Vai trò của hội liên hiệp phụ nữ việt nam trong giám sát và phản biện xã hội - Pdf 69

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
............/............

BỘ NỘI VỤ
....../......

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TẠ THỊ MINH THU

VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM
TRONG GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành

: Quản lý công

Mã số

: 8340403

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGỌ VĂN NHÂN

HÀ NỘI - NĂM 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các
số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực, chưa

Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ
NỮ VIỆT NAM TRONG GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI
1.1. Quản lý nhà nước về hoạt động giám sát, phản biện xã hội
1.2. Khái quát về Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
1.3. Nội dung, phương thức hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
1.4. Các yếu tố ảnh hướng tới việc thực hiện vai trò giám sát, phản biện
xã hội của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP
PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI
2.1. Nguyên nhân, kết quả và những hạn chế, bất cập trong thực hiện vai
trò giám sát và phản biện xã hội của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
2.2. Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn thực hiện vai trò của
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát, phản biện xã hội
Chương 3: GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN
HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI
3.1. Tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng, quyết liệt
cụ thể hơn các chính sách, pháp luật của Nhà nước về giám sát, phản
biện xã hội
3.2. Tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong hoạt động giám sát, phản biện
xã hội
3.3. Tăng cường công tác phổ biến, tuyển truyền nâng cao nhận thức của
các cấp Hội, hội viên về vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
trong giám sát, phản biện xã hội

chủ ở mọi cấp để Mặt trận, các đoàn thể và các tầng lớp nhân dân tham gia
xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị” [12, tr.124].
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (Hội) là tổ chức chính trị - xã hội trong
hệ thống chính trị, có tư cách pháp nhân, đại diện cho quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam; phấn đấu vì sự phát triển
của phụ nữ và bình đẳng giới. Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Hiến pháp

1


năm 2013, cùng với Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn
Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên
hiệp phụ nữ Việt Nam là “tổ chức chính trị - xã hội được thành lập trên cơ
sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của
thành viên, hội viên tổ chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác của
Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam”. Hội cũng là thành viên của Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ Quốc tế và
Liên đoàn các tổ chức phụ nữ ASEAN. Là thành viên của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, Hội có vai trò tham mưu, đề xuất, tham gia xây dựng, phản biện
xã hội và giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp,
chính đáng của phụ nữ, gia đình, trẻ em và bình đẳng giới.
Đối với hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc
và các tổ chức thành viên, sự ra đời của Quy chế giám sát và phản biện xã
hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội (Ban hành kèm
theo Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị) và Quy
định về việc Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân
tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền (Ban hành kèm theo
Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị) thực sự là kết
tinh của ý chí và sự hòa quyện giữa ý Đảng với lòng dân. Việc Bộ Chính trị

định. Vẫn còn tình trạng cán bộ, hội viên của Hội nhận thức chưa đầy đủ,
đúng đắn về vị trí, vai trò của hoạt động giám sát, phản biện xã hội, dẫn
đến tình trạng e ngại, sợ va chạm trong giám sát, né tránh phản biện xã
hội. Có lúc, có nơi hoạt động giám sát và phản biện xã hội còn mang tính
hình thức, thực hiện qua loa, chiếu lệ cho có... Tình hình trên đây có ảnh
hưởng nhất định tới vị thế, uy tín của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nũng
như các cấp Hội trong việc thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội,
làm suy hiệu quả của hoạt động này.
Trong giai đoạn hiện nay, việc nâng cao nhận thức, thực hiện đúng đắn,
đầy đủ vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong hoạt động giám sát và
phản biện xã hội vừa là yêu cầu cấp thiết, vừa là nhiệm vụ cấp bách đang

