TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ KHU
VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ
1.1.1. Khái niệm - bản chất, đặc điểm của thuế
- Khái niệm - bản chất:
Thuế là một phạm trù kinh tế tài chính mang tính khách quan, đồng thời
cũng là một phạm trù lịch sử – thuế ra đời, tồn tại, phát triển cùng với sự ra đời,
tồn tại và phát triển của Nhà nước. Trong thời kỳ Cộng sản nguyên thuỷ, khi
điều kiện lao động của con người còn thô sơ, con người lao động đủ để duy trì
sự sống của mình, chưa có Nhà nước lúc đó xã hội chưa biết thuế là gì. Cùng
với sự phát triển của sản xuất xã hội, xã hội loài người có sự phân chia thành
giai cấp và đấu tranh giữa các giai cấp, Nhà nước ra đời. Để duy trì bộ máy Nhà
nước, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, quốc phòng – an ninh .., đòi hỏi Nhà
nước phải có nguồn tài chính để chi tiêu. Nguồn tài chính này có được là do sự
đóng góp của mọi thành viên trong xã hội và sự đóng góp này mang tính bắt
buộc. Theo Ph.Ăngghen: “Để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng
góp của những người công dân cho Nhà nước, đó thuế má” (14, tr.552). Với tiến
trình phát triển của xã hội loài người, Nhà nước xuất hiện, thuế cũng từ đó ra
đời, tồn tại và phát triển
Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy, một khi Nhà nước chỉ
làm nhiệm vụ quản lý hành chính đơn thuần thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ở
chừng mực nhất định, xã hội ngày càng phát triển hơn nên Nhà nước có thêm
nhiệm vụ điều hành, quản lý nền kinh tế thì chi tiêu của Nhà nước ngày càng
nhiều hơn. Đến khi Nhà nước đảm nhận thêm công việc chăm lo đời sống, văn
hoá, xã hội của cộng đồng thì thuế lại được động viên càng lớn với nhiều sắc
thuế và ở tất cả mọi hoạt động trong nền kinh tế
Như vậy, khi vai trò, nhiệm vụ của Nhà nước ngày càng được mở
rộng, đòi hỏi nguồn tài chính phục vụ cho việc chi tiêu ngày càng tăng lên.
Điều đó, không thể thiếu sự đóng góp của người dân và các tổ chức kinh tế,
đó là thuế.
Theo phân tích trên, thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước
một số nhà nghiên cứu: Thuế là hình thức động viên, phân phối và phân
phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo pháp luật của Nhà
nước quy định, nhằm đáp ứng những khoản chi tiêu cần thiết của Nhà
nước. Đó là khoản thu của Nhà nước đối với các tổ chức (chủ yếu là tổ
chức kinh tế) và mọi thành viên trong xã hội; khoản thu này mang tính bắt
buộc không hoàn trả trực tiếp [11, tr.1].
Gần đây, trong một số công trình nghiên cứu về thuế, các nhà kinh tế cho
rằng, để vạch rõ bản chất của thuế thì trong định nghĩa phải nêu bật các khía
cạnh sau đây: Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ
giữa Nhà nước với pháp nhân và thể nhân; những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ
này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc
chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh Nhà nước, xét theo
khía cạnh luật pháp thuế là khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật quy định
theo mức thu và thời hạn nhất định.
Kết hợp những hạt nhân hợp lý của những quan niệm về thuế kể trên
có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là một khoản
chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước
theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, nhằm sử dụng cho mục
đích công cộng [31, tr.11].
- Đặc điểm của thuế:
Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của
thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định qua từng giai đoạn phát triển. Nghiên
cứu về thuế người ta thấy nó có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công
cụ tài chính khác.
+ Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong
xã hội cho Nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự:
Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nó
phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của NSNN. Đặc
điểm này vạch rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ, được
hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc
người nộp phạt khi có hành vi vi phạm luật lệ làm phương hại đến lợi ích Nhà
nước hoặc cộng đồng. Hình thức phí, lệ phí, công trái nói chung mang tính tự
nguyện và có tính chất đối giá. Tính bắt buộc của phí và lệ phí chỉ xảy ra khi
người trả phí, lệ phí thụ hưởng trực tiếp những dịch vụ do Nhà nước cung cấp.
+ Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không mang tính hoàn
trả trực tiếp:
Tính không hoàn trả trực tiếp của thuế được biểu hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất
đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp xã hội chuyển giao cho Nhà nước
không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thụ hưởng những dịch vụ
hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp. Người nộp thuế cũng không có
quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng trực tiếp
cho mình mới phát sinh khoản chuyển giao thu nhập cho Nhà nước; mặt khác
mức độ cung cấp dịch vụ công cộng của Nhà nước cũng không nhất thiết ngang
bằng mức độ chuyển giao. Mức chuyển giao thu nhập nhiều hay ít chỉ căn cứ
vào kết quả hoạt động kinh tế và mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội cũng như
nhu cầu tài chính cung của Nhà nước.
Thứ hai, khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không được
hoàn trả trực tiếp có nghĩa là người nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận được một
phần các dịch vụ công cộng mà Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng,
giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà họ
nộp cho Nhà nước. Đặc điểm này giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa thuế và
các khoản phí, lệ phí.
+ Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế được quy định trước
bằng luật pháp:
Đặc điểm này một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế, mặt khác phản
ánh sự chuyển giao thu nhập không mang tính chất tuỳ tiện mà dựa trên những
cơ sở pháp luật nhất định và đã được xác định trước trong các luật thuế, pháp
lệnh thuế, đó là: đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mức thuế phải nộp,
thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cưỡng chế khác.
nguồn tài chính chủ yếu được động viên từ thuế và phí ở nội bộ nền kinh tế
quốc dân.
“Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN”. Ở nước ta từ khi có các luật
thuế ra đời, nguồn thu từ thuế ngày càng tăng lên, ngày càng chiếm tỷ
trọng cao trong tổng số thu ngân sách, năm 1990 đạt 86%; năm 1997 đạt
87%, năm 1998 đạt 88%,đến nay khoảng 90% [23, tr.10]. Vai trò của thuế
thực sự được nâng lên và thể hiện rõ trong quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh
tế
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý và điều
tiết của Nhà nước, thuế được áp dụng thống nhất đối với các thành phần
kinh tế không phân biệt kinh tế Nhà nước và KTNQD, nó bao quát và điều
tiết các hoạt động kinh doanh, mọi nguồn thu nhập, mọi tài nguyên thiên
thiên và mọi hoạt động tiêu dùng trong xã hội.
Chính sách động viên về thuế có tác dụng bồi dưỡng nguồn thu vững
chắc, lâu dài cho NSNN. Cơ chế thuế suất không nên quá phức tạp, quá
cao mà cần nghiên cứu và tính toán dựa trên những căn cứ khoa học và sự
phát triển của nền kinh tế sẽ phù hợp hơn với khả năng đóng góp của đối
tượng nộp thuế, đảm bảo nguồn thu ngân sách được ổn định thường xuyên.
Thuế suất được điều chỉnh giảm có thể sẽ dẫn đến phát sinh lo lắng không
đảm bảo nguồn thu cho ngân sách. Nhưng trên thực tế nếu hệ thống thuế
hợp lý, thuế suất ở mức vừa phải thì sẽ tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ
của mọi tầng lớp nhân dân, đối tượng nộp thuế thấy mức thuế hợp lý sẽ tự
nguyện khai báo nộp thuế tốt hơn. Diện thu thuế được mở rộng, diện miễn
giảm thu hẹp, vừa được lòng dân vừa đảm bảo nhiệm vụ thu theo kế hoạch.
Tỷ lệ động viên về thuế cần tính toán khoa học, đầy đủ mọi khoản đóng
góp cho NSNN, bao gồm mọi khoản thuế, phí và lệ phí. Cần khắc phục
tình trạng các ngành, các địa phương tuỳ tiện đặt ra các khoản thu trái với
quy định của Nhà nước.
