Lời mở đầu
ở bất kỳ quốc gia nào thuế luôn giữ một vai trò rất quan trọng. Thuế không
chỉ là công cụ tập trung chủ yếu nguồn thu cho NSNN mà thuế còn là một công
cụ hữu hiệu để nhà nước tiến hành điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế góp phần điều
hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối.
Một chính sách thuế đúng đắn được nghiên cứu thận trọng phù hợp với
yêu cầu của nền kinh tế có thể mang lại sự phồn vinh và ổn định lâu dài cho đất
nước. Ngược lại, một hệ thống thuế lạc hậu không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát
phát triển của nền kinh tế. Đất nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, hệ
thống thuế đang được hoàn thiện đảm bảo nguồn lực cho công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước và đưa nền kinh tế phát triển đúng hướng. Luật thuế
GTGT được quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp lần thứ 11 (họp từ 2/4/1997
đến 10/5/1997) có hiệu lực thi hành từ 1/1/1999 thay thế luật thuế doanh thu là
một trong những bước đột phá có tính chất quyết định của công cuộc cải cách
thuế bước II ở nước ta. Luật thuế GTGT ra đời nhằm đảm bảo nguồn thu cho
NSNN, tránh hiện tượng đánh trùng thuế, đảm bảo công bằng giữa các thành
phần kinh tế, góp phần hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới.
Sau 5 năm đưa vào hoạt động thuế GTGT đã cho thấy hiệu quả của nó.
Tuy nhiên trong quá trình thực thi còn nhiều bất cập: sự thiếu đồng bộ của hệ
thống pháp luật, sự quản lý chồng chéo của các cơ quan chức năng cũng như sự
nhận thức của các cơ sở kinh doanh còn chưa cao do đó thất thu thuế còn lớn,
đặc biệt trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Với chuyên ngành mình học, trong thời gian thực tập tại Chi cục thuế Bắc
Giang, em đã lựa chọn đề tài: “ Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý
thu thuế GTGT đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn Thị
xã Bắc Giang”
1
Qua việc nghiên cứu công tác quản lý thu thuế GTGT đối với khu vực Thị
xã Bắc Giang từ năm 2001 trở lại đây, Em hy vọng trong một chừng mực nào đó
đưa ra được một số ý kiến thích hợp trong việc tăng cường công tác quản lý thu
thuế GTGT đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Ngoài đặc điểm chung của một hệ thống thuế, thuế GTGT còn mang
những đặc điểm riêng:
3
- Do thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ nên đối
tượng nộp thuế phải là các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có giá trị
tăng thêm, nhưng thực chất phần thuế mà họ nộp là do người mua hàng hoá, dịch
vụ phải thanh toán. Vì vậy thuế GTGT là thuế gián thu, đây cũng là chính sách
thuế tốt xét về mặt “trách nhiệm chính trị”
- Thuế GTGT có phạm vi thu thuế rất rộng, đối tượng phải nộp thuế là
toàn bộ các cơ sở hoạt động sản xuất, kinh doanh kể cả gia công, chế biến và
hoạt động dich vụ có thu tiền, thuế GTGT được thu đối với các sản phẩm, dịch
vụ tiêu thụ trong nước, kể cả hàng hoá nhập khẩu. Tuy nhiên, một số hàng hoá
và dịch vụ cũng có thể được miễn thuế GTGT. Các hàng hoá, dịch vụ miễn thuế
được quy định tuỳ thuộc vào mỗi nước trong từng thời kỳ cụ thể. Vì vậy, bất kỳ
một nước nào khi chuyển sang áp dụng thuế GTGT, đồng thời cũng phải rà soát
lại phạm vi và thuế suất của các chính sách thuế khác.
- Thuế GTGT không đánh vào đầu tư vì thuế nằm ngoài giá trị tài sản
cố định và giá thành sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Người mua phải trả thêm tiền
thuế GTGT và tiền thuế này sẽ được tách riêng để khấu trừ khi tính thuế GTGT
phải nộp ở giai đoạn sau.
