Một số thuật ngữ viết tắt
NQD: ngoài quốc doanh
NSNN: ngân sách nhà nước
TNDN: thu nhập doanh nghiệp
GTGT: giá trị gia tăng
TTĐB: tiêu thu đặc biệt
ĐTNT: đối tượng nộp thuế
NNT: người nộp thuế
CP: cổ phần
TNHH: trách nhiệm hữu hạn
TP: thành phố
1
Lời mở đầu
Để thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, đất nước
ta đang trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội, đẩy nhanh tốc độ phát
triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, với mục tiêu
tăng trưởng cao vì một xã hội công bằng dân chủ và văn minh cuối năm 2010.
Trong bối cảnh xã hội chú trọng phát triển kinh tế đó, chính sách nói chung của
nhà nước và chính sách thuế nói riêng đòi hỏi phải được đổi mới để hoàn thiện đáp
ứng yêu cầu của thực tiễn, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội và hòa nhập với nền
kinh tế thế giới. Một yêu cầu đặt ra cho hệ thống thuế là làm sao phải bao quát
được tất cả các nguồn thu từ thuế có thể khai thác được, động viên chỉ đạo để
nguồn thu từ thuế đóng góp chủ yếu trong hệ thống ngân sách quốc gia. Thuế phải
có tác dụng khuyến khích mọi tiềm năng, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các
tổ chức kinh tế và tạo được niềm tin cho các đối tượng nộp thuế để giúp cho các
đối tượng đó hiểu rằng nộp thuế là trách nhiệm, là nghĩa vụ đồng thời cũng thể
hiện sự tự nguyện nộp thuế của các tổ chức cá nhân trong cả nước.
Đất nước đang trên đà phát triển mạnh, cùng với sự chuyển mình đó là sự đóng
góp không nhỏ của các thành phần kinh tế trong đó phải kể đến là khối khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh. Họ đã và đang đóng góp vào ngân sách nhà nước đồng
thời giải quyết việc làm cho người lao động, giúp họ ổn định được cuộc sống.
Hà Nội.
1.1.1 Tình hình phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn Hà Nội
Thủ đô Hà Nội là trái tim của cả nước, là trung tâm kinh tế chính trị, văn hóa xã
hội của cả nước. Nền kinh tế của thủ đô rất đa dạng và phong phú, bao gồm cả
nông nghiêp, công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ.
Năm 2009 là năm nền kinh tế thế giới có nhiều biến động xấu đã ảnh hưởng đến
nền kinh tế của nước ta. Khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế, thị trường vốn
biến động, thiên tai…….tất cả đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế đặc biệt
ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh của khu vực kinh tế NQD.
Khủng hoảng tài chính, suy thoái nền kinh tế gây ảnh hưởng trực tiếp tới quy
mô, thu nhập của người nộp thuế, từ đó làm giảm qui mô kinh doanh của doanh
nghiệp đồng thời làm giảm nguồn thu ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, ngành thuế
vẫn đảm bảo được nguồn thu do NSNN đề ra và phòng Kiểm tra thuế số 4 hoàn
thành nhiệm vụ thu NSNN do cục thuế TP Hà Nội giao nhiệm. Cụ thể như sau:
Năm 2009, tổng thu NSNN của phòng đạt 3.460.590 triệu đồng bằng 149% so
với dự toán pháp lệnh, bằng 146% dự toán phấn đấu và bằng 161% so với cùng kỳ
năm 2008.
Hầu hết các khoản thu, các sắc thuế hoàn thành vượt mức và đạt mức tăng
trưởng cao. Một số sắc thuế đạt tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2008 như thuế
GTGT 116%, thuế TNDN đạt 159%, thuế môn bài đạt 110%, thuế TTĐB đạt
1.635%
Mặt khác, qui mô và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam trong
thời gian qua cũng bị ảnh hưởng rất lớn của cuộc khủng hoảng tài chính, suy giảm
kinh tế. Nhiều doanh nghiệp đã phải thực hiện nhiều giải pháp tiết kiệm chi phí, tu
nhỏ qui mô sản xuất, một số doanh nghiệp còn cho công nhân nghỉ việc luân phiên
hoặc nghỉ việc hẳn. Đặc biệt là khối ngân hàng, các doanh nghiệp gặp khó khăn
trong hoạt động sản xuất, kinh doanh dẫn tới hoạt động, thu nhập của Ngân hàng bị
giảm sút không nhỏ.