Thuế tạo nguồn thu cho NSNN, nhưng nguồn thu đó được hình thành
trên cơ sở nền kinh tế tăng trưởng và đạt hiệu quả cao. Đây là vấn đề luôn
Trong điều kiện hiện nay, hệ thống thuế của Nhà nước Việt Nam thể
hiện rất rõ quan điểm khuyến khích các ngành nghề sản xuất hơn là các
hoạt động thương mại, dịch vụ. Sản xuất các mặt hàng thiết yếu được
khuyến khích hơn sản xuất các mặt hàng và dịch vụ khác. Để khuyến khích
các ngành nghề sản xuất hàng xuất khẩu, sản xuất sản phẩm thay thế hàng
nhập khẩu cần thiết khi trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được
hoặc sản xuất nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu hay đầu tư vào những vùng
có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng không thuận lợi cho sức khoẻ, sinh
hoạt người dân,… Nhà nước thường áp dụng thuế ưu đãi để thúc đẩy kinh
tế phát triển một cách có hiệu quả, đồng bộ theo hướng có lợi cho quốc kế
dân sinh.
Hiện nay, Nhà nước ta sử dụng tổng hợp hệ thống chính sách thuế,
nhằm: khuyến khích mạnh mẽ các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi
thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh trên cơ sở bình đẳng trước pháp
luật; góp phần thúc đẩy việc khai thác tư nguyên liệu trong nước, tranh thủ
vốn đầu tư nước ngoài để mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế hàng hoá
đẩy mạnh xuất nhập khẩu đáp ứng yêu cầu tiêu dùng và tích luỹ; bào đảm
lợi ích; bảm đảm lợi ích giữa Nhà nước và xã hội, lợi ích của các bên hợp
tác, vừa đảm bảo sản xuất trong nước phát triển nâng cao đời sống của
người dân.
+ Thuế góp phần điều hoà thu nhập thực hiện công bằng xã hội trong
phân phối:
Theo Adam Smith, nền kinh tế thị trường tự do không có sự điều
chỉnh, can thiệp của Nhà nước, mà được điều tiết bởi “bàn tay vô hình”.
Đó là nền kinh tế tự điều chỉnh và hoạt động có hiệu quả. Tuy nhiên, lịch
sử cũng cho thấy kinh tế thị trường tự do chứa đựng những mặt trái hay
những “khuyết tật” khó tránh khỏi. Nổi bật trong những “khuyết tật” đó là
vấn đề phân phối thu nhập. Trong điều kiện phân phối thu nhập của thị
trường tự do, một bộ phận dân cư sẽ giàu lên nhanh chóng, trong khi đó,
đại đa số lao động trở nên nghèo túng và đời sống càng khó khăn hơn.
Cùng với sự gia tăng vai trò của nhà nước đối với đời sống kinh tế,
kinh tế thị trường tự do đã phát triển thành nền kinh tế hỗn hợp gồm hai
khu vực lớn: Kinh tế Nhà nước và kinh tế phi nhà nước hay như chúng ta
nói - KTNQD.
Khu vực kinh tế nhà nước dựa trên cơ sở của sở hữu nhà nước chủ
yếu thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ công cộng, mục tiêu cơ bản là
lợi ích chung của toàn xã hội - đảm bảo cho sự phát triển hiệu quả, công
bằn và ổn định cho toàn bộ nền kinh tế.
Khu vực KTNQD là khu vực kinh tế bao gồm các tổ chức, cá nhân
hoạt động kinh doanh bằng vốn của các tổ chức, của một số cá nhân góp
lại; hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường vì mục tiêu lợi nhuận.
Trong cơ cấu sản xuất xã hội, KTNQD được coi là một thực thể khách
quan, gồm các thành phần kinh tế được xác định tuỳ theo đặc điểm kinh tế
- xã hội và đường lối chính trị của mỗi Nhà nước trong từng giai đoạn khác
nhau như, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản
Nhà nước… KTNQD có nhiều đặc điểm riêng biệt, nhưng có thể khái quát
một số đặc điểm cơ bản sau:
+ Dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là chủ yếu, được tổ
chức ở đủ loại quy mô lớn, vừa và nhỏ, nhưng đều do tư nhân quản lý và
phân phối lợi nhuận.
+ Số lượng cơ sở rất lớn, thường xuyên biến động, tuỳ thuộc vào tình
hình kinh doanh (chu kỳ kinh tế) và chính sách, chế độ của Nhà nước trong
từng thời kỳ.
+ Hoạt động trong hầu hết mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Ở các nước
phát triển, KTNQD bao gồm cả những tập đoàn kinh doanh xuyên quốc
gia, có ảnh hưởng không chỉ đối với nền kinh tế trong nước mà còn chi
phối nhiều lĩnh vực kinh tế – tài chính quốc tế.