- Một đặc điểm quan trọng của thuế GTGT là cho dù sản phẩm có trải
qua bao nhiêu giai đoạn thì tổng số thuế phải nộp cũng không thay đổi. Đó chính
là số thuế mà người tiêu dùng cuối cùng phải trả.
Thuế GTGT ở mọi khâu nhiều hay ít tuỳ thuộc vào GTGT ở khâu đó, vì vậy
thuế GTGT không làm tăng giá đột biến khi sản phẩm trải qua nhiều giai đoạn
sản xuất, lưu thông, cung ứng dịch vụ nên không gây xáo trộn lớn cho hoạt động
sản xuất kinh doanh.
Tổng thuế GTGT phải
nộp của 1 sản phẩm
=
chức, cá nhân ở nước ngoài).
5
2.2. Đối tượng nộp thuế GTGT
Các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch
vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức
kinh doanh (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác có nhập
khẩu hàng hoá, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT (gọi chung là người
nhập khẩu) đều là đối tượng nộp thuế GTGT.
2.3. Căn cứ tính thuế GTGT
Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất.
2.3.1. Giá tính thuế GTGT
Giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ được xác định cụ thể như
sau:
- Đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra hoặc
cung ứng cho đối tượng khác là giá bán chưa có thuế GTGT. Đối với hàng hoá,
dịch vụ chịu thuế TTĐB là giá bán đã có thuế TTĐB nhưng chưa có thuế GTGT.
Giá tính thuế đối với các loại hàng hoá, dịch vụ bao gồm cả khoản
phụ thu và phí thu thêm ngoài giá hàng hoá, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh được
hưởng, trừ các khoản phụ thu và phí cơ sở kinh doanh phải nộp ngân sách nhà
nước. Trường hợp cơ sở kinh doanh áp dụng hình thức giảm giá bán thì giá tính
thuế GTGT là giá bán đã giảm ghi trên hoá đơn.
- Đối với hàng hoá nhập khẩu là giá nhập khẩu tại cửa khẩu cộng với
thuế nhập khẩu (nếu có), cộng thuế TTĐB (nếu có). Giá nhập khẩu tại cửa khẩu
làm căn cứ tính thuế GTGT được xác định theo các quy định về giá tính thuế
hàng hoá nhập khẩu.
6
- Sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu, tặng hoặc để trả
thay lương (trừ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo
theo quy định tại Nghị định số 32/1999/NĐ-CP ngày 05/5/1999 của Chính phủ
về khuyến mại quảng cáo thương mại, hội chợ triển lãm thương mại không phải
- Đối với xây dựng, lắp đặt:
+ Trường hợp xây dựng, lắp đặt có bao thầu nguyên vật liệu thì giá
tính thuế bao gồm cả giá trị nguyên vật liệu chưa có thuế GTGT.
+ Đối với trường hợp xây dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật
liệu thì giá tính thuế là giá trị xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị nguyên vật
liệu chưa có thuế GTGT.
+ Trường hợp xây dựng, lắp đặt thực hiện thanh toán theo hạng
mục công trình hoặc giá trị khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành bàn giao thì
giá tính thuế tính theo giá trị hạng mục công trình hoặc giá trị khối lượng công
việc hoàn thành bàn giao chưa có thuế GTGT.
- Đối với các cơ sở kinh doanh được Nhà nước giao đất xây nhà, cơ
sở hạ tầng kỹ thuật để bán, để chuyển nhượng gắn với chuyển quyền sử dụng
đất, giá tính thuế GTGT đối với nhà, cơ sở hạ tầng bán ra hoặc chuyển nhượng là
giá bán, giá chuyển nhượng chưa có thuế, trừ tiền sử dụng đất theo giá đất quy
định khi giao đất.