3


được đặt ra đối với Hội nói chung, các cấp Hội nói riêng. Đó cũng
là lý do học viên lựa chọn chủ đề “Vai trò của Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam trong giám sát và phản biện xã hội” làm đề tài luận
văn thạc sĩ, chuyên ngành Quản lý công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Giám sát, phản biện xã hội là một trong những vấn đề quan trọng
trong đời sống chính trị ở nước ta hiện nay, bởi thông qua hoạt động giám
sát, phản biện xã hội sẽ thấy được sự tham gia của người dân, của các
đoàn thể nhân dân trong việc giám sát, kiểm tra các kế hoạch thực hiện
phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp Hội, địa phương, tính dân chủ, minh
bạch và công khai trong đời sống xã hội. Đó cũng là lý do vấn đề giám sát,
phản biện xã hội thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà
khoa học, nhà nghiên cứu ở các cấp độ, các cách tiếp cận khác nhau.
2.1. Các công trình nghiên cứu về giám sát, phản biện xã hội nói chung
-

hiện phản biện xã hội ở nước ta hiện nay, Tạp chí Khoa học Xã hội, số
5(105) - 2007. Theo tác giả bài viết, việc tìm kiếm những phương thức cụ
thể, hữu hiệu để thực hiện phản biện xã hội ở nước ta hiện nay đang là
vấn đề có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Do những đặc
điểm, tính chất của mình, dư luận xã hội được coi là một trong những kênh
chủ yếu, là phương thức để thực hiện phản biện xã hội. Nội dung của phản
biện xã hội thông qua dư luận xã hội là xác định tính đúng đắn, hợp lý; tính
hợp hiến, hợp pháp; tính tất yếu khách quan và tính khả thi của các mục
tiêu, phương hướng, nhiệm vụ đặt ra trong các đường lối, chính sách kinh
tế - xã hội, trong các dự án, dự thảo luật của Đảng và Nhà nước. Để làm
được điều đó thì nhất thiết phải tiến hành điều tra, thăm dò dư luận xã hội.
-

Hoàng Thị Ngân, Một số vấn đề về giám sát xã hội và phản biện xã hội,

bài tham luận tại Hội thảo khoa học “Vấn đề phản biện và giám sát xã hội

ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay - thực trạng và giải pháp” do Viện
Nghiên cứu khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh tổ chức năm 2007. Bài
viết trình bày khái lược về các vấn đề như khái niệm, nội dung, mục đíc,
hậu quả, đặc trưng, vai trò, ý nghĩa của giám sát và phản biện xã hội; chỉ ra
những thuận lợi và khó khăn trong thực hiện giám sát và phản biện xã hội.
-

Trần Hậu, Các hình thức và giải pháp thực hiện giám sát xã hội và

phản biện xã hội đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, Đề tài
nghiên cứu khoa học thuộc Chương trình khoa học và công nghệ KX10.06-10,
Hà Nội, 2009. Công trình tập trung luận giải khái niệm giám sát xã hội và phản
biện xã hội, phân tích bản chất và nững đặc trưng cơ bản của hoạt động giám

2.2. Các công trình nghiên cứu về giám sát, phản biện xã hội
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
-

Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đề án nghiên cứu “Phát huy

vai trò phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc”, Hà Nội, 2008. Đây là công trình
nghiên cứu khá quy mô của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tập

6


hợp sự đóng góp ý kiến, các tham luận, thảo luận trong hội thảo của các nhà
khoa học, cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành; đã góp phần làm rõ quan điểm,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về Mặt trận Tổ quốc
trong bối cảnh hiện nay, đánh giá thực trạng vai trò, vị trí, chức năng giám sát
và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
-

Nguyễn Thanh Bình, Điều kiện đảm bảo cho hoạt động giám sát và

phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tạp chí Mặt trận, số 70, tháng
8/2009, Hà Nội. Nội dung bài viết khẳng định tính đúng đắn trong quan điểm
của Đảng về giám sát, phản biện xã hội; trên cơ sở đó, kiến nghị Đảng, Nhà
nước tạo các điều kiện, cơ chế cần thiết nhằm bảo đảm phát huy vai trò của
hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
-

Nguyễn Đăng Dung, Cơ sở pháp lý nào cho sự hoàn thiện chức năng


những phương thức cơ bản để nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước. là
một yêu cầu tất yếu khách quan của quá trình thực hiện quyền làm chủ của
nhân dân. Từ sự luận giải nội hàm khái niệm giám sát, phản biện xã hội nói
chung, tham chiếu hệ thống giám sát, phản biện xã hội của một số thể chế
chính trị trên thế giới, luận án đã luận giải chức năng giám sát và phản
biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong điều kiện một đảng cầm
quyền; khẳng định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một chủ thể đặc biệt,
nhiều tiềm năng nhất trong thực hiện giám sát và phản biện xã hội.

