Cấp trungươngBộ Giáo dục và Đào tạo
Cấp tỉnh;Sở Giáo dục và Đào tạo
Cấp huyện.Phòng giáo dục và đào tạo
Trường học
Những vấn đề lí luận chung về xây dựng hệ
thống chỉ tiêu thống kê giáo dục bậc tiểu học
I. Sự cần thiết của việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê
giáo dục bậc tiểu học
1. Đặc điểm của giáo dục đào tạo bậc tiểu học.
1.1. Tổng quan về quản lí hành chính và tổ chức hệ thống giáo dục Việt Nam
hiện nay
a) Quản lí hành chính giáo dục Việt Nam
Giáo dục Việt Nam đợc quản lí theo các cấp từ trung ơng đến địa phơng, thống
nhât với nhau theo ngành dọc. Quản lí hành chính đợc mô tả nh sau.
Bộ giáo dục và đào tạo: là cơ quan trung ơng giám sát các hoạt động giáo
dục ở Việt Nam. Bộ quản lí nhà nớc chịu trách nhiệm chung về việc lập chính
sách, lập kế hoạch và xây dựng chơng trình của ngành giáo dục. Các chức năng
chính của Bộ gồm lập chính sách, thực thi và đánh giá kế hoạch giáo dục quốc
gia, cũng nh đề xớng biện pháp pháp luật liên quan đến giáo dục và đào tạo. Bộ
cũng chịu trách nhiệm hớng dẫn chỉ đạo chính sách cho các cấp địa phơng. Trực
thuộc bộ có các Vụ quản lí và điều hành các mảng giáo dục khác nhau đó là.
- Vụ giáo dục mầm non.
- Vụ giáo dục tiểu học
- Vụ giáo dục trung học
- Vụ giáo dục chuyên nghiệp
- Vụ Đại học và Sau Đại học
- Vụ giáo dục Thờng xuyên
Ngoài ra, các vụ sau thuộc Bộ Giáo dục - Đào tạo thực hiện các chức năng
cụ thể.
- Văn phòng
- Vụ Kế hoạch-Tài Chính
3 tháng/ month
24
22
18
17
15
14
Tuổi/ age
Hệ thống giáo dục quốc dân/ the national e ducation sysem
Giáo
dục
không
chính
quy
Non-
formal
Thạc sĩ/Master
(2 năm/2 yeas)
Tiến sĩ
Doctor
(2-4 năm/2-4 yeas)
Cao đẳng
College education
(3 năm/ 3 yeas)
Đại học
University Education
(4-6 năm/4-6 yeas)
Dạy nghề/ Vocational training
Dài hạn/ long term (1-3 năm /
1-3yeas)
học sau. Bậc tiểu học tạo những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền vững cho trẻ em
tiếp tục học lên bậc trên.
Bậc tiểu học có tính chất: Phổ cập và phát triển, dân tộc và hiện đại, nhân
văn và dân chủ.
Nhà trẻ/ Nursery
Mẫu giáo/ kindergarten
Trung học cơ sở/ lower Secondary (4 năm/ 4 yeas)
Tiểu học / Primary ( 5 năm/ 5 yeas)
Trung học phổ thông
Upper secondary
(3 năm / 3 yeas)
a) Giáo viên, cán bộ công chức: Giáo viên dạy trong các trờng tiểu học đợc
quy định phải có trình độ tốt nghiệp trung học s phạm. Nhung thực tế để có đủ
giáo viên giảng dạy thì những ngời không đủ khả năng học trung học s phạm đợc
phép thi vào những chơng trình đào tạo khác nh 12+2. Đặc biệt đối với vùng sâu
vùng xa giáo viên có thể chỉ cần học qua chơng trình 9+7 là có thể giảng day.
Điều này dẫn đến sự mất cân đối giữa các vùng, miền trong nớc. Những vùng sâu,
vùng xa, vùng miền núi thì trình độ chuẩn giáo viên thấp hơn nhiều so với vùng
thành thị.
Tuy nhiên do đặc thù của lứa tuổi học tiểu học nên giáo viên cán bộ công
chức của bậc học tiểu học cũng có nét rất riêng biệt. Đó là giáo viên tiểu học trình
độ chuyên môn không cần phải cao nhng đòi hỏi kiến thức s phạm lại rất cao.
Giáo viên ngoài nhiệm vụ giảng day, truyền đạt kiến thức tổng hoà về thế giới
xung quanh cho trẻ thơ còn phải một nhà tâm lí. Giáo viên phải có lòng kiên nhẫn,
nắm bắt đợc tâm lí trẻ thơ từ đó kết hợp với gia đình uốn nắn xây dựng nhân cách
cho trẻ. Giáo viên phải có trình độ truyền đạt kiến thức một cách khoa học, phù
hợp với sự nhận thức của trẻ em hình thành nhân thức mới đúng đắn đảm bảo trẻ
em phát triển cân đối cảc về thể chất và tinh thần.