Đối với cơ sở kinh doanh được Nhà nước cho thuê đất để đầu tư cho
thuê cơ sở hạ tầng trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế khác
theo quy định của Chính phủ để cho thuê lại, giá tính thuế là giá cho thuê chưa
có tuế GTGT, trừ giá thuê đất phải nộp NSNN.
8
- Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản, giá tính thuế GTGT đối
với nhà, hạ tầng gắn với đất được trừ giá đất theo giá do UBND các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương quy định tại thời điểm bán bất động sản.
- Đối với dịch vụ đại lý tầu biển, dịch vụ môi giới, uỷ thác xuất nhập
khẩu và dịch vụ khác hưởng tiền công hoặc tiền hoa hồng, giá tính thuế là tiền
công hoặc tiền hoa hồng được hưởng chưa có thuế GTGT.
- Đối với vận tải, bốc xếp, giá tính thuế là giá cước vận tải, bốc xếp
chưa có thuế GTGT, không phân biệt cơ sở trực tiếp vận tải, bốc xếp hay thuê
lại.
- Đối với hàng hoá, dịch vụ có tính đặc thù dùng các chứng từ như
2.3.2. Thuế suất thuế GTGT.
- Thuế suất 0%: áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, không
phân biệt đối tượng xuất khẩu.
- Thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ thiết yếu phục vụ
trực tiếp cho sản xuất và tiêu dùng như: nước sạch phục vụ sinh hoạt, lương
thực, thuốc chữa bệnh, đồ chơi trẻ em, thực phẩm tươi sống…
- Thuế suất 10% áp dụng cho các hàng hoá còn lại, là những hàng
hoá, dịch vụ thông thường và những hàng hoá dịch vụ có giá thanh toán cao như:
dầu mỏ, khí đốt, sản phẩm điện tử, dịch vụ khách sạn, du lịch, vàng bạc, đá
quý…
2.4. Phương pháp tính thuế GTGT.
10
2.4.1. Phương pháp khấu trừ thuế:
Đối tượng áp dụng là các đơn vị, tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp
thành lập theo Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác
xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các đơn vị, tổ chức kinh doanh
khác.
Công thức xác định thuế GTGT phải nộp:
Số thuế GTGT
Phải nộp
=
Thuế GTGT
đầu ra
-
Thuế GTGT đầu
vào được khấu
trừ
Thuế GTGT đầu ra bằng (=) giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu
thuế bán ra nhân với (x) thuế suất thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ đó. Cơ sở
kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán
thuế
x
Thuế suất thuế GTGT
của hàng hoá, dịch vụ đó
Phương pháp xác định GTGT làm căn cứ tính thuế GTGT phải nộp
đối với từng cơ sở kinh doanh như sau:
-Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng
hoá, dịch vụ có hoá đơn, chứng từ, ghi chép sổ sách kế toán thì GTGT được xác
định căn cứ vào giá mua, giá bán ghi trên chứng từ (đối tượng nộp thuế có kê
khai).
- Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ hoá đơn, chứng từ
bán hàng hoá, dịch vụ, xác định được đúng doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ theo
hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ nhưng không có đủ hoá đơn mua hàng hoá, dịch
vụ thì GTGT được xác định bằng doanh thu nhân (x) với tỷ lệ (%) GTGT tính
trên doanh thu.
- Đối với cá nhân (hộ) kinh doanh chưa thực hiện hoặc thực hiện
chưa đầy đủ hoá đơn mua, bán hàng hóa, dịch vụ thì cơ quan thuế căn cứ vào
tình hình kinh doanh của từng hộ ấn định mức doanh thu tính thuế; GTGT được
xác định bằng doanh thu ấn định nhân với tỷ lệ (%) GTGT tính trên doanh thu.
GTGT của hàng
hoá, dịch vụ
=
Doanh số của hàng
hoá, dịch vụ bán ra
-
Giá vốn của hàng
hoá, dịch vụ bán ra
13
3. Vai trò của thuế GTGT.
-Thuế GTGT không thu trùng lắp, không gây ra hiện tượng đánh trùng
tự phát và có nhiều biến động phụ thuộc vào cung cầu thị trường hàng hoá, vào
những chính sách của Nhà nước trong việc khuyến khích hay hạn chế phát triển.
