ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ LAN HƢƠNG
GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ
THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số : 60 34 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Thế Phán Thái Nguyên, năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
LỜI CẢM ƠN Được sự hướng dẫn nhiệt tình của Phó giáo sư - TS Nguyễn Thế Phán cùng
với những ý kiến đóng góp quý báu của các Thầy, cô trong khoa sau đại học, trường
Đại học Kinh tế Thái Nguyên. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc
nhất tới những sự giúp đỡ quý báu đó.
Để hoàn thành Luận văn này tôi xin chân thành cám ơn Lãnh đạo Cục thuế
tỉnh Bắc Ninh, Sở kế hoạch đầu tư, Sở tài chính tỉnh Bắc Ninh, Các ban ngành cùng
với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã giúp tôi trong suốt quá trình
thực hiện Luận văn này.
Tôi xin chân thành cám ơn./.
Bắc Ninh, ngày tháng năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Lan Hương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục Lục iii
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng, biểu viii
Danh mục các hình (hình vẽ, ảnh chụp, đồ thị…) ix
2.2.3. Phương pháp thu thập thông tin 40
2.2.4. Phương pháp xử lý, tổng hợp và phân tích thông tin 42
2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu đánh giá công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn
tỉnh 43
2.3.1. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả và chất lượng công tác quản lý thuế
TNCN 43
2.3.2. Nhóm chỉ tiêu đánh giá tính tuân thủ Pháp luật thuế của ĐTNT 43
Chƣơng III: Thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh 47
3.1. Khái quát về kinh tế - xã hội của Tỉnh Bắc ninh và Cục thuế Bắc Ninh 47
3.1.1. Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Ninh 47
3.1.2. Khái quát về Cục thuế Bắc Ninh 49
3.2. Thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 53
3.2.1. Công tác tổ chức bộ máy quản lý thuế TNCN 53
3.2.2. Quy trình quản lý thu thuế 56
3.3. Đánh giá chung công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 70
3.3.1. Những kết quả đạt được 70
3.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân 73
Chƣơng IV: Giải pháp nhằm tăng cƣờng công tác quản lý thuế TNCN trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới 81
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
4.1. Định hướng nhằm nâng cao công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh 81
4.1.1. Đảm bảo đúng chủ trương, chính sách, pháp luật thuế trong từng giai đoạn 81
4.1.2. Đảm bảo công bằng xã hội và nguồn thu cho NSNN 81
4.2. Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh 82
4.2.1. Giải pháp chung 82
4.2.2. Giải pháp cụ thể 84
4.3. Kiến nghị 92
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
STT
Tên bảng
Trang
Biểu 1.1
Tổng hợp mức thuế suất TNCN
theo Luật thuế TNCN của VN
27,28
Biểu 1.2
Biểu thuế luỹ tiến từng phần
28
Biểu 1.3
Biểu thuế suất áp dụng cho cá nhân không cư trú
có thu nhập chịu thuế từ kinh doanh
29
Biểu 3.1
Kết quả thu thuế TNCN trên tổng nguồn thu
trên địa bàn Bắc Ninh giai đoạn 2009 -2011
50
Biểu 3.2
Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế theo chức năng
Biểu đồ 3.1
Kết quả thu thuế TNCN giai đoạn 2009-2011
51
Sơ đồ 3.1
Bộ máy tổ chức Cục thuế tỉnh Bắc Ninh
52
Biểu đồ 3.2
Kết quả cấp MST cá nhân giai đoạn 2009-2011
57
Hình 3.1
Tỷ lệ các nguồn tìm hiểu thông tin về cấp MST
57
Hình 3.2
Tỷ lệ đánh giá về hiệu quả sử dụng công nghệ thông
tin của CQCT và NNT có thu nhập từ kinh doanh
62 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Thuế thu nhập nói chung và thuế TNCN nói riêng đã được áp dụng từ lâu
trên thế giới và có lịch sử hàng trăm năm. Thuế TNCN được áp dụng lần đầu tiên ở
Anh năm 1799 dưới hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến
tranh chống Pháp và được chính thức ban hành vào năm 1842. Sau đó, thuế TNCN
được nhanh chóng lan truyền sang các nước công nghiệp khác như: Nhật (năm
1887), Mỹ (năm 1913), Pháp (năm 1914) Các nước Châu Á như Thái Lan bắt đầu
áp dụng vào năm 1939, ở Phi-líp-pin năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, In-đô-nê-sia
năm 1949, Trung Quốc năm 1984. Đến nay, đã có khoảng 180 nước áp dụng thuế
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn từ đó đề xuất một số giải pháp chủ
yếu nhằm tăng cường công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu đề ra, đề tài tập trung vào một số nhiệm vụ cơ bản sau:
Hệ thống hóa và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về thuế Việt Nam nói
chung và thuế TNCN nói riêng.