+ Số thu hàng năm chiếm tỷ trọng quan trọng trong tổng số thu ngân sách
nhà nước (Tỷ trọng này khác nhau đối với các nước: ở các nước phát triển, thu
từ khu vực KTNQD là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, ngược lại, ở
tòi các hình thức kinh tế thích hợp, năng động, từng bước đáp ứng yêu cầu ngày
càng đa dạng và phong phú của thị trường.
+ Tiềm năng về kiến thức, kinh nghiệm quản lý, nâng cao tay nghề,
đặc biệt là phát huy kiến thức, bí quyết truyền thống được tích lũy qua
nhiều đời là nguồn tiềm năng vô cùng to lớn cho sự tăng trưởng kinh tế
nếu được khởi động với những chính sách, chủ trương thích hợp. Hiện nay
nguồn “chất xám” của KTNQD cũng rất đa dạng, có loại được Nhà nước
đào tạo trong các trường chính quy từ công nhân, kỹ sư, nhà kinh tế đến
các thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư… Có loại cá nhân tự bỏ tiền ra để
học lấy một nghề nhất định ở trong hoặc ngoài nước. Có loại do doanh
nghiệp NQD sau khi tuyển dụng lao động bỏ tiền đào tạo hoặc đào tạo lại.
+ Nguồn vốn trong khu vực KTNQD nối tiếp từ thế hệ này sang thế
hệ khác đã và đang được tích luỹ ngày càng lớn. Ở hầu hết các nước có
lịch sử phát triển kinh tế thị trường lâu đời, nguồn vốn đầu tư từ phía Nhà
nước không đáng kể (chiếm từ 13% - 30% tổng vốn đầu tư). Các nước đều
có chính sách thoả đáng để huy động nguồn lực to lớn từ nguồn vốn của
KTNQD. Nếu Chính phủ có chính sách đúng đắn, tạo môi trường thuận lợi,
tạo lòng tin trong nhân dân, nhất định họ sẽ sẵn sàng bỏ vốn đầu tư, mở
rộng sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển và tăng
trưởng mạnh mẽ.
+ KTNQD có tiềm năng lao động to lớn và góp phần đáng kể vào
việc giải quyết việc làm cho xã hội. Ở nước ta hàng năm bình quân có
khoảng 1,243 triệu người đến tuổi lao động, bao gồm: lực lượng thanh niên
đến tuổi lao động, số học sinh tốt nghiệp dạy nghề, trung học, cao đẳng,
đại học hoặc những người lao động thất nghiệp do sắp xếp lại biên chế
trong các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp hoặc do sắp xếp lại sản
xuất trong các ngành kinh tế quốc dân, những người bán thất nghiệp ở
nông thôn, thành thị. Đây là nguồn lao động rất dồi dào mà Nhà nước ta
chưa khai thác hết được. Nếu chỉ thông qua các doanh nghiệp Nhà nước thì
sẽ không thu hút được hết những người lao động. Thực tế trong những năm
ngoài. Trong nền kinh tế mở hiện nay, sự giao lưu với các nước phát triển
mạnh về mọi mặt đó là một tất yếu khách quan. Đại hội Đảng lần thứ IX đã
xác định:
Phát triển đa dạng kinh tế Nhà nước dưới các hình thức liên doanh,
liên kết giữa kinh tế Nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong nước, ngoài
nước, mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư kinh doanh; chú trọng
phát triển các hình thức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở
hữu, giữa các thành phần kinh tế với nhau, giữa trong nước, ngoài nước
[32, tr.99].
Tại các nước, liên doanh với nước ngoài chủ yếu là do KTNQD thực
hiện vì là khu vực năng động, làm ăn có hiệu quả, thích ứng nhanh với sự
biến động hoặc thay đổi của thị trường, của khách hàng. Trong khi đó ở
nước ta hiện nay, các liên doanh với nước ngoài chủ yếu là do kinh tế Nhà
nước thực hiện. Nhiều Việt Kiều về quê hương gặp không ít khó khăn
trong việc tìm đối tác liên doanh
+Sự đa dạng của KTNQD tạo ra nguồn sản phẩm đa dạng, phong phú
đáp ứng mọi nhu cầu tiêu dùng của xã hội ở mọi nơi, mọi thời điểm. Thực