được biết đến với các di tích lịch sử
văn hóa, các đình làng, chùa chiền, các giá trị văn hoá khó “trộn lẫn” với bất kỳ đâu
về những truyền thuyết, những câu hò, điệu lý, những bài ca vọng cổ…chắc chắn sẽ
mang lại những điều lý thú và bổ ích đối với
du khách trong và ngoài nước khi đến
tham quan vùng đất “chín rồng” này.
Phát triển du lịch sinh thái vườn không chỉ góp phần giúp nông dân tăng thêm
nguồn thu nhập mà còn là giải pháp tốt nhất để nâng cao hiệu quả kinh tế vườn. Đây
cũng là động lực thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo
hướng bền vững, đặc biệt là phong trào cải tạo vườn tạp thay thế những vườn câ
y ăn
trái đặc sản, có giá trị kinh tế cao, đáp ứng tốt nhu cầu của du khách. Ngoài ra,
3. Phạm vi nghiên cứu
+ Khảo sát, đánh giá tài nguyên du lịch và thực trạng phát triển DLST ở các xã
cù lao. Đặc biệt, chú trọng nghiên cứu hệ sinh thái vườn cây ăn trái, có phân tích
hiệu quả ki
nh tế các mô hình vườn cây ăn trái, trong đó chú trọng hiệu quả kinh tế
vườn kết hợp dịch vụ du lịch sinh thái.
+ Do vị trí địa lý của các cù lao nằm trên hai dòng sông lớn của ĐBSCL là sông Hậu và sông Cổ Chiên một nhánh của sông Tiền, tạo nên thế tam giác trong
địa bàn của tỉnh Vĩnh Long có thể hình thành các tua DLST, đồng thời do thời gian
và kinh phí có hạn nên đề tài chỉ tập trung khảo sát, đánh giá tài nguyên du lịch,
thực trạng phát triển du lịch và nghiên cứu một số nét chính, cơ bản về hệ sinh thái
vườn cây ăn trái ở cù lao Dài (huyện Vũng Liêm), cù lao Mây (huyện Trà Ôn) và cù
lao An Bình (huyện Long Hồ) có liên quan đến phát triển loại hình du lịch sinh thái
miệt vườn đặc trưng của tỉnh Vĩnh Long.
4. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
+
Thời gian:
Việc tiến hành nghiên cứu để thực hiện đề tài từ tháng 11 năm 2008 đến
tháng 7 năm 2009.
+ Địa điểm nghiên cứu:
Địa điểm nghiên cứu gồm 08 xã thuộc 03 cù lao của Vĩnh Long, trong đó
cù lao An Bình có 4 xã An Bình, Hòa Ninh, Bình Hòa Phước (B.H.Phước), Đồng
Phú, cù lao Dài có 2 xã Thanh Bình, Quới Thiện và cù lao Mây có 2 xã Phú Thành,
Lục Sĩ Thành.
nhà.[75]
- Inskeep, 1991, nhấn mạnh vai trò của các hoạt động du lịch đối với môi
trường và kinh tế. Tác giả đề ra những mục đích phải đạt được để phát triển du lịch
bền vững: Tối ưu hóa các lợi ích kinh tế xã hội, bảo tồn môi trường và tài nguyên
thiên nhiên, văn hóa, xã hội và khai thác có hiệu quả các tài nguyên này, bảo vệ và
khai thác có hiệu quả các giá trị bản địa truyền thống.[73]
- Geoffey Wall, 1993, đã đề ra một số chỉ tiêu đánh giá cho sự phát triển du
lịch bền vững. Có thể xem là các tiêu chuẩn chung cho sự đánh giá thành công của
sự phát triển du lịch bền vững.[31]
- M.Mowforth và I.Munt, 1998, đề cập đến phát triển du lịch bền vững và đưa
ra một số nguyên tắc bền vững trong du lịch như: Bền vững sinh thái, bền vững văn
hóa, bền vững kinh tế, có sự tham gia của cộng đồng địa phương.[76] Các công trình nghiên cứu về vườn chủ yếu mô tả, chưa đi sâu phân tích cấu
trúc, chức năng, hiệu quả kinh tế của vườn cũng như tiềm năng của vườn cây ăn trái
trong hoạt động du lịch. Chưa có nghiên cứu đề cập kết hợp vườn với phát triển du
lịch sinh thái để tăng nguồn thu nhập cho người dân nông thôn.