Nghiên cứu kinh nghiệm của một số địa phương về công tác quản lý thuế
TNCN.
Phân tích, đánh giá thực trạng của công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh.
Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thuế TNCN trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nhằm tăng cường công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
gồm một số vấn đề cơ bản sau:
Cơ quan quản lý thuế các cấp (từ tỉnh xuống thành phố, huyện, thị xã)
Đối tượng chịu thuế TNCN; Đối tượng nộp thuế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài tập trung chủ yếu nghiên cứu, đánh giá công tác quản
lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Về thời gian: Các số liệu thống kê được phân tích từ giai đoạn 2009 - 2011.
4. Những đóng góp của luận văn
Hệ thống hoá các vấn đề lý thuyết cơ bản về công tác quản lý thuế TNCN.
Làm sáng tỏ thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trong những năm qua.
Xác định những điểm mạnh, điểm yếu, những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân
cơ sở đó có những bước đi và giải pháp đúng đắn, hợp lý đối với công tác quản lý
thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
1.1. Tổng quan về thuế và thuế thu nhập ở Việt Nam
1.1.1. Tổng quan về thuế
1.1.1.1. Khái niệm về thuế
Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về thuế, vì thế chúng ta vẫn chưa có
một khái niệm thống nhất về thuế. Một khái niệm về thuế được coi là hoàn hảo nhất
được nêu trong cuốn “economics” của hai nhà kinh tế học của Mỹ (Makkollhell và
Brury) như sau: “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền hoặc chuyển
bằng hàng hóa, dịch vụ của Công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự
trao đổi đó họ không được nhận trực tiếp hàng hóa, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó
không phải là khoản tiền phạt mà tòa án phạt do hành vi vi phạm pháp luật.”
Các khái niệm về thuế có thể có nhiều cách hiểu khác nhau về thuế nhưng
nhìn chung trong các cách hiểu thì: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà
nước mang tính bắt buộc, gắn với quyền lực của nhà nước và người nộp thuế đóng
góp bắt buộc theo luật thuế mà không được hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu
chi tiêu của Nhà nước.
1.1.1.2. Hệ thống thuế của Việt Nam
Hệ thống thuế của nước ta bao gồm nhiều sắc thuế mà Nhà nước sử dụng để
tạo lập nguồn thu NSNN và thực hiện các mục tiêu nhất định trong quản lý nền kinh
tế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Hệ thống thuế nước ta qua nhiều lần cải cách bằng nhiều văn bản luật thuế,
pháp lệnh và áp dụng chung cho mọi thành viên trong cả nước. Hệ thống thuế của
Việt Nam bao gồm các loại thuế sau: (1) Thuế giá trị gia tăng; (2) Thuế thu nhập
doanh nghiệp; (3) Thuế tiêu thụ đặc biệt; (4) Thuế xuất khẩu, nhập khẩu; (5) Thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp; (6) Thuế tài nguyên; (7) Thuế TNCN; (8) Thuế môn
bài; (9) Thuế môi trường; …
Ngoài ra, còn có một số loại phí khác có tính chất như thuế: lệ phí trước bạ,
sản, hàng hóa mà một luật thuế nhất định tác động vào.Đối tượng đánh thuế là mục
tiêu tác động của thuế.
Căn cứ tính thuế: là những yếu tố mà người thu thuế dựa để tính số tiền thuế
phải nộp. Các loại thuế khác nhau thì có cách tính khác nhau. Khi cần xem xét căn
cứ tính thuế thì cần xem xét các yếu tố như: Thuế suất, đơn vị tính thuế, giá tính
thuế
Miễn giảm thuế: qui định cho phép NNT không phải thực hiện nghĩa vụ nộp
toàn bộ số tiền thuế mà người đó phải nộp cho nhà nước (miễn thuế) hoặc chỉ nộp
một phần số tiền thuế đó (giảm thuế).
Thưởng phạt: thưởng là hình thức nhà nước khuyến khích người có thành
tích trong thực hiện các luật thuế. Phạt là hình thức kỉ luật đối với người vi phạm
luật thuế.
Thủ tục thuế: đó là những qui định về giấy tờ và trình tự thu nộp mang tính
chất hành chính để thi hành luật thuế (như thủ tục kê khai, tính thuế và nộp thuế).