4
Bên cạnh đó, thu nhập của dân cư giảm sút do sản xuất, kinh doanh bị thu hẹp
5
Từ những đặc điểm trên, có thể nói các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế
NQD hoàn toàn độc lập tự chủ về nguồn tài chính, các doanh nghiệp tự bỏ vốn,
công sức để đầu tư, tìm kiếm lợi nhuận cho chính doanh nghiệp một cách tối đa.
Do vậy, việc kiểm soát của các doanh nghiệp này hết sức khó khăn phức tạp nhất
là trong xu hướng hiện nay các doanh nghiệp tìm đủ mọi thủ đoạn để trốn và tránh
thuế cho dù họ mang lại nhiều hậu quả cho nền kinh tế nói chung và cho công tác
quản lý của cán bộ thuế gặp nhiều khó khăn.
* Tình hình phát triển của khu vực kinh tế NQD trong điều kiện hiện nay
Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung phải
đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn, cùng với sự gia tăng về số lượng doanh
nghiệp và các ngành nghề kinh doanh phong phú đa dạng… Hàng năm, thông qua
hình thức thu thuế, khu vực kinh tế NQD đã đem lại nguồn thu đáng kể cho ngân
sách nhà nước.
Thông qua thu thuế TNDN, ta có bảng số liệu về số lượng doanh nghiệp trên cả
nước và tình hình thu thuế của khu vực kinh tế NQD theo số liệu thống kê của
phòng Kiểm tra thuế số 4 trong những năm gần đây (2007- 2009)
Bảng 1
Đơn vị: triệu đồng
Các chỉ tiêu Năm 2008 Năm
2009
Tỷ lệ
tăng
Tỷ
trọng
Số lượng DN trong cả
nước
320.000 460.000 140.000 43,75%
Số lượng DN trong KVKT
NQD của cả nước
lượng cán bộ trong Cục quản lý có giới hạn vì thế việc quản lý các ĐTNT này còn
gặp nhiều khó khăn và hạn chế. Cục thuế cần quan tâm hơn tới số lượng các cán bộ
công chức trong Cục để có thể quản lý chặt chẽ các doanh nghiệp trong khu vực
kinh tế NQD tránh tình trạng các doanh nghiệp trốn lậu thuế dưới nhiều hình thức.
Cùng với sự đóng góp chung cho nền kinh tế xã hội, các doanh nghiệp trong khu
vực kinh tế NQD có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Đặc biệt sau khi được
sửa đổi và bổ sung về các loại hình doanh nghiệp ngày 1/1/2004, nó đã tháo gỡ
được các thủ tục rườm rà, xóa bỏ các cơ chế cũ lạc hậu thay váo đó là những thủ
tục hành chính đơn giản hóa tạo động lực phát triển nhanh chóng các doanh nghiệp
về cả mặt số lượng và chất lượng các ngành kinh doanh phong phú đa dạng. Theo
số liệu từ phòng kiểm tra số 4 cục thuế Hà Nội, tính đến ngày 31/12/2009 số lượng
DN trong khu vực kinh tế NQD mà phòng đang quản lý là 1.957, số lượng các
doanh nghiệp đang hoạt động là 1.287, doanh nghiệp tạm nghỉ kinh doanh có công
văn là 92, doanh ngiệp đã ra thông báo bỏ trốn là 223, doanh nghiệp ngừng hoạt
động để làm thủ tục giải thể có khai báo là 162, doanh nghiệp không kê khai 147.
