BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HỒ THỊ THU HIỀN
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH
SINH THÁI TỈNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành: ĐỊA LÝ HỌC
Mã số: 60 31 95 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. ĐỖ THỊ MINH ĐỨC
HUẾ, NĂM 2012
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi
trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả
cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong
bất kỳ một công trình nào khác.
Họ tên tác giả
Hồ Thị Thu Hiền
2
Lời Cảm Ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô
giáo – Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Thị Minh Đức,
người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài.
Xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô giáo
trong khoa Địa lý, Phòng Đào tạo Sau Đại
học trường Đại học sư phạm Huế, quý cán bộ
1.3.3. Góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông
thôn theo hướng tiến bộ 37
1.3.4. Góp phần bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 39
1.4.1. Tiền Giang 39
1.4.2. Quảng Bình 41
2.1.1 Vị trí địa lý 43
2.1.2 Địa hình 43
2.1.3 Khí hậu 44
2.1.4 Thủy văn 44
2.1.5. Động thực vật 45
2.2.1 Tăng trưởng kinh tế 46
2.2.2 Dân số và nguồn nhân lực 47
2.2.3 Hoạt động văn hóa xã hội 48
2.3.1. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch sinh thái tỉnh Đắk Lắk 48
4
2.3.2. Lao động trong du lịch sinh thái tỉnh Đắk Lắk 52
2.3.3. Hoạt động quảng bá du lịch 54
2.3.4. Công tác quản lý du lịch 54
2.4.1 Các giá trị văn hóa từ di sản thế giới không gian văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên 55
2.4.3 Voi- loài vật biểu tượng cho Đắk Lăk 57
2.4.4 Hệ thống thác, hồ 59
2.4.5 Hệ sinh thái rừng 63
3.1. SỐ LƯỢNG KHÁCH DU LỊCH SINH THÁI TRONG TỔNG SỐ KHÁCH DU LỊCH
71
3.1.1. Về lượt khách du lịch 71
3.1.2. Về cơ cấu nguồn khách 74
3.1.3. Về thời gian lưu trú của khách du lịch 74
3.2. DOANH THU TỪ DU LỊCH SINH THÁI 75
3.3. CÁC CÔNG TY HOẠT ĐỘNG DU LỊCH SINH THÁI 78
Trong giai đoạn 2000 - 2010 hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật được đầu tư nâng cấp
vừa phục vụ phát triển kinh tế xã hội, vừa phát triển du lịch được quan tâm với 16
dự án đầu tư, trong đó có 10 dự án đã hoàn thành và 6 dự án chuyển tiếp sang giai
đoạn 2010 - 2015. Các dự án này đã nhận được sự hỗ trợ của trung ương, tổng mức
vốn đầu tư được duyệt là 179.043 triệu đồng, trong đó ngân sách trung ương hỗ trợ
là 84.686 triệu đồng chiếm tỷ lệ 47,3%. Trong giai đoạn 2012 đến năm 2020, tỉnh Đắk
Lắk ưu tiên đầu tư cho các dự án DLST trọng điểm trong tỉnh như sau: 82
STT 84
Tên dự án (DA ) 84
Tổng vốn 84
1 84
DA khu DLST văn hóa Buôn Đôn 84
5,00 84
2 84
DA khu du lịch hồ Lăk 84
10,00 84
3 84
DA khu DLST vườn quốc gia Chư Yang Sin 84
10,00 84
4 84
DA điểm du lịch thác Thủy Tiên 84
1,00 84
5 84
DA điểm du lịch thác K rông kmar_làng nghề buôn Ja 84
5,00 84
6 84
DA mô hình du lịch cộng đồng sinh thái cà phê tại buôn Ako D hông 84
1,00 84
7 84
DA khu du lịch hồ Eakao 84
DA khu DLST hồ Ea Bông 84
1,00 84
18 84
DA khu DLST, văn hóa buôn Tring 84
2,00 84
19 84
DA khu DLST nghĩ dưỡng hồ Ea Chu Cáp 84
1,00 84
20 84
