MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay du lịch đã thực sự trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến
không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển trong đó có Việt
Nam. Bắt nhịp cùng sự đổi mới đất nước hơn 20 năm qua ngành du lịch đã có nhiều
tiến bộ và đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Những chỉ tiêu về lượng khách,
thu nhập, tỷ trọng GDP và việc làm đã khẳng định vai trò của ngành Du lịch trong
nền kinh tế quốc dân.
Việt Nam là một nước nông nghiệp, diện tích đất đai, sông ngòi lớn nên loại
hình du lịch sinh thái đang được chú trọng phát triển với nhiều loại sản phẩm khác
nhau để tạo nên một sức hút mới cho ngành du lịch. Nước ta có nhiều khu bảo tồn
thiên nhiên, vườn quốc gia và đặc biệt nước ta có tới tám khu dự trữ sinh quyển thế
giới được UNESCO công nhận, nằm ở khắp các miền của tổ quốc.
Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm thuộc địa phận xã Tân Hiệp - thành
phố Hội An - Quảng Nam, là nơi vẫn còn lưu giữ nhiều nét hoang sơ của một vùng
biển đảo, với nhiều tiềm năng có thể đẩy mạnh phát triển du lịch. Quần đảo Cù Lao
Chàm gồm 8 hòn đảo lớn nhỏ: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô mẹ, Hòn Khô
con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông với tổng diện tích khoảng 15km
2
. Hiện nay thì tại
Cù Lao Chàm hai đối tượng được lựa chọn bảo vệ đặc biệt là các rạn san hô và loài
cua đá đặc hữu của vùng. Sự lựa chọn này rất có ý nghĩa bởi bảo vệ cua đá cũng
chính là bảo vệ hệ sinh thái rừng liền kề biển, bảo vệ san hô cũng là bảo vệ hệ sinh
thái đáy, nước biển và các nguồn lợi thuỷ hải sản khác.
Với đặc thù riêng của mình Cù Lao Chàm được định hướng khai thác du lịch song
song với việc bảo tồn thiên nhiên, phát triển du lịch bền vững để giữ gìn cảnh quan
thiên nhiên và nâng cao đời sống trên đảo.
Phát triển du lịch sinh thái bền vững gắn với bảo tồn thiên nhiên được xem là
hướng đi chính để Cù Lao Chàm vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn đa dạng sinh
học. Các hình thức du lịch được khai thác tại Cù Lao Chàm hiện nay chủ yếu là
ngắm san hô trên những con tàu đáy kính hoặc khám phá theo hình thức lặn biển,
bảo sự phát triển theo hướng bền vững.
2
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. ĐỊNH NGHĨA DU LỊCH
Ngày nay du lịch đang là một ngành kinh tế được sự quan tâm của nhiều
người, khái niệm du lịch theo nghĩa rộng là các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và
nhân văn trong đó du lịch tồn tại và phát triển, tuy nhiên cho đến nay nhiều quan
điểm và nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa được thống nhất do mỗi góc độ
nghiên cứu khác nhau mỗi người có mỗi cách hiểu khác nhau về du lịch, và hiện
nay có rất nhiều định nghĩa về du lịch, theo một số tổ chức quốc tế và các nhà
nghiên cứu từ các góc độ khác nhau đã đưa ra nhiều định nghĩa về du lịch.
Du lịch là những hoạt động của con người đi đến nơi khác ngoài nơi cư trú
thường xuyên của mình trong thời gian rảnh để vui chơi, giải trí, vì công việc hay vì
mục đích khác mà ngoài mục đích kiếm tiền ở nơi mà họ đến. [1]
Ngoài ra theo từ điển Bách khoa toàn thư của Việt Nam (1966) thì du lịch là
một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với
mục đích : nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình
văn hóa nghệ thuật.