Hiện nay lơng giáo viên tiểu học chiếm gần 50% tổng quỹ lơng ngành Giáo
dục-Đào tạo, có lẽ nguyên nhân chủ yếu là số lợng giáo viên tiểu học đông nhất
thấp về cơ sở vật chất cũng nh sự quan tâm cha đúng mức của một số bộ phân dân
c. Nhà nớc ta từ trớc tới nay mới chỉ thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục tiểu
học toàn dân đi đôi với tăng dần chất lợng giảng dạy, Mới chỉ bớc đầu xây dựng
cơ sở vật chất. Những yêu cầu về chất lợng cơ sở vật chất cha thực sự đợc đảm
bảo. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng cơ sở vật chất ảnh hởng rất lớn đến
chất lợng giảng dạy, ảnh hởng rất lớn đến nhận thức của trẻ nhỏ. Học sinh bậc tiểu
học đang ở lứa tuổi bớc đầu phát triển về tâm hồn, thể chất nên cần có sự định h-
ớng đúng đắn, môi trờng phù hợp với sự phát triển đó. Vì thế sự quan tâm về ph-
ơng pháp giảng dạy, về cơ sở vật chất là rất quan trọng. Những dự án đổi mới ch-
ơng trình giảng dạy, xoá bỏ phòng học 3 ca, phòng học tạm thời tre lá, hoàn thiện
cơ sở vật chất kỹ thuật đang đợc thúc đẩy.. Trên phạm vi cả nớc, hiện nay bậc tiểu
học còn tồn tại 897 phòng học 3 ca, 35517 phòng học tạm thời tre lá. Theo kế
hoạch, trong 5 năm 2001-2005 dự kiến đầu t khoảng 45 ngàn tỷ đồng, chiếm gần
5,3% tổng số vốn đầu t phát triển để có thể tạo bớc chuyển biến căn bản, toàn diện
và nhanh chóng nâng cao chất lợng nguồn nhân lực và trình độ dân trí toàn xã hội.
Tổng số vốn đầu t này dành cho việc xoá phòng học tranh tre, bổ sung phòng học
cho bậc tiểu học chấm dứt tình trạng học 3 ca. Theo nghiên cứu thì chất lợng học
sinh phụ thuộc rất nhiều vào thời gian học tại trờng. Học sinh học hết bậc tiểu học
học cả ngày tại trờng có trình độ hơn so với học nửa ngày 1 lớp học. Tuy nhiên,
hiện nay tỷ lệ học sinh tiểu học học cả ngày trên phạm vi toàn quốc mới đạt
khoảng 26%. Tỷ lệ này cao nhất là vùng Đồng bằng Sông Hồng (Hà Nội là 86%)
và Đông nam bộ, thấp nhất là ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Bắc và Tây
Nguyên. Tuy nhiên tỉnh thấp nhất lại thuộc về vùng Đông bắc (Cao Bằng 2,6%).
Cần lu ý hiện nay số học sinh tiểu học đang có xu hớng giảm nhanh nên việc xây
dựng trờng/ lớp mới phải thận trọng, tránh gây lãng phí đầu t xây dựng cơ bản.
Nhu cầu đầu t xây dựng phòng học 2 buổi/ ngày
Tổng số
Số lợng phòng học Tổng số
phòng học
cần thêm
những bớc đi xa hơn nữa để dần dần chuyển sang cơ chế nhà nớc cấp toàn bộ kinh
phí giáo dục tiểu học, có nh vậy mới đảm bảo sự công bằng trong cung cấp giáo
dục có chất lợng cho mọi ngời.
Hiện nay kinh phí chi cho giáo dục đợc hỗ trợ từ nhiều nguồn. Việt Nam đã
xây dựng mối quan hệ tốt với các nhà tài trợ, thể hiện qua số lợng ngày càng
nhiều các dự án hỗ trợ cho giáo dục tiểu học từ giữa những năm 1990 trở lại đây.
2. Thực trạng giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay.
Cùng với sự hình thành và ngày càng phát triển của hệ thống chỉ tiêu thống
kê kinh tế xã hội nói chung, những năm qua ở Việt Nam đã thu thập và tổng hợp
đợc một số chỉ tiêu thống kê về giáo dục bậc tiểu học hoặc có liên quan đến giáo
dục bậc tiểu học. Những thông tin này rất cần thiết cho việc nghiên cứu đánh giá
về giáo dục, làm căn cứ để Nhà nớc đa ra những quyết định và các vấn đề có liên
quan đến giáo dục, nhằm tạo ra khả năng phát triển thích hợp cho giáo dục cũng
nh nâng cao vai trò giáo dục trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nớc ta.
Về mặt pháp chế Nhà nớc Việt Nam quy định mọi ngời có quyền và nghĩa
vụ tham gia giáo dục bậc tiểu học (nh đã trình bày ở Chơng I) Song thực tế ở
nhiều nơi, nhiều lúc và nhiều khía cạnh quyền đó cha thực sự đợc bảo đảm.
Nguyên nhân chủ yếu là do phong tục tập quán, nguồn gôc dân tộc mà thực chất
là t tởng lỗi thời vẫn còn tồn đọng trong các dân tộc cũng nh các vùng sâu vùng xa
trong cả nớc.
Thực tế giáo dục bậc tiểu học rất quan trọng nó là khởi đầu, đặt nền móng
cơ bản cho sự phát triển của con ngời. Đòi hỏi phải có một chơng trình phù hợp
với tâm sinh lí của trẻ em đồng thời cơ sở vật chất cũng rất quan trọng đối với sự
phát triển của trẻ nhỏ. Tuy nhiên giáo dục đào tạo bậc tiểu học hiện nay ở Việt
Nam mới chỉ đạt yêu cầu về phổ cập cho mọi ngời còn những chỉ số về chất lợng
mới đang ở giai đoạn đầu thực hiện.
Thế kỷ 21 đợc dự đoán là thế kỷ của chất xám, là thể kỷ của nhu cầu tinh
thần, nhu cầu văn hoá. Vì vậy sự nghiệp giáo dục và đào tạo đang trở nên hết sức
quan trọng. Trong tiến trình hội nhập của nớc ta với thế giới, trình độ giáo dục và
đào tạo của một nớc là một trong những thớc đo u tiên trong quan hệ quốc tế. Hơn