-

Hoàng Thị Ánh, Giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ

quốc thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã
hội, Hà Nội, 2015. Nội dung luận văn khoa học này đề cập cơ sở lý
luận về giám sát, phản biện xã hội, đánh giá thực trạng hoạt động
giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc thành phố Đà Nẵng;
từ đó, luận giải một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám
sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc thành phố Đà Nẵng.
-

Nguyễn Văn Pha, Để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện tốt vai trò

giám sát và phản biện xã hội, Tạp chí Xây dựng Đảng số 1+2/2016, Hà Nội. Bài
viết đề cập, phân tích nội hàm khái niệm giám sát, phản biện xã hội; đề xuất
một số cơ chế, chính sách, giải pháp có thể thúc đẩy Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam thực hiện có hiệu quả chức năng giám sát và phản biện xã hội.
-

Liên quan đến vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1.

Mục đích

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá

thực trạng thực hiện vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong
giám sát, phản biện xã hội, xác định rõ nguyên nhân để từ đó đề xuất
một số giải pháp bảo đảm phát huy vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam trong giám sát, phản biện xã hội ở nước ta hiện nay.

9


3.2. Nhiệm vụ
Đề hiện thực hóa mục đích nghiên cứu, đề tài triển khai thực
hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò của Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát, phản biện xã hội.
Thứ hai, đánh giá thực trạng, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn
chế, bất cập trong việc thực hiện vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
trong giám sát, phản biện xã hội; làm rõ nguyên nhân dẫn đến thực trạng.
Thứ ba, đề xuất, luận giải tính khả thi của một số giải pháp phát huy
vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát, phản biện xã hội.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1.



10


tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam về vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, của Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, về giám sát và phản biện xã hội...
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương
pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp quy nạp và diễn dịch; phương pháp
lịch sử và lôgíc; phương pháp phân tích nguồn thông tin, tài liệu có sẵn; phương
pháp thống kê; phương pháp so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa...

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1.

Về mặt lý luận

Đề tài góp phần khái quát hóa, phân tích, làm rõ cơ sở lý luận về vai trò

của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát và phản biện xã hội;
đánh giá được thực trạng thực hiện vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam trong giám sát và phản biện xã hội, chỉ rõ nguyên nhân và rút
ra một số bài học kinh nghiêm; đồng thời đề xuất, luận giải được một
số giải pháp khoa học, khả thi nhằm phát huy vai trò của Hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam trong giám sát và phản biện xã hội.

6.2. Về mặt thực tiễn
Với những kết quả nghiên cứu đạt được, đề tài có ý nghĩa thực tiễn quan
trọng, có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo đối với học viên, sinh viên các

đảm cho hiến pháp và pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh” [51, tr.292].
Theo cuốn Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XII của Đảng: “Giám sát là sự theo dõi, kiểm tra, phát hiện,
đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người này đối với cá nhân, tổ chức,
cộng đồng người khác trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế- xã hội; trong việc
thực hiện chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, Hiến pháp, pháp luật,
chính sách của Nhà nước, các quyền, nghĩa vụ công dân, của các tổ chức
chính trị- xã hội và những kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử lý đối với
các nhân, tổ chức có những hành vi sai trái” [30, tr.149].

Theo Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội (Ban hành kèm theo Quyết định số

12


217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị): “Giám sát là việc
theo dõi, phát hiện, xem xét; đánh giá kiến nghị nhằm tác động đối
với cơ quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công
chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước” [4, tr.2].
Như vậy, giám sát phải luôn gắn với một đối tượng cụ thể, tức là phải
trả lời được các câu hỏi: giám sát ai? giám sát việc gì? Điều này có ý nghĩa rất
quan trọng ở chỗ, nó giúp phân biệt “hoạt động giám sát” với “hoạt động
kiểm tra”. Trong “hoạt động kiểm tra” thì chủ thể hoạt động và đối tượng chịu
sự tác động của hoạt động đó có thể đồng nhất với nhau, như việc tự kiểm tra
của chủ thể hoạt động. Nói cách khác, chủ thể của hoạt động kiểm tra hoàn
toàn có thể tự mình căn cứ vào chương trình, mục tiêu, kế hoạch đã đề ra để
tự xem xét, đánh giá tình trạng tốt, xấu của công việc mình đang làm. Còn
trong “hoạt động giám sát” thì chủ thể không thể tự mình giám sát hoạt động

-

Hoạt động giám sát không mang tính quyền lực nhà nước là

loại hình giám sát được tiến hành bởi các chủ thể phi Nhà nước, như
hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên của Mặt trận Tổ quốc (Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân...) và công dân đối với bộ
máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước; hoặc đơn
giản chỉ là hoạt động giám sát quá trình thi công một công trình.