- Quy mô sản xuất kinh doanh trong các đơn vị thường nhỏ, vốn thường
tập trung chủ yếu ở các ngành thương mại, dịch vụ, sản xuất tiểu thủ công
nghiệp, xây dựng, khách sạn đặc biệt là dịch vụ. . .Tuy nhiên số lượng các đơn vị
sản xuất kinh doanh trong khu vực này rất lớn. Các đơn vị này hoạt động ở các
ngành có tính năng động cao nên dễ dàng chuyển hướng kinh doanh, dễ thích
nghi với hoàn cảnh và yêu cầu của nền kinh tế.
- ý thức chấp hành pháp luật của các đơn vị thuộc thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh thường không cao thể hiện qua việc thực hiện chế độ kế toán,
hoá đơn chứng từ mua bán hàng hoá chưa đầy đủ, không theo đúng quy định của
Nhà nước, nếu có chỉ mang tính chất đối phó. Việc giao dịch mua bán hàng hoá,
dịch vụ chủ yếu bằng tiền mặt, rất ít trường hợp thanh toán qua ngân hàng, do đó
công tác kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn.
15
2. Vai trò của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong sự phát triển kinh
tế xã hội ở nước ta.
Với mục tiêu đưa nước ta nhanh tróng trở thành một nước công nghiệp hoá
hiện đại hoá, kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI tháng 12 năm
1986 Đảng ta đã chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Thực hiện
đường lối đổi mới của Đảng trong những năm qua chúng ta đã có nhiều cố gắng
để phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, kinh doanh theo cơ chế thị trường có
sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. Đảng và Nhà nước tạo ra những hành lang pháp
lý thuận lợi giúp cho các thành phần kinh tế phát huy hiệu quả của mình. Nhờ
những chủ trương, chính sách đúng đắn của Nhà nước, khu vực tế ngoài quốc
doanh ngày càng phát triển với cơ cấu đa dạng. Sự hình thành và phát triển của
khu vực kinh tế ngoài quốc doanh giữ vai trò không thể phủ nhận đối với nền
kinh tế, nhất là trong tình hình nước ta hiện nay.
Bằng những chính sách ưu tiên và động viên hợp lý đối với khu vực kinh
tế ngoài quốc doanh, một phần lớn vốn nhàn rỗi trong xã hội đã được đưa vào
quả kinh tế và xã hội cao cho đất nước, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng nền
kinh tế nhanh chóng đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại.
3.Sự thất thu thuế GTGT và hậu quả của thất thu thuế trong khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ đã
khuyến khích các thành phần kinh tế tham giá tích cực vào hoạt động sản xuất
kinh doanh làm tăng lượng hàng hoá cho xã hội và tăng lợi nhuận cho người
kinh doanh đặc biệt trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, từ đó thu hút và tạo
17
ra hàng triệu việc làm cho người lao động, đồng thời góp phần làm thay đổi đáng
kể cơ cấu ngành sản xuất, phân công lao động trong nền kinh tế nước ta.
Nhưng mặt trái của nền kinh tế thị trường là việc chạy theo lợi nhuận,
chính vì vậy mà các cơ sở kinh tế ở khu vực ngoài quốc doanh này thường xem
nhẹ việc chấp hành chính sách, pháp luật của nhà nước, đặc biệt là pháp luật về
thuế. Họ thường tìm cách để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế, một số doanh nghiệp
còn cố tình lợi dụng kẽ hở của pháp luật thuế để chiếm dụng NSNN thông qua
việc hoàn thuế.