DA điểm du lịch thác bảy tầng 84
5,00 84
7
21 84
DA điểm du lịch hồ sen 84
1,00 84
Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Đắk Lắk 85
3.6. NHẬN XÉT CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH ĐẮK LẮK 85
3.7. PHÂN TÍCH DU LỊCH SINH THÁI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK THEO MÔ
HÌNH SWOT 86
3.7.1. Điểm mạnh 86
3.7.2. Điểm yếu 87
3.7.3. Thời cơ 87
3.7.4. Thách thức 88
Chương 4. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH
THÁI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 89
4.1. CƠ SỞ ĐỂ ĐƯA RA GIẢI PHÁP 89
4.1.1. Đánh giá chung về thực trạng phát triển du lịch sinh thái tỉnh Đắk Lắk 89
4.1.2. Định hướng phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 91
4.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
I. DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Trang
Bảng 2.1. Hiện trạng cơ sở lưu trú của Đắk Lắk 49
Bảng 2.2. Hiện trạng lao động du lịch Đắk Lắk 53
Bảng 3.1. Danh mục các dự án DLST ưu tiên đầu tư 81
Bảng 3.2. Hiện trạng khách du lịch nội địa đến Đắk Lắk 83
Bảng 3.3. Thời gian lưu trú của khách du lịch đến Đắk Lắk 85
Bảng 3.4. Hiện trạng doanh thu du lịch Đắk Lắk 87
II. DANH MỤC BẢN ĐỒ
Trang
Bản đồ 2.1. Bản đồ hành chính tỉnh Đắk Lắk 46
Bản đồ 2.2. Bản đồ du lịch tỉnh Đắk Lắk 57
Bản đồ 3.5 Các tuyến du lịch sinh thái chính
III. DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu kinh tế tỉnh Đắk Lắk năm 2006 – 2012 47
Biểu đồ 3.1. Biểu đồ lượt du khách quốc tế đến Đắk Lắk 82
Biểu đồ 3.2. Biểu đồ tăng trưởng doanh thu của du lịch Đắk Lắk 86
10
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Du lịch Việt Nam đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, ngành công nghiệp
xanh. Đặc biệt khi đời sống của con người ngày một nâng cao, người ta không còn
phải lo đến việc ăn no mặc đủ nữa mà đã hướng đến việc ăn ngon mặc đẹp. Đồng
thời nhu cầu hưởng thụ của họ ngày một cao hơn, dẫn đến việc đi du lịch có xu
hướng phát triển mạnh mẽ và ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều người. Sự
bùng nổ các khu đô thị trong những thập niên gần đây đã làm cho con người ngày
càng xa rời với thiên nhiên. Con người thường xuyên sống và làm việc trong môi
trường công nghiệp với cường độ và áp lực cao, vì vậy họ dễ mắc những chứng
bệnh như căng thẳng thần kinh, khủng hoảng tinh thần Ống khói nhà máy ngày
3. Thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu vấn đề DLST trên địa bàn tỉnh
Đắk Lắk trong thời gian từ năm 2006 đến năm 2012.
V. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
1. Trên thế giới
Các nhà Địa lý học bắt đầu quan tâm đến lĩnh vực du lịch từ những năm 30
(Mc Murray 1930; Jones 1935; Selke 1936) và đặc biệt là sau chiến tranh thế giới
thứ II. Nhiều nhà Địa lý học người Mỹ, Anh, Canađa đã tiến hành các nghiên cứu
về du lịch ở góc độ địa lý như Gilbert (1949), Wolfe (1951), Coppock (1977). Về
sau, khi du lịch ngày càng phát triển và những nghiên cứu của các nhà địa lý học về
du lịch cũng đã tăng lên rất nhiều, bởi khó có thể tìm thấy một khía cạnh của du lịch
mà không dính dáng đến địa lý và rất ít các ngành của địa lý mà không có ít nhiều
đóng góp cho việc nghiên cứu hiện tượng du lịch.