1.1.1.2. Khái niệm hoạt động phản biện xã hội
Trong đời sống chính trị của một đất nước, các thiết chế cầm quyền luôn
đứng trước nhu cầu là phải lựa chọn, đắn đo cân nhắc trong số rất nhiều các dữ
kiện chủ quan và khách quan cũng như các lợi ích của các giai cấp, các nhóm xã
hội, dân tộc, quốc tế.v.v. khác nhau để đưa ra những quyết sách đúng đắn, kịp
thời, hợp lý nhất nhằm giải quyết những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra. Do
vậy, họ cố tranh thủ ý kiến, nhận xét, đánh của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng
xã hội. Các lực lượng xã hội khác nhau, vì lợi ích của chính mình và lợi ích chung
của cả cộng đồng cũng dưới hình thức này hoặc bằng hình thức khác cũng tìm
cách đưa ra những quan điểm, chính kiến của mình xung quanh những các vấn
đề mà họ quan tâm. Kết quả là, nhờ thông qua sự tranh luận, nhận xét, đánh giá,
tìm tòi mà các chủ thể khác nhau đã đưa ra được những quyết sách đúng đắn,
phù hợp nhất có thể, áp dụng vào

14


cuộc sống để đem lại lợi ích chung cho tổ chức, cộng đồng, đất
nước. Đó là lúc chúng ta nói đến hoạt động phản biện xã hội.

thi quyền lực công đưa ra với mong muốn quyết định đó trở nên phù
hợp hơn, khả thi hơn và đem lại lợi ích chung cho toàn xã hội. Phản
biện xã hội là phản biện mang tính nhân dân, tính xã hội rộng rãi.
Hoạt động phản biện xã hội với nội dung này đã luôn hiện hữu trong
các chế độ nhà nước từ trước đến nay. Từ ngàn xưa, đó là chế độ “chiêu
hiền, đãi sĩ” để tranh thủ ý kiến người hiền tài, là chế độ can gián vua
chúa. Trong chế độ tư bản đó là hoạt động đảng phái đối lập, lobby, mít
tinh, biểu tình. Còn trong chế độ ta, biểu hiện rõ rệt nhất là nguyên tắc đấu
tranh phê bình và tự phê bình trong Đảng, sự xem xét, đánh giá hoạt động
trong các cơ quan, tổ chức nhà nước. Sự phê bình không phải đơn giản
chỉ là nhận xét cá nhân, sự phê phán giữa các cá nhân với nhau, mà phải
hiểu sâu xa hơn là cả sự phản biện chủ trương, đường lối, chính sách.


nước ta, phản biện hay phản biện xã hội được đề cập nhiều trong

khoảng 15 năm trở lại đây. Phản biện xã hội dần trở thành một chức năng
quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
Một số nhà khoa học cho rằng, phản biện xã hội là nhận xét, đánh giá
của xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng,
chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công
nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự, an ninh... Theo cuốn Tìm hiểu một số
thuật ngữ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng:
“Phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định công trình khoa học, dự
án, đề án trong các lĩnh vực khác nhau, là sự phát hiện sai trái và có lập luận
về sự sai trái, bắt buộc giải trình” [30, tr.151]; còn “Phản biện xã hội là sự
phản biện nói chung, nhưng là phản biện nằm ngoài nhà nước, mang tính xã
hội, có quy mô và lực lượng rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân và các nhà
khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương giải pháp phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại của Đảng, Nhà nước và các tổ

sống đặt ra, thỏa mãn được lợi ích chung của cộng đồng, tập thể, tập đoàn
cũng như của toàn xã hội” [50, tr.54].