7
Hiện tại, phòng kiểm tra số 4 của Cục thuế Hà Nội quản lý chủ yếu là loại hình
công ty cổ phần chiếm khoảng 37,95%, công ty TNHH chiếm 60%, khối cơ quan
đoàn thể chiếm khoảng 2%, hợp tác xã chiếm 01 đơn vị và các chi nhánh của công
ty CP, công ty TNHH chiếm khoảng 80 đơn vị, toàn bộ doanh nghiệp nhà nước,
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài do các phòng ban khác quản lý. Cục thuế
giao nhiệm vụ quản lý doanh nghiệp NQD cho phòng kiểm tra số 4 thực hiện, do
số lượng doanh nghiệp NQD nhiều, đóng góp đáng kể vào nguồn thu NSNN, vì
vậy cần có những biện pháp quản lý kịp thời, chặt chẽ để tránh tình trạng trốn tránh
thuế, thực hiện mục tiêu thu thuế “ thu đúng thu đủ và thu kịp thời”
1.1.3 Khái quát bộ máy thu thuế của Cục thuế Hà Nội
1.1.3.1 Cơ cấu tổ chức của bộ máy cục thuế
Cục thuế thành phố Hà Nội được thành lập theo quyết định số 314 TC/ QĐ
ngày 21/08/1990 của Bộ Tài Chính,sửa đổi bổ sung theo quyết định số 728/ QĐ-
TCT ngày 18/06/2007 thay thế cho quyết định số 1683/ QĐ/ TCT- TCCB ngày
chịu trách nhiệm, các công việc không chồng chéo, thực hiện tốt nhiệm vụ thu
NSNN, cục thuế TP Hà Nội phân công cụ thể nhiệm vụ tới các trưởng phòng và
từng phòng ban.
Các trưởng phòng tổ chức triển khai và chịu trách nhiệm trước cục trưởng về
hoạt động của phòng, đảm bảo thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ được giao. Chịu
trách nhiệm thẩm định dự thảo các văn bản trình Lãnh đạo cục ban hành theo thẩm
quyền, rà soát các văn bản do phòng soạn thảo, đề xuất xử lý đối với các văn bản
ban hành chưa phù hợp các quy định của pháp luật hiện hành và hướng dẫn của
Tổng Cục Thuế.
Việc quản lý các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế NQD chủ yếu là nhiệm vụ
của phòng Kiểm tra thuế số 4, do vậy phòng phải theo dõi tình hình biến động về
số lượng ĐTNT trên địa bàn Hà Nội, nắm được số doanh nghiệp phát sinh, số
doanh nghiệp phá sản, giải thể, sát nhập, liên doanh, liên kết, xin nghỉ kinh
doanh….Phân tích tình hình thu nộp thuế cũng như việc tham gia lập dự toán thu
thuế, khai thác mọi nguồn thu trong các lĩnh vực được giao quản lý…….
Với cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ cụ thể được giao, cùng với sự lãnh
đạo và chỉ đạo sâu sắc , sự đoàn kết nhất trí của tập thể cán bộ công chức trong
thời gian qua phòng luôn cố gắng hoàn thành chỉ tiêu được giao.
1.1.4 Công tác quản lý thu thuế TNDN của cục thuế Hà Nội
9
1.1.4.1 Công tác quản lý thu thuế TNDN
Thuế là khoản thu nhập được chuyển giao bắt buộc từ các tổ chức cá nhân cho
Nhà Nước do pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục tiêu công cộng.
Thuế TNDN là thuế đánh trực tiếp vào thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp
trong một thời kì nhất định.
Do thuế TNDN là một sắc thuế trong hệ thống thuế, vì vậy nó mang đầy đủ đặc
điểm chung của thuế Nhà Nước, ngoài ra nó còn mang đặc điểm riêng sau:
Thuế TNDN là một loại thuế trực thu vì nó đánh trực tiếp vào thu nhập của
người nộp thuế. Theo luật định thì ĐTNT đồng thời là đối tượng chịu thuế; thuế
thu nhập doanh nghiệp mang tính chất công bằng theo chiều dọc vì nó tính đến khả
sự nỗ lực của các cán bộ công chức trong cục thuế. Trong những năm qua cục thuế
không ngừng luôn cố gắng hoàn thành mục tiêu đề ra. Kết quả số thu thuế được
tổng kết qua bảng 2 ( Báo cáo kết quả thực hiện thu NSNN năm 2008- 2009).
Qua bảng số liệu trên ta thấy: Năm 2009, tổng số thu của cục thuế Hà Nội là
3.460.590 triệu đồng hoàn thành 149% so với dự toán phấn đấu và bằng 161% so
với cùng kỳ năm 2008. Trong đó số thu của khu vực kinh tế NQD chiếm tỷ trọng
lớn, chiếm 95,80% số thu thuế. Năm 2009, số thu của doanh nghiệp NQD là
11
3.315.119 triệu đồng tăng 1.307.464 triệu đồng so với năm 2008 bằng 148% so
với dự toán pháp lệnh và bằng 165% so với cùng kỳ năm 2008.