Du lịch đang là hiện tượng toàn cầu. Lợi nhuận khổng lồ thu được từ du lịch đã
khiến cho nhiều tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, môi trường bị ô nhiễm,
và nền kinh tế - xã hội của các lãnh thổ đón khách bị ảnh hưởng một cách tiêu cực. Một
chiến lược du lịch tôn trọng môi trường và quan tâm đến khả năng đáp ứng các nhu cầu
trong tương lai đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Hoạt động DLST được
quan tâm nghiên cứu từ những năm cuối của thập kỷ 1980, đã có nhiều tổ chức như:
IUWTO ( tổ chức du lịch thế giới), IUCN (tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới), WW
(quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên) đã giải quyết các vấn đề về lý luận DLST. Các tổ chức
trên đã khẳng định tầm quan trọng của DLST trong vấn đề giáo dục môi trường, bảo
tồn hệ sinh thái, ủng hộ cộng đồng địa phương Đây là những tài liệu hết sức quý giá
làm cơ sỏ để tiếp tục nghiên cứu các lĩnh vực của DLST.
12
Về du lịch bền vững, từ những năm 1990, nhiều nghiên cứu về phát triển du
lịch bền vững đã được tiến hành. Một số loại hình du lịch mới ra đời, nhấn mạnh
khía cạnh môi trường như DLST, du lịch gắn với thiên nhiên, du lịch thay thế hay
du lịch khám phá nhằm tuyên truyền, nâng cao ý thức của cộng đồng về hoạt động
du lịch có trách nhiệm, đảm bảo sự phát triển bền vững.
Năm 1992, trong Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất đã diễn ra Hội nghị về
nào đi sâu nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về phát triển DLST ở Đắk Lắk. Đề
tài “Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tỉnh Đắk Lắk” không
trùng lặp với bất cứ luận văn hoặc đề tài khoa học nào đã công bố.
VI. QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU
1. Quan điểm tổng hợp
Hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống mở, gồm các thành phần tự nhiên,
kinh tế, xã hội, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và chịu sự chi phối của nhiều quy
luật cơ bản. Nghiên cứu du lịch không thể tách rời hệ thống kinh tế - xã hội của địa
phương và cả nước.
Quan điểm hệ thống giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể, khái quát của toàn
bộ hệ thống du lịch trong khi vẫn bao quát được hoạt động của mỗi phân hệ trong
hệ thống đó. Du lịch Đắk Lắk cần được nghiên cứu trong mối quan hệ tương hỗ:
kinh tế - xã hội - môi trường không chỉ riêng Đắk Lắk mà của cả nước. Quan điểm
này được áp dụng trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
2. Quan điểm hệ thống
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có nhiều bộ phận hợp thành và bản thân
sự vật, hiện tượng đó cũng là một bộ phận của tổng thể lớn hơn.
Vì vậy khi nghiên cứu phát triển DLST tỉnh Đắk Lắk phải đặt trong tổng thể
phát triển du lịch chung của tỉnh Đắk Lắk và cả nước. Qua đó giúp quá trình nghiên
cứu có tính hệ thống, chặt chẽ, không tách rời trong tổng thể chung.
3. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng đều có quá trình phát sinh, vận động và biến đổi. Quá
trình ấy có thể bắt đầu từ trong quá khứ, hiện tại vẫn tiếp diễn và kéo dài đến tương
lai. Đứng trên quan điểm lịch sử, phân tích nguồn gốc phát sinh, đánh giá đúng đắn
hiện tại sẽ là cơ sở để đưa ra các dự báo xác thực về xu hướng phát triển trong thời
gian sắp tới. Quan điểm này được vận dụng trong khi phân tích các giai đoạn chủ
yếu của quá trình phát triển hệ thống du lịch và dự báo xu hướng phát triển của hệ
thống lãnh thổ.
14
4. Quan điểm lãnh thổ
4. Phương pháp bản đồ
Phương pháp bản đồ là phương pháp không thể thiếu trong nghiên cứu Địa
Lý. Từ bản đồ có thể rút ra những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên
cứu. Từ các thông tin, số liệu thu thập đã qua xử lý, tính toán để xây dựng bản đồ
đáp ứng yêu cầu đặt ra của đề tài.