Ngành thuế quản lý thuế GTGT thông qua hoá đơn do Bộ Tài Chính phát
hành và phần tự khai của các hộ kinh doanh. Theo luật định hình thức nộp thuế
theo kê khai áp dụng cho các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các hộ cá thể
lớn và vừa nếu như các tổ chức, cá nhân trên áp dụng nghiêm túc chế độ kế toán.
áp dụng hình thức thu ấn định đối với các hộ kinh doanh nhỏ có địa điểm kinh
doanh không cố định, hoặc những tổ chức, cá nhân cố tình vi phạm trốn thuế.
Đối với cáchộ thực hiện theo phương pháp khấu trừ thuế đầu vào, những
hộ này thường sử dụng hoá đơn không đúng theo quy định, xuất hoá đơn đỏ
không đúng với giá trị hàng hoá bán ra, hoá đơn lưu để kê khai thuế thường thấp
hơn rất nhiều so với giá trị hàng hoá bán ra, thậm chí không đúng chủng loại
hàng hoá dịch vụ cung ứng cho khách hàng. Từ đó nhà nước thất thu thuế ở 2
khâu:
- Khách hàng dùng hoá đơn đỏ để khấu trừ thuế đầu vào do đó làm giảm
19
- Nhận và kiểm tra thủ tục hồ sơ đăng ký thuế: Tổ HC nhận hồ sơ và
chuyển cho tổ xử lý dữ liệu. Tổ XLDL nhận, kiểm tra hồ sơ và trả kết quả đăng
ký thuế cho doanh nghiệp.
20
4.1.2. Xử lý tờ khai và chứng từ nộp thuế.
- Nhận và kiểm tra sơ bộ tờ khai thuế: Tổ XLDL đóng dấu ngày nhận
vào tờ khai, ghi sổ nhận tờ khai, chuyển bảng kê hoá đơn cho đội QLDN. Tổ
XLDL kiểm tra thủ tục tờ khai và đóng tệp tờ khai đúng quy định.
- ấn định thuế đối với trường hợp không nộp tờ khai thuế: Đội QLDN
lập danh sách ấn định thuế ký chuyển cho tổ XLDL vào ngày 20 hàng tháng, sau
đó tổ XLDL in thông báo ấn định thuế.
- Tổ XLDL nhập và xử lý chứng từ nộp thuế.
- Đội QLDN phân tích tình trạng kê khai thuế: Lập bảng phân tích dấu
hiệu kê khai thuế sai; phân loại, xử lý dấu hiệu kê khai sai và theo dõi việc xử lý
tờ khai thuế có dấu hiệu kê khai sai.
- Ngày 10 hàng tháng, tổ XLDL thống kê cung cấp cho lãnh đạo và
cá tổ đội liên quan.
-Tổ XLDL tổ chức lưu trữ các tệp tờ khai thuế, thông báo điều chỉnh
lỗi tờ khai. Đội QLDN lưu các bảng kê hoá đơn và bảng phân tích dấu hiệu kê
khai thuế sai và kết quả xử lý theo từng tháng.
4.1.3. Quản lý thu nợ thuế.
- Gửi thông báo đôn đốc nộp thuế: Đội QLDN thường xuyên nắm
tình hình, tra cứu thông tin trực tiếp trên mạng máy tính. Trong vòng 10 ngày
sau thời hạn nộp thuế, tổ XLDL thực hiện in thông báo nợ tiền thuế.
- Thông báo số tiền phạt do nộp chậm tiền thuế: Tổ XLDL thực hiện
in, trình lãnh đạo ký thông báo nộp phạt chậm tiền thuế từ ngày 15 đến ngày 20
hàng tháng.
- Ngày 10 hàng tháng đội QLDN (phối hợp với tổ XLDL) lập bảng
phân tích tình trạng nợ theo mức nợ, theo khả năng thu nợ.
kiểm tra, thanh tra hoàn thuế và quyết định xử lý.
4.1.5. Quyết toán thuế
- Nhận báo cáo quyết toán thuế: Tổ XLDL nhận báo cáo quyết toán
thuế và ghi sổ nhận hồ sơ thuế.