Số thu thuế trong khu vực kinh tế NQD chiếm phần lớn trong tổng số nguồn thu
của Cục thuế, nó đã đóng góp một phần không nhỏ trong tổng nguồn thu NSNN,
số thu này ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển của khu vực kinh tế NQD
trong nền kinh tế hiện nay.Vì vậy một yêu cầu đặt ra là phải quản lý các doanh
nghiệp trong khu vực kinh tế NQD như thế nào để không bị thất thu cho NSNN
đồng thời tránh tình trạng trốn lậu thuế dưới mọi thủ đoạn. Đồng thời phải có biện
pháp quản lý chặt chẽ các doanh nghiệp khai thác tối đa mọi nguồn thu có thể được
nhằm tăng nguồn thu cho Nhà Nước.
Tổng thu thuế của khu vực Kinh tế NQD có sự đóng góp không nhỏ của các
các sắc thuế trong đó sắc thuế TNDN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NQD.
Bảng 3
Báo cáo kết quả thực hiện dự toán thu ngân sách theo sắc thuế
Năm 2008- 2009
Đơn vị: triệu đồng
12
S
T
T Sắc thuế
Năm 2008 Năm 2009
KH TH
Sắc thuế TNDN chiếm 1.949.943 triệu đồng bằng 159% so với dự toán pháp
lệnh và bằng 165% so với cùng kỳ năm 2008.
2.1.4.2 Những khó khăn thuận lợi trong việc quản lý thu thuế TNDN trên địa
bàn Hà Nội
* Thuận lợi
Trong những năm vừa qua, được sự quan tâm chỉ đạo của Bộ Tài Chính nói
chung và của tổng Cục thuế nói riêng, cục thuế TP Hà Nội có nhiều điều kiện
thuận lợi để phát triển mạnh mẽ, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Năm 2008 là năm có nhiều biến động lớn ảnh hưởng tới nền kinh tế. Nó cũng
gây tác động lớn đến tình hình sản xuất của các doanh nghiệp đặc biệt là khối
doanh nghiệp trong khu vực kinh tế NQD. Dưới sự chỉ đạo của tổng Cục thuế và
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, các ban ngành đoàn thể trong cục thuế đã nỗ
lực trong công tác quản lý thuế và thu thuế đóng góp vào NSNN. Kết quả thu
13
NSNN trong năm 2008 đã tăng cao. Tổng số thu thuế đạt 2.146.248 triệu đồng,
tăng 964.423 triệu đồng bằng 182% so với cùng kỳ năm 2007, bằng 152 % so với
Dự toán Pháp lệnh và bằng 147% so với dự toán Phấn đấu. trong đó số thu thuế
của khu vực kinh tế NQD đạt 2.007.655 triệu đồng bằng 144% so với dự toán Pháp
Lệnh, đạt 139% so với dự toán phấn đấu, bằng 175% so với cùng kỳ năm 2007.
Mặc dù chịu ảnh hưởng nhiều của các cuộc khủng hoảng kinh tế, nhưng năm
2009 cục thuế vẫn đạt số thu cao hơn nhiều so với năm 2008. Tổng số thu năm
2009 phòng dự kiến đạt 3.460.590 triệu đồng tăng 1.313.005 triệu đồng bằng 161
% so với cùng kỳ năm 2008, bằng 149% so với dự toán Pháp lệnh và bằng 146%
so với dự toán Phấn đấu. Trong đó, thu NQD đạt 3.315.119 triệu đồng tăng
1.307.418 triệu đồng bằng 146% so với cùng kỳ năm 2008.
Năm 2009 là năm thứ ba trong kế hoạch 5 năm lần thứ 2 ( 2005- 2010), nền kinh
tế đã có sự chuyển đổi mạnh mẽ cả về số lượng cũng như chất lượng. Trong những
năm nay, ngành thuế đã mở rộng trang thông tin điện tử ngành giúp cho các doanh
nghiệp có nhiều điều kiện truy cập nắm bắt nhanh thông tin về chính sách thuế, thủ
tục kê khai nộp thuế, chính sách ưu đãi miễn giảm cho từng đối tượng nộp thuế cụ
Trong quá trình triển khai Luật quản lý thuế, một bộ phận người nộp thuế chưa
thực sự tự giác tính đúng, tính đủ số thuế phải nộp; nộp đúng nộp đủ số thuế đã kê
khai. Một số doanh nghiệp cố tình gian lận thuế với đủ loại hành vi trong khi tình
trạng nợ đọng chây ì nộp thuế chậm được khắc phục ở một số địa bàn.