VIII. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung của luận văn được bố cục
thành 4 chương:
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DU LỊCH SINH THÁI
Chương 2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DU LỊCH SINH THÁI
TỈNH ĐẮK LẮK
Chương 3. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK
Chương 4. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN
DU LỊCH SINH THÁI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK
16
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DU LỊCH SINH THÁI
1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA DU LỊCH SINH THÁI
1.1.1. Khái niệm về du lịch sinh thái
Ngày nay, DLST đã và đang trên đà trở mình và đã trở nên phổ biến đối với
những người yêu thiên nhiên, nó xuất phát từ các trăn trở về môi trường, kinh tế và
xã hội – một trong những cách thức để trả nợ cho môi trường tự nhiên và làm tăng
giá trị của các khu BTTN còn lại.
DLST (ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã nhanh chóng thu
hút được sự quan tâm của nhiều người hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Đây là một khái niệm rộng, được hiểu theo những cách khác nhau từ những góc độ
tiếp cận khác nhau. Đối với một số người, DLST chỉ đơn giản là sự ghép nối ý
nghĩa của hai khái niệm “du lịch” và “sinh thái” vốn đã quen thuộc từ lâu. Tuy
nhiên, đứng ở góc nhìn rộng hơn, tổng quát hơn thì một số ngời quan niệm rằng
của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và tài
nguyên thiên nhiên một cách bền vững” (Lê Huy Bá – 2000)
“DLST là sự tạo nên và thỏa mãn sự khao khát thiên nhiên, là sự khai thác
các tiềm năng du lịch cho bảo tồn và phát triển và là sự ngăn ngừa các tác động tiêu
cực lên sinh thái, văn hóa và thẩm mỹ”. “DLST là du lịch vào những khu tự nhiên
hầu như không bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu,
thưởng ngoạn, trân trọng khung cảnh và muông thú hoang dã và các biểu thị văn
hóa được khám phá trong các khu vực này”. (Cebllos – Lascurain, H, 1987)
“DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn
hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh
thái, Du lịch Sinh thái đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài
nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương”. (Hiệp hội
DLST Hoa kỳ, 1998)
“DLST là một hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên và định hướng về môi
trường tự nhiên và nhân văn, được quản lí một cách bền vững và có lợi cho sinh
thái” (Hiệp hội DLST Australia)
“DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn
với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững với
sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” (Định nghĩa về DLST ở Việt Nam)
18
Cho đến nay, khái niệm DLST vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác
nhau, với những tên gọi khác nhau. Mặc dù, những tranh luận vẫn còn đang diễn
tiến nhằm tìm ra một định nghĩa chung nhất về DLST, nhưng đa số ý kiến của các
chuyên gia hàng đầu về DLST đều cho rằng DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên
nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được nuôi dưỡng, quản lý theo hướng
bền vững về mặt sinh thái. Du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những diễn
giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được giá trị thiên
nhiên và văn hóa mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với các
hệ sinh thái và văn hóa bản địa. DLST nói theo một định nghĩa nào chăng nữa thì
nó phải hội đủ các yếu tố cần: (1) sự quan tâm tới thiên nhiên và môi trường; (2)
khác với DLST vì DLST đi tìm sự hoà hợp, cùng chung sống hài hoà giữa con người
với thiên nhiên (các hệ sinh thái có các loài động thực vật cùng cư ngụ trong đó).
1.1.2.3. Phân biệt DLST với các loại hình du lịch có chọn lựa (alternative
tourism):
Du lịch có chọn lựa là loại hình du lịch mới, được đưa ra nhằm thúc đẩy sự
trao đổi thông qua du lịch giữa các thành viên của các cộng đồng khác nhau. Nó tìm
kiếm sự hiểu biết, gắn kết và bình đẳng giữa các thành viên tham gia trong đó.
Đây là một tập hợp các loại hình du lịch được đưa ra để phân biệt du lịch đại trà
(Du lịch truyền thống). Du lịch đại trà đã dần bộc lộ các tác hại tiêu cực của nó tới văn
hoá, xã hội và môi trường ở nơi đến du lịch. Các loại hình du lịch lựa chọn ra đời một
mặt nhằm thoả mãn đúng hơn các mong muốn của người tiêu dùng du lịch trong bối
cảnh toàn cầu hoá. Với ý nghĩa này DLST thực chất là một trong những loại hình du
lịch lựa chọn.