- Tổ XLDL kiểm tra thủ tục hồ sơ quyết toán thuế.
- Nhập thông tin quyết toán thuế: Tổ XLDL nhập thông tin quyết toán
vào máy tính; phát hiện lỗi tính toán sai, lập danh sách báo cáo quyết toán lỗi;
chuyển các báo cáo quyết toán thuế, các tài liệu kèm theo, danh sách lỗi báo cáo
quyết toán và giải trình điểu chỉnh hoặc báo cáo quyết toán thay thế cho đội
QLDN.
- Đội QLDN tiến hành phân tích, đối chiếu số liệu báo cáo quyết toán
tại cơ quan thuế.
- Điều chỉnh báo cáo quyết toán thuế: Đội QLDN in thông báo đề
nghị điều chỉnh báo cáo quyết toán thuế. Tổ XLDL nhập quyết toán thay thế vào
máy tính để điều chỉnh. Đội QLDN thực hiện thủ tục phạt vi phạm hành chính về
thuế đối với hành vi kê khai thuế sai.
- Kiểm tra quyết toán thuế: đội QLDN thống nhất với tổ thanh tra lập
kế hoạch kiểm tra quyết toán thuế trực tiếp tại doanh nghiệp. Kết quả kiểm tra
quyết toán thuế được chuyển ngay cho tổ XLDL.
- Đôn đốc và quản lý tình trạng quyết toán thuế: Đội QLDN đôn đốc
nộp quyết toán thuế và quản lý việc xử lý quyết toán thuế. Tổ XLDL thông báo
số thuế sau quyết toán thuế.
- Báo cáo tình hình quyết toán thuế và lưu hồ sơ quyết toán: Đội
QLDN lập báo cáo đánh giá tình hình phân tích báo cáo quyết toán để gửi phòng
23
DT-TH. Tổ XLDL lập báo cáo tổng hợp kết quả xử lý quyết toán thuế của chi
cục thuế để chuyển cho các tổ thanh tra, QLDN, lãnh đạo chi cục thuế. Đội
QLDN lưu vào hồ sơ của doanh nghiệp.
4.1.6. Xử lý miễn, giảm thuế
- Đội QLDN trực tiếp nhận hồ sơ sau đó đội QLDN kiểm tra thủ tục
+ Điều tra doanh thu thực tế: Đội thuế chọn một số hộ kinh doanh
đại diện cho các ngành nghề, quy mô kinh doanh để điều tra điển hình làm căn
cứ đánh giá tính chính xác của các tờ khai do hộ kinh doanh tự kê khai và làm
căn cứ để hiệp thương với hộ kinh doanh kê khai doanh thu không đúng hoặc ấn
định thuế đối với những hộ kinh doanh không kê khai, không nộp tờ khai.
+ Dự kiến doanh thu tính thuế của từng hộ kinh doanh: Căn cứ vào
tờ khai doanh thu của hộ kinh doanh, căn cứ vào kết quả điều tra doanh thu thực
tế, đội thuế lập danh sách hộ kinh doanh, dự kiến doanh thu của từng hộ kinh
doanh và đưa ra trao đổi thống nhất trong đội thuế.
+ Tính thuế, lập bộ thuế: Căn cứ hồ sơ dự kiến doanh thu ấn định
của các hộ mới ra kinh doanh và các hộ dự kiến điều chỉnh doanh thu ấn định (do
hết thời hạn ổn định) sau khi đã được tổ NV-HT kiểm tra đảm bảo cân đối chung
giữa các địa bàn, giữa các hộ kinh doanh trong cùng địa bàn; danh sách hộ miễn
thuế, hộ nghỉ kinh doanh, hộ tự nghỉ kinh doanh do các đội thuế lập; tổ XLDL
tính thuế cho từng hộ và lập sổ bộ thuế.
+ Duyệt bộ thuế: Lãnh đạo chi cục thuế chủ trì duyệt bộ cho từng
đội thuế.
25