Do công tác phối hợp giữa cơ quan thuế với các cấp, ban, ngành chưa đồng bộ
nhịp nhàng nên chưa nắm được chính xác các trường hợp doanh nghiệp ngừng
hoạt động, giải thể, phá sản, các trường hợp di chuyển địa bàn, chia tách, sáp nhập
……do đó chưa quản lý đầy đủ chặt chẽ số lượng người nộp thuế. Cũng vì thế,
giữa khâu đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế còn có chênh lệch về cả số lượng
người nộp thuế và số thuế nộp.
Một bất cập lớn nữa là hệ thống số liệu liên quan đến quản lý thuế chưa được cập
nhật đầy đủ nên công tác thanh tra kiểm tra thuế trên cơ sở thu thập, phân tích
thông tin, đánh giá rủi ro theo quyết định của luật quản lý thuế còn nhiều hạn chế.
Công tác quản lý kê khai thuế vì thế cũng chưa đủ thông tin dữ liệu cần thiết để so
sánh, đối chiếu, phân tích tình hình sản xuất kinh doanh thực tế của từng doanh
15
nghiệp nhằm ngăn chặn kịp thời tình trạng người nộp thuế kê khai không đúng
không đủ số thuế phải nộp.
Tóm lại, cùng với những thuận lợi trên cục thuế cũng gặp không ít khó khăn
trong công tác quản lý thuế. Với nhiều hình thức khác nhau, các doanh nghiệp
đang ngày càng tinh vi hơn trong công tác trốn thuế dưới nhiều hình thức gây thất
thoát lớn cho NSNN. Do đó, việc đặt ra những biện pháp cụ thể để cho công tác
quản lý thuế của loại hình này là yêu cầu cần thiết.
1.2 Thực trạng công tác quản lý thuế TNDN đối với khu vực kinh tế NQD của
cục thuế Hà Nội.
1.2.1 Công tác quản lý thuế TNDN của cục thuế TP Hà Nội
Quản lý thuế TNDN đối với khu vực kinh tế NQD là một lĩnh vực khó và nhạy
cảm. Mặc dù vậy, trong những năm gần đây cục thuế đều có số thu năm sau cao
hơn năm trước, đến năm 2009 việc sát nhập các tỉnh vào Hà Nội dần được ổn định
vì vậy số thu cao hơn hẳn hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao. Kết quả được
Xây dựng chương trình công tác năm 2009 trên cơ sở mục tiêu là đảm bảo hoàn
thiện bộ máy tổ chức của Phòng, bao quát các mặt công việc, thực hiện tốt nhiệm
vụ kế hoạch được giao.
Thực hiện chương trình chống thất thu thuế thông qua việc tăng cường kiểm tra
quyết toán thuế đối với các doanh nghiệp. Tiến hành điều chỉnh thuế ngay từ đầu
năm để đảm bảo nguồn thu tương đối ổn định trong năm, tăng cường công tác rà
soát hóa đơn, phát hiện trốn và buôn bán hóa đơn, xử lý nghiêm minh trường hợp
vi phạm chế độ hóa đơn chứng từ.
17
Đôn đốc thu nộp, triển khai thường xuyên, đôn đốc các trường hợp nợ đọng dây
dưa theo quy trình xử phạt đến phát hành lệnh truy thu và chuyển hoàn tất hồ sơ
sang cơ quan chức năng khác tiến hành xử lý.
Bên cạnh những kết quả đạt được thì phòng quản lý thuế số 4 còn gặp nhiều khó
khăn, số lượng các doanh nghiệp nhiều mà nằm trên nhiều địa bàn khác nhau trong
khi đội ngũ cán bộ công chức trong phòng còn hạn chế không thể bao quát giám
sát được tất cả các doanh nghiệp. Vì vậy mỗi cán bộ trong phòng phải gánh vác
nhiều công việc, vì thế gặp không ít khó khăn. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức
năng trong cục với doanh nghiệp còn chậm chạp gặp nhiều hạn chế.