1.1.3. Đặc điểm của du lịch sinh thái
Mặc dù chưa có một khái niệm thống nhất về DLST. Nhưng trong nội hàm
của các khái niệm đều hàm chứa bốn đặc điểm cơ bản và sự khác biệt của DLST
với các loại hình du lịch khác. DLST không đơn giản chỉ là đưa ra một loại sản
phẩm mới của ngành du lịch mà hơn thế nữa nó là động lực của sự phát triển, là một
nhân tố để phát triển bền vững. DLST có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
1.1.3.1. Thứ nhất, DLST được thực hiện tại những nơi hoang sơ hoặc tương đối
hoang sơ và có môi trường tự nhiên đa dạng phong phú
Bởi vì khách DLST khi thực hiện một chuyến đi họ mong muốn trở về với
những nơi có môi trường trong lành và chưa bị tác động nhiều bởi ở đó họ được hoà
mình với thiên nhiên để được khám phá, được nghiên cứu tự nhiên và văn hoá bản
20
địa và được thưởng thức bầu không khí trong lành, thoát khỏi cuộc sống đầy áp lực
của công việc và ô nhiễm môi trường.
Những nơi có môi trường tự nhiên là những nơi có bề dày về sự hình thành
và phát triển của các hệ động thực vật và con người. Một vài ha rừng thậm chí hàng
ngàn ha rừng tự trồng cho dù có mang ý nghĩa tích cực như “phủ xanh đất trống đồi
vệ môi trường, giữ gìn các hệ sinh thái khiến các nhà kinh doanh DLST phải chuẩn
bị kỹ lưỡng và đưa ra những yêu cầu cao hơn đối với những hướng dẫn viên và với
các khách du lịch mà mình phục vụ.
Du khách của loại hình DLST thường là những người yêu mến, thân thiện
với thiên nhiên, họ muốn đi du lịch là để được tìm hiểu và nghiên cứu những nơi họ
đến. Họ xác định nhu cầu du lịch của mình là tìm hiểu và thưởng ngoạn các hệ sinh
thái vì thế họ luôn cố gắng hạn chế việc xâm hại và phá huỷ những tài nguyên quý
hiếm cả về mặt hữu hình lẫn vô hình của môi trường. Ý thức đúng đắn khi đi du lịch
giúp du khách cân nhắc và suy nghĩ trước mỗi hành động có khả năng tác động tới
môi trường xung quanh. Do đó trong và sau mỗi chuyến đi họ thường có những
tổng hợp đánh giá của riêng mình. Những hoạt động nghiên cứu, khám phá, tổng
hợp của họ ít nhiều cũng có những đóng góp và giúp ích cho công tác bảo tồn các
đặc tính tự nhiên, văn hoá, xã hội nơi họ đến tham quan.
Những du khách, nhất là du khách nước ngoài khi đến tham quan vườn quốc gia
Cúc Phương họ có thể nghiên cứu về loài bướm, về voọc quần đùi trắng, về các loại
thực vật điển hình của vườn như: chò chỉ. Kim giao… hay du khách khi đi tham quan
các bản làng dân tộc (như bản Lác, Mai Châu - Hoà Bình; chợ Tình Sapa…) việc họ
đến tham quan những nơi này thực sự làm sống lại các làn điệu hát múa dân gian
truyền thống của dân tộc Mường, hay làm sống lại các ngành nghề truyền thống như
dệt thổ cẩm, nấu rượu cần…bản thân họ cũng tham gia vào việc sưu tầm tư liệu, nghiên
cứu thậm chí xuất bản những cuốn sách có giá trị về các nền văn hoá đặc trưng nơi họ
đến thăm, đưa ra những sáng kiến bảo tồn và phát huy những nền văn hóa đó.