17


Từ những điểm phân tích, luận giải nêu trên, có thể định nghĩa: Phản
biện xã hội là hoạt động phân tích, luận chứng một cách khách quan, khoa
học về tính đúng đắn, hợp lý của các đường lối, chính sách, quyết định liên
quan tới lợi ích chung của các cộng đồng xã hội do các chủ thể lãnh đạo,
quản lý xã hội đưa ra dựa trên các ý kiến, kiến nghị của các tầng lớp xã hội.

Xét theo phạm vi, phản biện xã hội có thể được phân chia thành
phản biện xã hội phạm vi rộng và phản biện xã hội phạm vi hẹp.
Đối tượng của phản biện xã hội phạm vi rộng là các chủ trương,
đường lối, chính sách, quyết định lớn, các dự thảo, dự án luật... Bất cứ
cá nhân, tổ chức, tầng lớp xã hội nào cũng có thể tham gia phản biện
phạm vi rộng, trong đó, ba chủ thể chính và cũng là ba kênh chính để
thực hiện phản biện xã hội gồm: (i) Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp mà quan trọng nhất là Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam; (ii) Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; (iii) Dư luận xã hội.
Phản biện xã hội phạm vi hẹp là loại phản biện được tiến hành
trong phạm vi đối tượng tham gia hẹp, không thông tin và công bố rộng
rãi về quá trình và nội dung phản biện. Đối tượng của phản biện phạm
vi hẹp là những chính sách, đề án có tính chuyên biệt cao, chưa chính
thức trở thành chủ trương của nhà nước, có thể bị kẻ địch lợi dụng để
xuyên tạc hoặc có thể gây nguy hại cho nền an ninh quốc gia... Chủ thể
của phản biện phạm vi hẹp phải là các chuyên gia, các nhà khoa học,
các cơ quan, đơn vị có chuyên môn sâu, có khả năng đưa ra các nhận
xét, đánh giá, quan điểm mang tính khoa học cao [33, tr.82-83].

nước là hoạt động quản lý được giới hạn trong các cơ quan hành pháp,
gồm Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp. Hệ thống các cơ quan quyền
lực, xét xử và kiểm sát thực hiện quyền lập pháp và tư pháp không thuộc
hệ thống quản lý hành chính nhà nước. Nếu tiếp cận khái niệm quản lý nhà
nước dưới góc độ này thì quản lý nhà nước có 02 chức năng cơ bản, bao
gồm: (i) Chức năng lập quy, được thực hiện bằng việc xây dựng, ban hành
các văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn việc thực hiện pháp luật;
(ii) Chức năng tổ chức, điều hành, phối hợp các hoạt động kinh tế - xã hội
để đưa pháp luật đi vào thực tiễn đời sống xã hội.

19


Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, với mục đích
tăng cường sự gắn bó giữa Đảng với nhân dân, nâng cao chất lượng và
hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, Đảng ta chủ trương: “Xây dựng
quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức
chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ
trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện,
kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ” [12, tr.135].
Trong thời kỳ tiếp tục đổi mới toàn diện đất nước, đẩy mạnh phát triển
kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, hội nhập quốc tế ngày càng sâu
rộng, việc phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị được Đảng,
Nhà nước ta xác định là yêu cầu, nhiệm vụ, giải pháp đặc biệt quan trọng.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011) đã xác định rõ: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một
bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo Mặt trận.
Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối

của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội đối
với hoạt động của các cơ quan nhà nước được tăng cường.
Trong bộ máy nhà nước, hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước có
vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng. Hoạt động của hệ thống cơ quan này diễn
ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, tác động trực tiếp và thường xuyên
đến quyền, lợi ích của các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần xã hội. Do
vậy, hoạt động kiểm tra, giám sát đối với cơ quan hành chính nhà nước là yêu
cầu khách quan, cần thiết và không chỉ đơn thuần từ phía các cơ quan nhà
nước, mà quan trọng hơn là cần phải thiết lập được cơ chế giám sát bên
ngoài, trước hết là cơ chế giám sát thường xuyên và có hiệu quả từ phía nhân
dân đối với cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan hành chính nhà nước
nhằm bảo đảm tất cat quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân.
Như vậy, quản lý nhà nước về hoạt động giám sát và phản biện xã hội
được hiểu là các cơ quan quản lý nhà nước dùng quyền lực nhà nước (quyền
hành pháp) quản lý tất cả các hoạt động giám sát và phản biện xã hội trên tất

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status