Du lịch còn là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về mặt kinh
tế đồng thời còn nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa
dân tộc. [10]
Sự tồn tại và phát triển của du lịch với tư cách là một ngành kinh tế gắn liền
với khả năng khai thác tài nguyên, chính vì vậy mà hoạt động du lịch liên quan một
cách chặt chẽ với môi trường, du lịch không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho
những nơi có những điểm đến hấp dẫn mà còn mang lại cho người tham quan
những kiến thức bổ ích mà còn là nơi nghỉ ngơi, thư giản giúp con người thỏa mái
sau những ngày dài lao động mệt mỏi. Hoạt động du lịch ở một chừng mực nhất
định tạo nên một môi trường mới góp phần cải thiện môi trường, bên cạnh nếu việc
DLST đảm bảo cho nguồn tài nguyên của thế hệ mai sau không bị ảnh
hưởng, để thế hệ mai sau có thể thưởng thức nguyên vẹn, đầy đủ các giá trị văn hóa
mà không chịu nhiều ảnh hưởng của du khách hôm nay. [19]
1.2.3. Các yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái:
Yêu cầu của DLST là sự tôn trọng sự tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên và
cộng đồng địa phương như ít hoặc không gây ảnh hưởng tới nguồn tài nguyên; thu
hút được sự tham gia của các tổ chức, cá nhân, khách du lịch, các công ty du lịch,
các cơ quan chính phủ và tổ chức phi chính phủ cũng như cộng đồng địa phương;
tạo thu nhập lâu dài, bình đẳng cũng như ổn định cho cộng đồng địa phương cũng
như các bên tham gia vào hoạt động du lịch; tạo nguồn tài chính cho công tác bảo
tồn; tôn trọng văn hóa và truyền thống của địa phương; nâng cao hiểu biết và khả
4
năng thưởng thức cũng như sự tham gia vào công tác bảo tồn của khách du lịch.
[19]
1.2.4. Lợi ích của du lịch đối với công tác bảo tồn:
Du lịch là động lực quan trọng trong việc thiết lập, thúc đẩy và bảo vệ các
vườn quốc gia, các khu bảo tồn tự nhiên, đa dạng sinh học.
Khoản phí thu từ hoạt động du lịch là nguồn kinh tế dùng để duy trì và bảo
vệ đa dạng sinh học nhằm nâng cao chất lượng du lịch.
Tạo điều kiện cho du khách học tập và nâng cao hiểu biết của mình đối với
môi trường tự nhiên từ đó làm thay đổi thái độ của họ đối với môi trường và công
tác bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên. [5]
1.3. TỔNG QUAN VỀ CÙ LAO CHÀM
1.3.1. Lịch sử hình thành:
Từ xa xưa Cù Lao Chàm đã có những tên gọi khác nhau như: Sanfu-Fulaw,
Pulociam, Polochiam Pello, Chiêm Bất Lao, Tiêm Bích La,…
Quần đảo Cù Lao Chàm có một bề dày lịch sử khá phong phú và đa dạng,
qua các cuộc khảo cổ tại Bãi Làng và Bãi Ông đã phát hiện ra rất nhiều di tích
chứng tỏ đã trên đảo đã có con người sinh sống cách đây hơn 3000 năm và đã chế
tạo các công cụ lao động bằng đá rất tinh xảo như: rìu tứ giác ngắn, rìu có vai, lưỡi
44’
kinh độ Đông. Chỉ cách bờ biển Cửa Đại - Hội An 15km, Cù Lao Chàm là một
quần đảo với 8 hòn đảo lớn nhỏ: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Tai, Hòn Nồm,
Hòn Lá, Hòn Khô Mẹ và Hòn Khô Con (trong đó Hòn Lao là hòn đảo lớn nhất và
duy nhất có con người sinh sống) với tổng diện tích là 15,5km
2
, CLC thuộc phạm vi
hành chính xã Tân Hiệp - Tp Hội An - tỉnh Quảng Nam. Đây là khu vực tiêu biểu
của dải đất miền Trung có vị trí quan trọng về mặt quốc phòng cũng như nơi lánh
nạn của các tàu thuyền khi gặp gió bão.
6
1.3.3. Điều kiện tự nhiên:
Hình 1.2. Âu thuyền Hình 1.3. Cầu cảng
(Photo: Quyên)
1.3.3.1. Địa hình, địa chất, địa mạo:
Quần đảo Cù Lao Chàm chủ yếu là vùng đồi núi thấp có dạng hình chóp cụt.
Hòn Lao là dãi núi chính lớn nhất và được xếp theo hình cánh cung từ Tây Bắc
xuống Đông Nam.