Ngoài những yếu tố trên, trong luật thuế cũng bao giờ qui định rõ quyền hạn
trách nhiệm của chính phủ, UBND các cấp, của Bộ tài chính, cơ quan thuế ở trung
ương và các địa phương, nghĩa vụ của người nộp thuế.
1.1.2. Tổng quan về thuế TNCN
1.1.2.1. Khái niệm về thuế TNCN
Thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh trên thu nhập nhận được của các
cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) hoặc theo từng
lần phát sinh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Thuế TNCN là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động
nguồn thu cho ngân sách và thực hiện công bằng xã hội.Thuế TNCN đánh vào cả cá
nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh.
1.1.2.2. Vai trò của thuế TNCN
Là một bộ phận của hệ thống thuế, thuế TNCN vừa mang các vai trò chủ
yếu của thuế nói chung vừa có các vai trò riêng mà các loại thuế khác không có
Một là, thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của NNT,
người nộp thuế đồng nhất với người chịu thuế nên khó có thể chuyển gánh nặng
thuế sang cho người khác.
Hai là, thuế TNCN là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực tiếp
đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã
hội. Đặc điểm này xuất phát từ tính trực thu của thuế TNCN.
Ba là, thuế TNCN là loại thuế luôn gắn liền với chính sách xã hội của mỗi
quốc gia mặc dù các quốc gia hiện nay vẫn luôn hướng tới một hệ thống chính sách
thuế mang tính trung lập.Khi tính Thuế TNCN có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân
của người nộp thuế bằng việc quy định một số khoản được khấu trừ có tính chất xã
hội trước khi tính thuế.
Bốn là, thuế TNCN thường được tính theo biểu thuế luỹ tiến từng phần do
thuế TNCN được đánh theo nguyên tắc “khả năng nộp thuế” và cũng xuất phát từ
vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, động viên
sự đóng góp của những người có thu nhập thấp, thu nhập trung bình trong xã hội.
Năm là, thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hoá, dịch vụ.Thuế TNCN
không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hoá, dịch vụ nên nó không tạo
ra sự sai lệch giá cả hàng hoá, dịch vụ.
1.2. Tổng quan về quản lý thuế TNCN
1.2.1. Khái niệm quản lý thuế TNCN
Quản lý thuế TNCN là sự tác động có chủ đích của cơ quan chức năng trong
bộ máy nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế TNCN để thay đổi quá trình này
nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được các mục tiêu nhà nước đặt ra.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
1.2.2. Sự cần thiết phải tăng cƣờng công tác quản lý thuế TNCN
Tăng cường công tác quản lý đối với thuế TNCN nhằm hoàn thiện hệ thống
chính sách thuế TNCN đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội: Có thể nói thuế
TNCN không chỉ là nguồn thu của NSNN mà còn là công cụ quan trọng điều tiết
thu nhập của cá nhân có thu nhập theo hướng người có thu nhập cao phải nộp thuế
tỷ trọng 15-16% có nước đạt tới tỷ trọng 30- 40% như Anh, Mỹ. Việt Nam, tỷ trọng
thu về thuế TNCN cũng mới chỉ đạt khoảng 5% tổng thu ngân sách.
Quản lý thuế của Nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện thuế TNCN được
nghiêm minh: Do đặc điểm của Thuế TNCN là một loại thuế trực thu điều tiết vào
thu nhập của cá nhân, do người chịu thuế trực tiếp nộp thuế vào NSNN, nên nó rất
có tác dụng trong việc điều hoà thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu
nhập và tài sản giữa các những người dân cư.Tuy nhiên, thuế TNCN lại có hạn chế
lớn là dễ gây phản ứng từ phía NNT hoặc dễ xảy ra tình trạng trốn, lậu thuế nếu quy
định mức thuế suất cao. Hơn nữa, thuế TNCN có diện thu thuế rộng và phân tán,
việc theo dõi, tính toán và thu thuế rất phức tạp.Vì vậy, nếu không có biện pháp
quản lý thu thuế hiệu quả thì dễ dẫn đến hạn chế tác dụng của loại thuế này trong
việc tập trung số thu đầy đủ, kịp thời về cho NSNN, do đó phải có quản lý thuế của
Nhà nước để đảm bảo việc thu thuế được nghiêm chỉnh, đúng pháp luật.