1.2. Tài liệu trong nước
- Lâm Quang Huyên, 1985, đã nêu một số khía cạnh về kinh tế xã hội của
vườn nhà.[23]
- Lê Công Kiệt, 1987, khảo sát kiểu vườn nhà tiêu biểu vùng Bảy Núi, An
Giang. Tác giả giới thiệu tầm quan trọng, lợi ích của vườn nhà và công dụng của
một số loài cây.[31]
- Hoàng Hòe, 1987, mô tả các mô hình nông lâm kết hợp ở Việt Nam. Tác giả
đã điều tra, nhận xét đánh giá tổng quát về vườn, rừng. Tuy nhiên, công trình quan
tâm nhiều về rừng hơn vườn.[4]
- Nguyễn Đăng, 1990, đã cho biết kinh tế vườn gần đây phát t
liên quan đến vườn.[6]
- Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 2006, đã nêu lên khái niệm, cấu trúc, hệ sinh thái
vườn, tầm quan trọng và vai trò của vườn đối với đời sống c
on người.[9]
- Sở thương mại – du lịch Vĩnh Long, 1999, Với đề tài “xây dựng quần thể du
lịch sinh thái khu tam giác giai đoạn 1999 – 2010”, đã
khảo sát, đánh giá hiện trạng và
tiềm năng du lịch và nhân văn của Vĩnh Long và khu vực. Đề tài chưa chú trọng
nhiều đến hệ sinh thái vườn trên các cù lao, cũng như không đi sâu phân tích cấu
trúc, chức năng và hiệu quả kinh tế của mô hình vườn kết hợp với DLST.[36]
- Phạm Trung Lương, Đăng Duy Lợi, Vũ Tuấn Cảnh, Nguyễn Văn Bình,
Nguyễn Ngọc Khánh, 2000, đã nghiên cứu những vấn đề về tài nguyên và môi
trường du lịch Việt Nam, phát triển du lịch bền vững trong mối qua
n hệ tài nguyên
và môi trường.[27]
- Trần Văn Mậu, 2001, cung cấp những khái niệm cơ bản và nghiên cứu về văn
minh du lịch, nội dung và phương pháp tổ chức cung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ
cho du khách.[29]
- Phạm Trung Lương, Hoàng Hoa Quân, Nguyễn Ngọc Khánh, Nguyễn Văn
Lanh, Đỗ Quốc Thông, 2002, nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiển về phát
triển du lịch sinh thái, đã trình bày tiềm năng, hiện trạng cùng với một số giải phá
p
phát triển DLST ở Việt Nam, nhưng chú ý nhiều đến các vườn quốc gia, các hệ sinh
thái rừng nhiệt đới và ven biển.[28] - Thế Đạt, 2003, giới thiệu những vấn đề lý luận cơ bản nói chung và các loại
hình du lịch ở Việt Nam trong đó có đề cập đến đặc điểm, nhiệm vụ của DLST.[16]
- Lê Huy Bá, Thái Nguyên Lê, 2006, đã trình bày những vấn đề như: ô nhiễm
môi trường trong hoạt động du lịch sinh thái, tài nguyên cảnh quan, sử dụng hợp lý
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận chung
2.1.1. Những quan điểm cơ bản
* Khái niệm về du lịch sinh thái
Từ những năm 1990 – 1991 ở một số nước đã phát triển dần loại hình du lịch
sinh thái (Ecotourism) như ở các nước Úc, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Pháp,
Thụy Điển, Đan Mạch…Ở Việt Nam loại hình DLST này tuy có muộn hơn, từ
những năm 1995 – 1996 mới bắt đầu ở một số tỉnh, thành như: Thành phố Hồ Ch
í
Minh (TP.HCM), thành phố Huế, Thủ đô Hà Nội, Quảng Nam, Bà Rịa – Vũng
Tàu…Nhưng loại hình du lịch này luôn được chú ý, và trong kế hoạch từ năm 2001
đến năm 2010 nhiều nơi đã có quy hoạch mở rộng loại hình DLST này.[16]
“Du lịch sinh thái” là một khái niệm tương đối mới và rộng, cho đến nay vẫn
còn được hiểu khác nhau từ những góc độ khác nhau. Khái niệm tương đối hoàn
chỉnh về du lịch sinh thái lần đầu tiên được He
ctor Ceballos – Lascurain đưa ra năm