Cù Lao Chàm là một trong chuổi các khối đá hoa cương hình thành cánh
cung Bạch Mã – Hải Vân – Sơn Trà – Cù Lao Chàm – Hòn Ông. Điểm nổi bật ở
đây là tính đối xứng, hướng Tây Bắc- Đông Nam với sườn Tây Bắc hẹp và dốc
đứng, sườn Tây Nam rộng và thoải hơn. Bờ biển sườn Đông Bắc với các vách đứng,
trơ đá gốc còn bờ biển Tây Nam tạo thành các vịnh nhỏ với tích tụ cát lấp đầy tạo
nên những bãi biển dài và đẹp.
1.3.3.2. Khí hậu:
- Nhiệt độ:
Nhiệt độ thấp nhất: 18,2
o
C
còn thấp, không đủ khả năng đầu tư để đầu tư thiết bị đánh bắt xa bờ, cho nên sản
lượng rất thấp hằng năm đạt khoảng 1000 tấn.
- Về thương mại:
Còn khá nhỏ lẻ do các hộ tư nhân và cá thể thực hiện. Toàn xã có một chợ
mới được xây dựng tại Bãi Làng (186m
2
), việc mua bán trao đổi đều thực hiện dưới
hình thức tự phát, các tiểu thương trên đảo theo tàu vào đất liền mua hàng rồi mang
ra bán lại cho nhân dân trên đảo, đồng thời họ cũng mang các đặc sản từ đảo vào
bán lại cho cư dân đất liền (lượng hàng này ít, không đáng kể) và hiện nay trên đảo
loại hình phục vụ khách tham quan trên đảo còn ít, nhỏ lẻ, chưa đảm bảo, đây cũng
là nguyên nhân làm cho hoạt động thương mại kém phát triển
- Về văn hóa – giáo dục và y tế:
+ Văn hóa:
Hiện nay trên đảo tồn tại rất nhiều di tích văn hóa như: Bãi Ông, Bãi Làng,
giếng xóm Cấm, chùa Hải Tạng, đình Đại Càn, lăng Ngư Ông,…đã vinh dự được
công nhận “ Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia” ngày 13/12/2006.
Trong những năm qua trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại
học quốc gia Hà Nội đã cùng với TTQLBTDT Hội An, Sở VHTT Quảng Nam phát
hiện khai quật di tích khảo cổ, hàng nghìn di vật được lấy lên từ lòng đất tại đảo Cù
8
Lao Chàm đã làm góp phần thêm cho sự phong phú của bộ sưu tập hiện vật hiện
đang được trưng bày tại các bảo tàng ở Hội An.
Nếp sống văn hóa tại đây gắn bó hữu cơ với đất liền nó cùng với Cửa Đại –
Hội An, Trà Kiệu và Mỹ Sơn theo dòng sông Thu Bồn tạo nên một chuổi liên hoàn
của nền văn hóa cực thịnh của nền văn minh Chăm Pa cổ.
+ Y tế:
Hiện nay trên đảo có một trạm xá được đặt tại khu vực Bãi Làng, được xây
dựng do tổ chức quốc tế tài trợ nhân đạo. Với diện tích 200m
2
Mức sử dụng Giá
Từ 1 – 5KW.h 7.500 VNĐ/KW.h
Từ 6 – 10KW.h 3.000VNĐ/KW.h
Từ 11 – 15KW.h 2.000VNĐ/KW.h
Từ 16 – 20KW.h 1.800 VNĐ/KW.h
Từ 21 – 25KW.h 1.500 VNĐ/KW.h
Từ 26– 30KW.h 1.000 VNĐ/KW.h
Từ 31KW.h trở lên 800 VNĐ/KW.h
( Nguồn: UBND xã Tân Hiệp)
Hiện nay duy nhất chỉ có Bãi Hương được lắp đặt thử nghiệm mô hình sử
dụng năng lượng mặt trời nhưng còn tùy thuộc vào điều kiện thời tiết, những ngày
trời mưa hoặc không có nắng thì không có điện. Người dân được sử dụng nguồn
điện này miễn phí.