Quản lý thuế của Nhà nước đối với thuế TNCN để đảm bảo mục tiêu công
bằng xã hội: Thuế TNCN động viên trực tiếp vào thu nhập của cá nhân, thể hiện rõ
nghĩa vụ của công dân đối với đất nước và được căn cứ trên các nguyên tắc "lợi
ích", "công bằng" và "khả năng nộp thuế". Theo nguyên tắc lợi ích thì mọi người
trong xã hội đều được hưởng những thành quả phát triển của đất nước về luật pháp
thể chế, cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội, an ninh trật tự đồng thời cũng có nghĩa vụ
đóng góp một phần thu nhập của mình cho xã hội thông qua việc nộp thuế. Nguyên
tắc "công bằng" và “khả năng nộp thuế” thể hiện ở chỗ: người có thu nhập cao hơn
thì nộp thuế nhiều hơn, người có thu nhập như nhau nhưng có hoàn cảnh khó khăn
hơn thì nộp thuế ít hơn, mỗi cá nhân dù có thu nhập từ các nguồn khác nhau đều
được điều chỉnh thống nhất trong một chính sách thuế; Ở nước ta hiện nay cùng với
sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập của các những người dân cư cũng tăng lên,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
nhưng khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao và
nhóm người có thu nhập thấp cũng có xu hướng ngày càng tăng, thu nhập của các
những người nhân dân có sự chênh lệch nhau, số đông dân cư có thu nhập còn thấp,
ta sẽ vừa tiết kiệm được chi phí cho công tác quản lý thu thuế đồng thời vẫn đảm
bảo thực hiện tốt công tác thu thuế.
Công tác quản lý thuế TNCN đặc biệt quan trọng ở khâu quản lý thu nhập
của các ĐTNT. Chính vì vậy, chúng ta cần phải giám sát thu nhập của tất cả các đối
tượng lao động.Để từ đó chúng ta có thể xác định được đối tượng nào phải nộp thuế
và nộp thuế là bao nhiêu. Muốn thực hiện tốt điều này thì chúng ta cần phải có chế
độ giám sát các khoản thu nhập một cách chặt chẽ như phải mở sổ sách kế toán,
chứng từ và các khoản chi trả thu nhập cần phải được làm sáng tỏ trong sổ sách kế
toán. Khi đó cơ quan thuế sẽ dễ dàng hơn nhiều trong việc xác định cũng như kiểm
tra thu nhập của người lao động. Đồng thời để tạo thuận lợi cho công tác giám sát
kiểm tra các ĐTNT thì cơ quan thuế cần phải tiến hành cấp MST cho các ĐTNT và
cơ quan chi trả thu nhập. Sau khi cấp MST thì cơ quan thuế có thể giám sát các đối
tượng qua MST của họ, nhờ đó mà tránh được tình trạng thiếu sót các ĐTNT đồng
thời cũng đảm bảo sự nhanh gọn cho cơ quan thuế trong công tác quản lý thu thuế.
Công tác quản lý thuế TNCN không chỉ dừng lại ở việc thu thuế đầy đủ
đúng như qui định, nó còn cần phải phát hiện ra những bất cập, thiếu sót trong qui
định về nội dung luật thuế cũng như những qui định trong công tác quản lý kê khai
nộp thuế. Trong quá trình thực hiện quản lý thuế, cơ quan sẽ dễ dàng tìm ra những
sai sót trong quá trình lập chính sách, đồng thời cũng sẽ dễ tìm ra những cách thức
phương pháp quản lý thuế tốt nhất, thuận tiện nhất, đơn giản nhất và tất nhiên đảm
bảo được yêu cầu thu đủ và kịp thời số thu vào NSNN.Từ đó cơ quan thuế có thể
kiến nghị lên cấp trên xem xét để có thể hoàn thiện tốt hơn Luật thuế TNCN và
công tác tổ chức quản lý thuế TNCN.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác quản lý thuế TNCN
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN.Mỗi nhân tố
đều có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới công tác này tùy theo tính chất và
trạng thái của nhân tố đó.Nhiệm vụ của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
nước là phải tìm cách hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực cũng như phát huy những
Quan điểm của lãnh đạo ảnh hưởng đến các biện pháp xử lý đối với các
ĐTNT tìm cách trốn thuế, dây dưa, chây ì trong việc thực hiện nghĩa vụ kê khai,
nộp thuế và hợp tác với cơ quan thuế. Đối với những đối tượng có hành vi gian lận
thuế, trốn thuế cần có những hình thức xử phạt thích đáng, đảm bảo tính công bằng,
làm cho mọi người tin tưởng vào pháp luật, tích cực đấu tranh chống các hành vi vi
phạm.