1987: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi,
với những mục đích đặc biệt: Nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới
hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”[28]
Năm 1991, Tổ chức Du lịch Sinh thái Quốc tế có khái niệm: “Du lịch sinh thái
là loại du lịch lữ hành có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên, bảo tồn được môi
trường và m
ang lại phúc lợi lâu dài cho người dân địa phương”[40]
Allen Koszowski năm 1993 đưa ra khái niệm: “DLST được phân biệt với các
loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi
trường và sinh thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề.
DLST tạo ra mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức
được giáo dục để bản thân du khách trở thành những người đi đầu trong công tác
bảo vệ môi trường. Phát triển DLST sẽ làm giảm th
iểu tác động của khách du lịch
đóng góp cho nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của
cộng đồng địa phương”.[13]
Theo Lê Huy Bá năm 2000 “Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch lấy các
hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch
yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ
sinh thái. Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền
và bảo vệ, phát triển môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”[13]
Mặc dù các khái niệm về du lịch sinh thái còn có những điểm chưa thống nhất
và sẽ còn được hoàn thiện dần trong quá trình phát triển của nhận thức, song những
đặc điểm cơ bản nhất của khái niệm về DLST được Tổ chức Du lịch Thế giới
(WTO) tóm tắt lại như sau:[28]
- Du lịch sinh thái bao gồm tất cả những hình thức du lịch dựa vào thiên
nhiên mà ở đó mục đích chính của du khách là tham quan tìm hiểu về tự nhiên cũng
như những giá trị văn hóa truyền thống ở các vùng thiên nhiên đó.
- Du lịch sinh thái phải bao gồm những hoạt động giáo dục và diễn giải
về môi trường.
- Du lịch sinh thái diễn ra ở mức độ nhỏ với số lượng hạn chế của du
khác
h và được điều hành bởi các công ty du lịch vừa và nhỏ.
- Du lịch sinh thái hạn chế đến mức thấp nhất các tác động đến môi
trường tự nhiên và văn hóa – xã hội.
- Du lịch sinh thái hổ trợ cho hoạt động bảo tồn thiên nhiên.
- Tập trung vào sự tham gia, quyền sở hữu, và các cơ hội kinh doanh của
địa phương, đặc biệt cho cư dâ
n ở nông thôn.
- Người hướng dẫn viên phải có kiến thức về tài nguyên thiên nhiên và
văn hóa bản địa:
Các chương trình hoạt động chủ yếu do các hướng dẫn viên có
kiến thức về tài nguyên thiên nhiên và văn hóa bản địa xây dựng để hoạt động,
người hướng dẫn viên đóng vai trò trung gian giữa thiên nhiên, cộng đồng dân cư
địa phương với du khách. Họ là những người phải chịu trách nhiệm giới thiệu các
đặc điểm về tự nhiên, văn hóa, lối sống và đồng thời giám sát các hoạt động của du
khách.
* Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái
- Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết của du khách về
môi trường, qua đó có các ý thức tham gia vào các công tác bảo tồn. Du khách khi
rời khỏi nơi mình đến tham quan phải có được sự hiểu biết cao hơn về các giá trị
của môi trường tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hóa bản địa.