1.2.2 Nội dung công tác quản lý thuế của cục thuế
1.2.2.1 Công tác quản lý đối tượng nộp thuế
Để huy động được nguồn thu NSNN, đối với khu vực kinh tế NQD thì cần
phải quản lý đối tượng nộp thuế bởi qua công tác quản lý đối tượng nộp thuế sẽ
giúp cho cục thuế thống kê được các đơn vị sản xuất kinh doanh về mặt số lượng,
ngành nghề kinh doanh với những hình thức kinh doanh cụ thể. Do vậy, công tác
quản lý đối tượng nộp thuế là công việc đầu tiên trong quá trình thu thuế và có ý
nghĩa quyết định đến số thu vào NSNN. Để tạo điều kiện trong quá trình hoạt động
sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thì việc cấp mã số thuế do cục thuế TP Hà
Nội cấp mà phòng kiểm tra số 4 quản lý tính đến ngày 31/12/2009 có khoảng
1.957 doanh nghiệp trong đó số doanh nghiệp đang hoạt động là 1.287, doanh
nghiệp ngừng nghỉ tạm thời có khai báo là 92, doanh nghiệp ngừng hoạt động để
Thc hin rà soát li danh sách TNT ca phòng kê khai và kim tra thu cung cp
ã ghi nhn thêm 126 TNT không kê khai; 6 n v ph thuc không kê khai
Đã rà soát lại danh sách các ĐTNT xó công văn xin giải thể, sắp xếp lại hồ sơ,
xác định các việc cần phải làm để thực hiện xóa mã cho ĐTNT và đã xóa được 23
MST của các đơn vị có công văn xin giải thể. Sau khi cán bộ thực hiện rà soát
nhóm tổng hợp ĐTQL đã kết hợp cùng nhóm tổng hợp công tác kiểm tra quyết
toán xác định các việc cần phải làm cụ thể cho từng trường hợp giải thể, đôn đốc
công chức có người nộp thuế có công văn giải thể năm 2008, 2009 thực hiện quyết
toán để giải thể và xóa MST kịp thời và nên kế hoạch để kiểm tra quyết toán để
giải thể với những người nộp thuế có công văn giải thể trước năm 2008.
19
Lập danh sách ĐTNT mà các cán bộ đang thực hiện quản lý chưa đúng địa bàn,
quận, huyện yêu cầu cán bộ rà soát bổ sung nếu thiếu để chuyển về đúng cán bộ
quản lý địa bàn quận, huyện ( không điều chuyển nếu trong cùng một quận huyện).
Cán bộ toàn phòng đã thực hiện rà soát 2 lần xác định chính xác trạng thái của
các đơn vị không kê khai để mỗi cán bộ nắm rõ trạng thái của các DDTNT trên địa
bàn để có hướng xử ký phù hợp theo các bước của quy trình. Nhóm tổng hợp
ĐTQL phân loại chính xác trạng thái ĐTNT theo báo cáo của cán bộ xác định các
bước công việc cần phải làm cụ thể cho từng trạng thái. Thông báo cho cán bộ các
bước thực hiện với các nội dung sau:
Đối với doanh nghiệp đang hoạt động theo dõi tình hình hoạt động của doanh
nghiệp, số thuế mà doanh nghiệp phải nộp vào NSNN.
Đối với doanh nghiệp ngừng hoạt động: trường hợp doanh nghiệp nghỉ kinh
doanh có công văn, cán bộ quản lý xem số, ngày tháng của công văn xin ngừng
hoạt động, thời gian xin ngừng hoạt động và thu hồi hóa đơn của doanh nghiệp;
còn trường hợp doanh nghiệp nghỉ kinh doanh không có công văn cán bộ thuế phải
gửi giấy mời đến kê khai và xử phạt hành chính.
Trường hợp doanh nghiệp không đăng kí thuế, không xin cấp mã số thuế; khi cán
bộ phát hiện sẽ tiến hành xử phạt hành chính và hướng dẫn doanh nghiệp làm thủ
tục đăng ký thuế.
quan trọng đặc biệt đối với công tác quản lý thuế TNDN. Nhưng trên thực tế cơ
chế kiểm soát thu nhập của chúng ta còn có nhiều bất cập và còn đối mặt với nhiều
khó khăn như: nền kinh tế nước ta phát triển chậm, mặc dù đã có nhiều biện pháp
dung thẻ tín dụng thay cho việc sử dụng bằng tiền mặt nhưng lượng tiền mặt trong
lưu thông còn chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, chính pháp luật
của Nhà Nước để kiểm soát căn cứ tính thuế còn chưa chặt chẽ, còn có những quy
định mâu thuẫn chồng chéo… Đây là những cơ sở để cho ĐTNT diễn ra những
quy định ngầm gây khó khăn cho bộ máy quản lý của Nhà Nước.