- Nước:
Nước được sử dụng tại đây chủ yếu là nguồn nước mặt, nước từ các khe và
suối chảy về đã được nhân dân cùng chính quyền và quân đội xây dựng các bể chứa
nước, nhưng vào mùa hè thì thiếu nước do các con suối đều cạn kiệt. Nước được
cấp miễn phí cho người dân. [22]
1.4. TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH:
Tiềm năng du lịch là những cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố tự nhiên, di
tích lịch sử-văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân
văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để
hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch.
Tài nguyên du lịch được chia làm 2 loại đó là tài nguyên du lịch tự nhiên và
tài nguyên du lịch nhân văn.
Trong nhiều thế kỷ qua Cù Lao Chàm là một cụm đảo có vị trí, vai trò đặc
biệt quan trọng vừa là bức bình phong che chắn cho Hội An và Đà Nẵng vừa là nhịp
cầu vươn ra biển Đông để giao lưu, hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế,
là một cụm đảo với nguồn tài nguyên phong phú với sự kết hợp hài hòa giữa cảnh
quan và con người tạo nên một nét văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc.
1.4.2. Giá trị tài nguyên nhân văn:
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa,
văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao
động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể
được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.
1.4.2.1. Các di sản văn hóa:
Hiện nay tại CLC có rất nhiều các di tích, di chỉ do người Chăm Pa cũ để lại,
cũng như một số di tích do người dân CLC bao đời nay sinh sống tại đây trãi qua
các biến cố lịch sử đã xây dựng nên những công trình với những kiến trúc độc đáo.
Một số di tích đã được Bộ VHTT xếp hạng di tích quốc gia vào 13/12/2006, đã làm
tăng thêm giá trị văn hóa cũng như đời sống tinh thần của người dân nơi đây, và là
điểm đến lý tưởng cho các du khách am hiểu về kiến trúc nghệ thuật dân gian cũng
như có niềm đam mê với văn hóa Việt.
- Di tích Bãi Ông
- Di chỉ Bãi Làng
- Lăng Cô Hồn (Miếu Âm Linh)
- Lăng Bà Mụ
- Chùa Hải Tạng
- Giếng Xóm Cấm
- Lăng Bà Bạch
- Đình Đại Càn
- Đình Tiền Hiền
- Lăng Ngư Ông
- Lăng Hiệp Hòa ( Lăng Bà – Lăng Ngũ Hành)
- Lăng Thành Hoàng
- Lăng Cô
- Lăng tổ nghề Yến
- Lăng Ngũ Hành ( Bãi Hương )
- Di tích, dấu tích cách mạng [21]
12
Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm được thành lập ngày 20/12/2005 theo quyết
định số 88/2005/QĐ-UBND của UBND tỉnh Quảng Nam , nhằm mục đích bảo tồn
đa dạng sinh học biển, bảo vệ và sử dụng hợp lý các hệ sinh thái, tài nguyên thiên
nhiên, môi trường, bảo tồn các giá trị văn hóa – lịch sử, phục vụ phát triển bền vững
tại xã đảo Cù Lao Chàm.
Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm ra đời là sản phẩm của dự án Khu bảo tồn
biển Cù Lao Chàm, một kết quả được ký kết giữa 2 quốc gia Việt Nam và Đan
Mạch về hổ trợ xây dựng một khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm.
Dự án với mục tiêu là:
Xây dựng một khu bảo tồn biển tại Cù Lao Chàm với mục đích lâu dài là: bảo tồn
nguồn lợi tài nguyên thiên, văn hóa và lịch sử của cụm đảo. Sử dụng bền vững
nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, lịch sử của Cù Lao Chàm cho việc phát triển
kinh tế xã hội ở đây.
Nâng cao nhận thức thi hành pháp luật, quản lý bền vững khu bảo tồn có sự tham
gia của cộng đồng.
Xây dựng các cơ chế, chính sách và năng lực quản lý cộng đồng nhằm quản lý khu
bảo tồn biển Cù Lao Chàm trong hệ thống các khu bảo tồn biển quốc gia.
Đề xuất các biện pháp nâng cao điều kiện sống cho nhân dân trên quần đảo Cù Lao
Chàm thông qua các cộng đồng địa phương và các đoàn thể. [5 ]
14
Hình 1.7. Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm (Photo: Quyên)
15
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Cộng đồng địa phương xã Tân Hiệp
- Khách du lịch
2.2. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU:
Các điểm du lịch tại xã đảo Cù Lao Chàm
2.3. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
tồn các di tích, các văn hóa lễ hội truyền thống.