Với những hiểu biết đó, thái độ cư xử của du khách sẽ thay đổi, tích cực th
am gia
vào các hoạt động bảo tồn và phát triển những giá trị về tự nhiên, sinh thái và văn
hóa khu vực. - Bảo vệ môi trường và duy trì HST. Mọi hoạt động DLST phải được quản lý
chặt chẽ để giảm thiểu các tác động đến môi trường, đồng thời một phần thu nhập từ
hoạt động du lịch sinh thái sẽ được đầu tư vào các hoạt động bảo vệ môi trường và
duy trì phát triển các hệ sinh thái. Đây được xem là một trong những nguyên tắc cơ
bản, quan trọng vì:
+ Việc bảo vệ môi trường và duy trì cá
c hệ sinh thái chính là mục tiêu
hoạt động của du lịch sinh thái.
+ Sự tồn tại của du lịch sinh thái gắn liền với môi trường tự nhiên và các
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa,
nên tài nguyên du lịch sinh thái (TNDLST) là một bộ phận quan trọng của tài
nguyên du lịch bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ s
inh thái cụ thể và
các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên
đó.Tuy nhiên, không phải mọi giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa đều được coi là
TNDLST mà chỉ có các thành phần và các tổng thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị
văn hóa bản địa gắn với một hệ sinh thái cụ thể được khai thác, sử dụng để tạo ra
các sản phẩm d
u lịch sinh thái, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch nói chung,
du lịch sinh thái nói riêng, mới được xem là tài nguyên du lịch sinh thái.[28]
Tài nguyên du lịch sinh thái rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, một số loại
tài nguyên du lịch sinh thái chủ yếu thường được nghiên cứu khai thác nhằm đáp
ứng nhu cầu của du khách du lịch sinh thái như:
- Các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, đặc biệt là nơi có tính đa dạng sinh
học cao với nhiều loài sinh vật đặc hữu, quý hiếm (các Vườn Quốc Gia, các khu bảo
tồn thiên nhiên…)
-
Các hệ sinh thái nông nghiệp(NN) như: Vườn cây ăn trái, trang trại,
làng hoa cây cảnh…
- Các giá trị văn hóa bản địa hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn
tại của hệ sinh thái tự nhiên như phương thức canh tác, các lễ hội, sinh hoạt truyền
thống gắn với các truyền thuyết…của cộng đồng dân cư địa phương.
* Những đặc điểm cơ bản của
tài nguyên du lịch sinh thái
- TNDLST phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc có sức
hấp dẫn lớn. Bản thân tự nhiên rất đa dạng và phong phú, có nhiều hệ sinh thái đặc
biệt, nơi sinh trưởng, tồn tại và phát triển của nhiều loài sinh vật đặc hữu, quý hiếm,
được xem là những TNDLST đặc sắc, có sức hấp dẫn lớn đối với du khách như hệ
sinh thái đất ngập nước ĐBSCL, HST rừng ngập mặn, hệ sinh thái
ha. Hội nghị đã đưa ra một Hiến chương về du lịch bền vững.
Năm 1997, trong báo cáo “Chương trình nghị sự 21 trong ngành công nghiệp du
lịch và lữ hành: Hướng đến sự phát triển bền vững về môi trường” WTO và WTTC
đã xác định du lịch bền vững là:“Sự phát triển du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu
của du khách và cộng đồng địa phương trong hiện tại trong khi vẫn duy trì và nâng
cao những cơ hội đó cho các thế hệ tương lai. Du lịch bền vững dựa trên sự quản l
ý tất cả các tài nguyên theo cách mà các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ được
thỏa mãn trong khi vẫn duy trì sự hợp nhất về văn hóa, sự đa dạng sinh học, các quá
trình sinh thái cơ bản và các HST. Các sản phẩm du lịch bền vững là những sản
phẩm được quản lý trong sự hài hòa với môi trường, cộng đồng và các nền văn hóa
địa phương để chúng có thể trở thành những phúc lợi lâu dài của sự phát triển du
lịch”.[40]
Như vậy về lâu dài, sự phát triển của du lịch phải gắn liền với việc bảo tồn các
giá trị môi trường, xã hội và sinh thái trong khi vẫn duy trì hoặc nâng cao hiệu quả
của các hoạt động du lịch. Vì vậy, các hệ thống quản lý phải chú ý đảm bảo giảm
thiểu tối đa n
hững tác động tiêu cực của phát triển du lịch đến với môi trường.