1.2.4.2. Cơ sở vật chất của ngành thuế
Nhân tố này có ảnh hưởng mạnh mẽ tới công tác quản lý thuế TNCN.Những
quy định trong chính sách về diện thu thuế (rộng hay hẹp), phương thức kê khai,
nộp thuế, quyết toán thuế…phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đáp ứng của ngành
thuế.Khả năng này lại phụ thuộc rất lớn vào cơ sở vật chất của ngành thuế. Cũng
như vậy, một hệ thống thu thuế được kết nối bằng mạng nội bộ sẽ là một nhân tố rất
hữu ích cho cơ quan thuế trong việc quản lý thu thuế hiệu quả, chính xác, kịp thời
và tiết kiệm chi phí.Việc xây dựng mạng thông tin nội bộ để quản lý cơ sở dữ liệu
sẽ đòi hỏi những chi phí bước đầu tương đối lớn, nhưng xét về dài hạn thì điều này
sẽ tiết kiệm chi phí hơn rất nhiều so với việc quản lý dữ liệu theo kiểu thủ công.
1.2.4.3. Trình độ và phẩm chất đạo đức đội ngũ lãnh đạo cán bộ thuế
Trình độ đội ngũ cán bộ thuế có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý
thuế, đặc biệt là thuế TNCN.Nhân tố này tác động vào tất cả các khâu của công tác
quản lý thuế TNCN, từ ban hành chính sách, tổ chức thực hiện chính sách tới thanh
tra, kiểm tra thuế và tổ chức bộ máy quản lý thuế.
Để ban hành chính sách đúng đắn, đáp ứng được yêu cầu của những thay đổi
kinh tế xã hội và đảm bảo được những mục tiêu của công tác quản lý thuế TNCN
thì đội ngũ cán bộ thuế ở tầm hoạch địch chính sách cần phải có trình độ cao về vấn
đề thực tế cũng như lý thuyết liên quan đến thuế, kinh tế vĩ mô và quản lý nhà
nước… và phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với công việc.Nếu nhà hoạch định
chính sách có trình độ thấp và phẩm chất đạo đức kém sẽ đưa ra các chính sách
chứa đựng nhiều sai sót không chỉ ảnh hưởng tiêu cực tới công tác quản lý thuế
TNCN mà tới cả hệ thống thuế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
1.2.4.5. Tính nghiêm minh của luật pháp
Cơ quan quản lý làm việc có hiệu quả, luật pháp được thực hiện nghiêm
minh sẽ đảm bảo việc vi phạm giảm đi.Các ĐTNT cũng như cơ quan thuế cũng sẽ
thực hiện nghiêm túc hơn các quy định trong luật thuế bởi họ biết rằng khi vi phạm
họ sẽ không tránh khỏi những hình phạt.Như vậy, công tác quản lý thuế TNCN sẽ
đạt hiệu quả hơn.
1.2.4.6. Tình hình kinh tế và mức sống của người dân
Hiệu quả của công tác quản lý thuế TNCN phụ thuộc không nhỏ vào mức độ
phát triển kinh tế và đời sống của dân cư.Cùng một đơn vị thu thuế trên một khu
vực, số đối tượng nộp thuế TNCN nhiều, số thuế thu được nhiều sẽ giảm bớt chi phí
trên một đồng thuế thu được, và ngược lại có ít đối tượng nộp thuế và số thuế thu
được ít thì chi phí cho một đồng thuế thu được sẽ cao. Sự phát triển kinh tế sẽ đồng
hành với sự phát triển của cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác quản lý nói chung và
công tác quản lý thuế TNCN nói riêng. Khi cơ sở hạ tầng tốt thì khả năng quản lý
thuế cũng sẽ được đơn giản và hiệu quả.
1.2.4.7. Ý thức chấp hành luật thuế của đối tượng nộp thuế
Ý thức chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng tỉ lệ thuận
với ý thức và trách nhiệm nộp thuế. Khi người dân có ý thức chấp hành luật thuế
tốt, họ sẽ tự giác trong kê khai, nộp thuế; Hành vi trốn thuế sẽ ít xảy ra. Từ đó, công
tác quản lý thu thuế sẽ gặp nhiều thuận lợi và đạt kết quả tốt hơn. Nếu người dân có
ý thức chất hành luật thuế kém sẽ làm giảm hiệu quả của công tác quản lý thu
thuế.Thực tế, khi người dân nhận thức được quyền lợi họ sẽ được hưởng những
hàng hóa, dịch vụ công cộng mà nhà nước cung cấp họ sẽ thấy rõ trách nhiệm của
mình đối với nhà nước là đóng thuế cho Nhà nước.
Tóm lại: ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT cũng ảnh hưởng một
phần tới công tác quản lý thuế TNCN.Ý thức chấp hành luật của người dân có thể
nâng cao dần qua quá trình tuyên truyền, giáo dục.