2.4.3. Phương pháp khảo sát thực địa:
Là phương pháp tiếp cận trực tiếp, rỏ ràng và thực tế nhất giúp tôi biết được
thực trạng và hướng đi của đề tài, công tác khảo sát được chia làm 2 đợt:
Bảng 2.1: Bảng nội dung hai đợt khảo sát thực địa tại Cù Lao Chàm:
Thời gian Nội dung khảo sát
Đợt 1 (22/02-02/03/2011) - Tìm hiểu các tiềm năng du lịch tại2
thôn Bãi Ông và Bãi Làng.
- Tham quan khảo sát các địa điểm du
lịch tại Bãi Làng và Bãi Ông
Đợt 2 (14/03-22/03/2011) - Tham quan khảo sát các địa điểm du
lịch tại Bãi Hương
- Tìm hiểu dịch vụ homstay tại Bãi
Hương
- Tìm hiểu tiềm năng phát triển du lịch
tại Bãi Hương.
2.4.4. Phương pháp điều tra xã hội học:
Đây là phương pháp quan trọng nhất trong quá trình thực hiện khóa luận,
được thực hiện bằng bảng câu hỏi.
Quá trình này được tiến hành gồm 3 bước: xác định đối tượng, xác định số
phiếu và thành lập bảng câu hỏi.
Đối tượng được hỏi trong quá trình điều tra gồm: người dân địa phương và
khách du lịch nhưng do quá trình thực tập từ tháng 2 đến cuối tháng 4 mà trong thời
17
điểm này lượng khách chưa nhiều và điều kiện thời tiết cho nên quá trình phỏng vấn
điều tra khách du lịch gặp nhiều khó khăn.
2.4.5. Phân tích số liệu:
Bảng 2.2. Các bước xử lý dữ liệu:
2.5. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI THEO
HƯỚNG BỀN VỮNG TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI CÙ LAO
DU LỊCH
SINH THÁI
Khách du lịch
Cộng đồng địa
phương tham gia vào
hoạt động du lịch.
Tiềm năng
nhân văn
Tiềm năng
tự nhiên
Lợi ích.
Các loại hình du
lịch
Các cơ quan chức
năng liên quan
Dịch vụ lưu trú.
19
SWOT giúp xác định những thuận lợi và bất lợi bằng cách phân tích những
ảnh hưởng "bên trong" (mặt mạnh, mặt yếu) và những ảnh hưởng "bên ngoài" (cơ
hội, rủi ro) mà nó gây tác động đến tiến trình phát triển.
SWOT là chữ ghép của Mặt mạnh (Strengths), Mặt yếu (Weaknesses), Cơ
hội (Opportunities) và Thách thức (Threats) được minh họa ở bảng sau:
Bảng 2.4. Bảng minh họa công cụ SWOT:
Điểm mạnh Điểm yếu
Cơ hội Thách thức
2.5.3. Lịch thời vụ:
Qua lịch thời vụ ta có thể biết được những mùa nào có thể phát triển mạnh
du lịch, mùa nào gặp khó khăn do thời tiết từ đó có thể đưa ra những hướng khắc
phục. Bảng lịch thời vụ được minh họa như sau:
Bảng 2.5. Bảng minh họa lịch thời vụ:
về làm quà cho bạn bè, người thân.
- Rau rừng:
Hình 3.1: Rau rừng (Photo: Quyên)
Khi nghe đến cụm từ rau rừng Cù Lao Chàm nhiều du khách tò mò muốn
biết nó như thế nào, quả thật rau rừng Cù Lao Chàm rất ngon nó có vị thơm, ăn vào
có đủ các vị đắng, chua, ngọt và cay vì nó bao gồm hơn 20 loại cây có trong rừng
Cù Lao Chàm.
Rau được người dân hái trên núi cao, vào những buổi sáng sớm để khi về
cho kịp buổi chợ hoặc buổi đò chợ. Ăn những dĩa rau thơm ngon nhưng ít ai biết
21
đến công sức của người hái đã khổ cực leo lên những ngọn núi cao để tìm cho được
những ngọn rau non và ngon.