DLST với bản chất và mục tiêu hoạt động là đảm bảo cho việc bảo tồn và
m
ang lại lợi ích kinh tế, thông qua việc giúp đỡ cộng đồng dân cư địa phương quản
lý các tài nguyên của họ. Đây chính là điểm mấu chốt về bản chất để xem du lịch
sinh thái như một hoạt động bảo tồn giúp cho quá trình phát triển bền vững về tài
nguyên và môi trường. Khái niệm tài nguyên và môi trường ở đây không chỉ được
hiểu đơn t
huần về mặt tự nhiên mà còn mang tính văn hóa - xã hội. Các cộng đồng
địa phương có thể mang lại những điều hấp dẫn cho khách du lịch thông qua nền
văn hóa truyền thống và các di sản xã hội, qua sự tiếp xúc thân mật và cởi mở mà
Vận động, thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương. Điều này không
chỉ đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương, cho môi trường sinh thái mà còn tăng
cường khả năng đáp ứng các thị hiếu của du khách.
- Đảm bảo cho sự hợp tác lâu dài giữa các nhóm có quyền lợi và công chúng,
giữa công nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương.
- Đào tạo các cán bộ, nhâ
n viên phục vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch.
- Phải nghiên cứu, cung cấp cho du khách đầy đủ những thông tin và có trách
nhiệm nâng cao sự tôn trọng của du khách đến với môi trường tự nhiên, xã hội và
văn hóa khu du lịch, qua đó góp phần thỏa mãn các nhu cầu của du khách.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thu thập, xử lí thông tin
Thu thập những tài liệu có liên quan từ các nguồn tin cậy: Chủ hộ vườn nhà,
các điểm du
lịch sinh thái, liên hệ Ủy Ban Nhân Dân (UBND) các xã cù lao, phòng
Thống kê và phòng Tài nguyên môi trường các huyện Long Hồ, Vũng Liêm, Trà
Ôn. Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Vĩnh Long, Cần Thơ và Tiền Giang. Cục
Thống kê tỉnh Vĩnh Long, Thư viện Vĩnh Long, và các sở ban ngành có liên quan để xin số liệu tham khảo...Sắp xếp và xử lí tài liệu một cách có hệ thống, phân tích
từng nội dung đưa ra những kết luận đúng đắn nhất.
2.2.2. Phân tích, tổng hợp, so sánh
Thông tin, số liệu sau khi thu thập sẽ được so sánh, phân tích, tổng hợp cho
phù hợp với mục đích của từng phần. Phân tích hiệu quả kinh tế vườn và hiệu quả
dịch vụ du lịch sinh thái, đánh giá thực trạng và tiềm năng phát t
riển du lịch sinh
thái trên các xã cù lao. Tính hiệu quả kinh tế các mô hình vườn gồm:
. Tổng thu
. Tổng chi
3.1. Vị trí địa lý
* Tỉnh Vĩnh Long
Hình 3.
1: Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Long (nguồn: )
Vĩnh Long nằm ở trung tâm Đồng bằng s
ông Cửu Long, vị trí địa lí của tỉnh
nằm ở tọa độ: Từ 9
o
32’40” đến 10
o
39’48” Vĩ Bắc và từ 105
Miền Tây, đồng thời nằm giữa ba chân vạc Huyện lỵ: Mang Thít, Vũng Liêm và
Chợ Lách với khoảng cách tương ứng 6,5 km
(đường chim bay), cách thị trấn Vũng
Liêm khoảng 5 km từ xã Thanh Bình. Cù lao Dài có tiềm năng phát triển và cung
cấp hàng nông sản, đặc biệt, vườn cây ăn trái kết hợp với du lịch sinh thái.