Các tổ chức, cá nhân sau khi tham gia vào các tour DLST họ được tận mắt
chứng kiến cảnh quan môi trường, tài nguyên thiên nhiên nơi họ đến thăm và đặc
biệt được giáo dục, được hiểu biết thêm về môi trường và tầm quan trọng của hệ
sinh thái họ có thể đóng góp các nguồn lực tài chính, hỗ trợ về mặt kiến thức khoa
học, kinh nghiệm quản lý cho các rừng quốc gia, các khu dự trữ thiên nhiên phục vụ
cho DLST.
Cư dân địa phương có thu nhập từ việc tham gia vào hoạt động DLST từ đó sẽ
hạn chế việc khai thác tài nguyên mang tính tiêu cực như: săn bắn động vật quý hiếm,
dậy và đánh thức những tiềm năng sẵn có này để mang lại thu nhập đáng kể cho cư
dân địa phương bằng các hoạt động dịch vụ du lịch như: phục vụ lưu trú, ăn uống
bán hàng lưu niệm và các dịch vụ bổ trợ khác.
23
Khi du lịch đại trà phát triển các khách sạn, nhà nghỉ mọc lên ngày càng nhiều
với mục đích mang về nhiều lợi nhuận, những vật liệu xây dựng có mục đích chính
đảm bảo độ bền vững, kinh tế mà không chú trọng đến việc thân thiện với môi trường
và đảm bảo cho phát triển bền vững thì ngược lại DLST luôn quan tâm đến việc tôn
tạo cảnh quan thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững
chính những hoạt động này đảm bảo cho hệ thống rừng cây, hệ động thực vật được
bảo đảm, làm giảm thiểu sự tác động của thiên nhiên đến đời sống của người dân bản
địa như hạn chế được xói mòn, lũ quét và những thiên tai địch hoạ khác.
Những người làm DLST đã nhận ra vấn đề, thấy được chính những người dân
bản địa, họ sinh ra và tồn tại cùng với các hệ sinh thái và môi trường thiên nhiên xung
quanh từ bao đời lại có được kiến thức truyền thống văn hoá quý giá của cha ông họ
để lại về thiên nhiên và môi trường xung quanh, họ có văn hóa, phong tục tập quán
riêng của dân tộc mình. Nếu chỉ quan tâm đến thiên nhiên, bảo vệ và tôn tạo các giá
trị tài nguyên để phát triển du lịch mà không quan tâm đến lợi ích của người dân bản
địa thì sẽ không có được nền chính trị ổn định và kinh tế công bằng mà điều này lại
chính là những nhân tố và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển DL.
Một biện pháp mà DLST góp phần mang lại các lợi ích kinh tế, phát huy các
giá trị văn hóa và xã hội của những người dân bản địa là: sử dụng những người dân
bản địa làm các hướng dẫn viên du lịch tại những khu DLST. Khuyến khích người
dân gìn giữ và phát triển những nghề truyền thống của mình như dệt thổ cẩm, thêu
ren, làm hàng thủ công mỹ nghệ, trồng các loại cây đặc sản của địa phương… để
khách du lịch được chiêm ngưỡng, học hỏi và mua sắm các sản phẩm nơi họ đến
tham quan. Các lễ hội, phong tục tập quán cần được gìn giữ và phát huy vì đó là
những nét đặc trưng riêng của vùng sinh thái du lịch, là điểm nhấn để thu hút khách
tham quan. DLST giúp người dân bản địa chủ động làm kinh tế cùng với việc gìn giữ
bản sắc văn hóa của mình bằng việc cung ứng dịch vụ lưu trú trong hành trình của
một số loại hình DLST phát triển ở những vùng nông thôn (rural tourism ) hoặc các
trang trại (farm tourism) điển hình.
Yêu cầu thứ hai có liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của DLST ở 2 điểm:
- Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được sự hiểu biết cho khách DLST,
người hướng dẫn ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am hiểu các đặc
điểm sinh thái tự nhiên và văn hoá cộng đồng địa phương. Điều này rất quan trọng
và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động DLST, khác với những loại
hình du lịch tự nhiên khác khi du khách có thể tự mình tìm hiểu hoặc yêu cầu không
cao về sự hiểu biết này ở người hướng dẫn viên trong nhiều trường hợp, cần thiết
25