Rau rừng thường ăn với mắm cái Cù Lao là món ăn mà du khách không thể
nào quên khi đến đây, bởi nó được hái từ núi cao, không hề sử dụng một loại thuốc
trừ sâu hay bảo vệ thực vật nào, theo người dân ở đây rau rừng là một loại dược liệu
có thể chữa được các loại bệnh về đường tiêu hóa.
Hiện nay rau rừng rất được nhiều người hái và hái thường xuyên điều này
không tránh khỏi việc hái đi hái lại một khu vực làm cho chất lượng rau không còn
nguyên vị. Vì vậy nhóm người hái rau rừng này nên có một giải pháp là quy định
ngày hái và chổ hái để tránh lặp đi lặp lại nơi hái, nâng cao chất lượng rau rừng để
thu hút được nhiều du khách hơn.
- Nước lá Lao:
Tại đảo hầu như tất cả mọi nhà đều sử dụng nước lá để uống thay cho nước
trà hay nước chè như trong đất liền. Nước lá có vị thơm, ngọt theo người dân tại đây
thì nước lá có công dụng giúp tinh thần sảng khoái, ăn ngủ ngon giấc.
Cũng giống như rau rừng hằng ngày người dân trên đảo phải leo lên những
ngọn núi cao hay vào sâu trong rừng để tìm được những loại cây này về chặt nhỏ,
phơi khô để dành uống dần hoặc bán cho những khách du lịch có nhu cầu. Đây
cũng là một mô hình sinh kế thay thế của cư dân vùng đảo, nếu họ biết khai thác
thấy rỏ những con ốc Vú Nàng đang bám trên những tảng đá, đặc biệt vào những
ngày trăng tròn chúng xuất hiện nhiều vô kể. Người bắt phải chịu khó ngâm mình
trong nước đi theo các ghềnh đá dùng dao tách từng con ốc đang bám chặt vào tảng
đá bằng lớp da bụng mềm mại của mình. Những con ốc to bằng vài ngón tay cũng
có thể lên tới nữa bàn tay.
Thịt ốc Vú Nàng màu trắng đục được luộc nguyên con sau đó tách vỏ rồi rửa
sạch lại với nước sôi để trôi đi những hạt cát bám vào thịt ốc. Người ta có thể dùng
ốc luộc để ăn với muối tiêu chanh hoặc làm món trộn.
Nếu du khách không thể tự tay bắt những con ốc Vú Nàng này thì có thể
thưởng thức nó tại các nhà hàng ở Cù Lao.
Hình 3.2. Ốc Vú Nàng
3.1.2. Con đường sinh thái:
Khi đặt chân lên Cù Lao Chàm nhiều du khách tỏ ra ngạc nhiên khi nhìn
thấy phong cảnh núi non hùng vỹ, hứa hẹn cho một cuộc thám hiểm rừng núi đầy
thú vị.
23
Đặt chân lên cầu cảng, du khách sẽ được các nhân viên của ban quản lý du
lịch đón tiếp nồng nhiệt và được hướng dẫn những địa chỉ để du khách có thể tham
quan. Rời nhà đón tiếp của BQL du lịch du khách có thể ghé vào thăm khu Bảo tồn
biển, nơi đây trưng bày rất nhiều hình ảnh cũng như những hiện vật mô phỏng về
Cù Lao Chàm như: hình ảnh về đời sống, sản xuất của người dân tại đây, những
hiện vật được mô phỏng như: cua đá, ốc, võng ngô đồng,…
Ngoài ra nơi đây còn giới thiệu về những đề tài nghiên cứu, hay các mô hình
về rau sạch, bioga,… có sự tham gia của các chuyên gia, cộng tác viên nước ngoài.
Hình 3.3. Khách du lịch tham quan Khu bảo tồn (Photo Quyên)
Không những thế du khách còn được nghe giới thiệu về quá trình thành lập
của Khu bảo tồn cũng như công tác và nhiệm vụ của bảo tồn trong việc bảo vệ sinh
quyển và nâng cao sinh kế tại đây.
Du khách có thể đi dọc theo con đường bê tông đến tham quan âu thuyền,
đây là nơi tập trung ghe thuyền của các ngư dân và là nơi neo đậu của tàu thuyền