Qua quá trình thực tập em thấy việc kiểm soát căn cứ tính thuế là một công việc
hết sức khó khăn phức tạp đối với cán bộ trong công tác quản lý thuế nói chung và
trong công tác quản lý thuế TNDN nói riêng. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp
trong khu vực kinh tế NQD, để quản lý tốt số thu nhập chịu thuế thì phải mất nhiều
thời gian, công sức mới có thể hạn chế được gian lận. Trong thời gian gần đây cơ
chế tự khai tự nộp được áp dụng mạnh mẽ và phổ biến trong khi đó số lượng doanh
21
nghiệp ngày càng gia tăng mà số lượng cán bộ công chức quản lý thuế có hạn thì
việc quản lý chính xác số thu nhập chịu thuế của mỗi doanh nghiệp là không thể.
Qua tài liệu báo cáo kiểm tra quyết toán thuế của các doanh nghiệp, ta có bảng
thu sau quyết toán thuế như sau:
Bảng 6
Bảng báo cáo nguồn thu sau quyết toán thuế năm 2007- 2008
Đơn vị: triệu đồng
S
T
T
Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008
Số thu
Tỷ
trọng
Đơn vị : triệu đồng
S
T
T
Mã số thuế
Tên doanh nghiệp Tổng số
Trong đó
Quý4/2
008
Sau QT
2009
1 0100233583 Ngân hàng TM CP các
doanh nghiệp NQD VN
25.093 25.093 -
2 000230800 Ngân hàng TM CP kỹ
thương Việt Nam
400.970 5.000 395.970
3 2700113651 Ngân hàng TM CP dầu khí
Toàn Cầu
19.300 19.300 -
4 0100283721 Ngân hàng TM CP nhà Hà
Nội
72.834 10.000 62.834
5 0200253985 Ngân hàng TM CP Đông
Nam Á
97.885 5.000 92.885
6 0100283873 Ngân hàng TM CP quân đội
88.818 88.818 -
7 0102744865 Ngân hàng TM CP Tiên
3 Thuế GTGT đầu vào 1.547.660 1.523.200 24.460
4 Thuế GTGT còn được khấu trừ
77.530
77.530
5 Thuế GTGT được khấu trừ năm trước
chuyển sang
56.980 56.980
6 Thuế GTGT còn được khấu trừ chuyển
sang kì sau
154.520 154.520
7 GTGT phải nộp trong kì quyết toán
8 Doanh thu tính thu nhập chịu thuế 23.213.31
0
23.213.31
0
9 Tổng chi phí 23.059.960 22.569.090 (490.870)
- Khấu hao
- Giá vốn hàng bán 21.178.11
0
20.690.05
0
488.060
- Tiền lương 1.272.000 1.272.000
- Chi phí khác 609.850 607.040 (2.810)
1
0
Thu nhập từ hoạt động SX KD
153.350 644.420 490.870
11 Thu khác 6.690 6.690
sản xuất kinh doanh của doanh nhgiệp nhằm mục đích làm giảm số thuế TNDN mà
cơ sở phải nộp, việc này thường xảy ra ở một số trường hợp sau:
Lợi dụng thói quen của người tiêu dùng khi mua hàng hóa về sử dụng thường
không lấy hóa đơn bán hàng hoặc thông đồng với người mua hàng hóa để ghi giá
thấp hơn so với giá bán thực tế. Hình thức này thường diễn ra đối với các doanh
nghiệp kinh doanh những mặt hàng như: Ô tô, xe máy, điện tử, điện lạnh… Hoặc
những doanh nghiệp sản xuất cung cấp trực tiếp cho người tiêu dùng như doanh
nghiệp sản xuất đồ gỗ, đồ nhựa, cơ khí tiêu dùng, kinh doanh nhà hàng, khách sạn
Ví dụ: Công ty TNHH Niềm Tin mã số thuế 0100236746 chuyên sản xuất lắp ráp
xe máy, xe đạp, xe ô tô…. Cán bộ quản lý đã kiểm tra quyết toán thuế năm 2007
qua việc đối chiếu giữa nhật ký bán hàng, sổ cái và sổ chi tiết phải thu của khách
hàng thấy giá trị ghi trên nhật kí bán hàng là 14.500.000 đồng còn giá trị ghi trên
sổ chi tiết phải thu của khách hàng là 12.000.000 đồng.
25