Cù lao Dài nằm giữa sông Cổ Chiên và trên tuyến du lịch TP.HCM – ĐBSCL,
khả năng tiếp cận bằng đường thủy từ thành phố Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre,
TP.HCM… đều thuận tiện. Do đặc điểm về vị trí địa lý cù lao Dài ngoài điểm d
u
lịch quan trọng trên tuyến du lịch Vĩnh Long - Vũng Liêm, còn được xem là điểm
kết nối hai tuyến du lịch quan trọng dọc sông Tiền và dọc sông Hậu. * Cù Lao Mây
Cù lao Mây gồm hai xã Lục Sĩ Thành và Phú Thành thuộc huyện Trà Ôn với
tổng diện tích tự nhiên là 4.273,4 ha, có vị trí giáp giới như sau:
. Phía Bắc giáp xã Ngãi Tứ (Tam Bình) và xã Mỹ Hòa (Bình Minh)
. Phía Đông và Đông Bắc giáp xã Thiện Mỹ, Tích Thiện và thị trấn Trà Ôn
. Phía Nam giáp tỉnh Sóc Trăng
. Phía Tây và Tây Bắc giáp thành phố Cần Thơ (ranh giới sông Hậu)
Cù lao Mây, xét về mối quan hệ kinh tế vùng, cách thị xã Vĩnh Long khoảng
58 km (từ xã Phú Thành) về phía Đông Bắc và thành phố Cần Thơ khoảng 13 km
(từ xã P
hú Thành) về hướng Tây Bắc, đồng thời cách thị trấn Trà Ôn khoảng 3 km
về phía Nam (từ xã Lục Sĩ Thành) và 8 km (từ xã Phú Thành). Cù lao Mây nằm trên
tuyến sông huyết mạch của khu vực (sông Hậu) nối liền TP.HCM và các tỉnh miền
Tây, và giáp với sông Măng (sông Mang Thít) nối liền sông Cổ Chiên và sông Hậu
là tuyến giao thông thủy ngắn nhất từ các tỉnh miền Tây về TP.HCM. Đồng thời, do
tiếp giáp với thị trấn Trà Ôn nê
n có điều kiện thuận lợi về giao lưu thương mại dịch
tuyến giao thông thủy quan trọng của vùng là sông Cổ Chiên, có quốc lộ 57 đi qua
nối liền hai tỉnh Vĩnh Long và Bến tre thông qua phà Đình Khao nên rất thuận lợi
về mặt giao thông thủy bộ, một lợi thế hết sức quan trọng cho việc đầu tư phát triển
về kinh tế - xã hội và du lịch. Cũng giống như cù lao Dài, khách du lịch
có thể tiếp
cận cù lao An Bình bằng đường thủy từ TP.HCM, Bến Tre, Trà Vinh và thành phố
Cần Thơ là điểm thuận lợi để xây dựng các tua du lịch đi qua cù lao này.
Nhìn chung, các cù lao An Bình, cù lao Mây, và cù Lao Dài là những khu vực
tập trung khá nhiều tiềm năng cho phát triển du lịch sinh thái. Với vị trí địa lý nằm
ở nơi tiếp giáp các tỉnh lân cận, bao quanh tỉnh, các khu vực trên có lợi thế vừa phát
quy được thế mạnh của chính mình, vừa có điều kiện thuận lợi trong khai thác tiềm
năng của toàn tỉnh và của các vùng phụ cận.
3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.2.
1. Dân số, lao động và thu nhập
- Trên các cù lao nghiên cứu có 8 xã, 81 ấp, 19.811 hộ, trong đó mật độ bình
quân là 585 người/km
2
, năm 2007 tỉ lệ tăng dân số tự nhiên trên các xã cù lao trung
bình khoảng 0,94% giao động giữa các xã từ 0,85 – 1,00%. Số hộ, nhân khẩu, mật
độ dân số phân bố theo đơn vị hành chính các xã được ghi nhận trong bảng 3.1.