Báo cáo tốt nghiệp "Tín
dụng: cơ sở lí luận và thực
tiễn ở Việt Nam"
1
Mục lục
I. ĐẶT VẤN ĐỀ HIỆN NAY
1. Tính cấp thiết
2. Mục tiêu nghiên cứu
II. NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
1. Cơ sở lí luận về tín dụng
1.1. Khái niệm:
1.2. Cơ sở ra đời của tín dụng
1.3. Bản chất của tín dụng
1.4. Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường:
1.5. Một số hình thức tín dụng chủ yếu
2. Thực tiễn tín dụng ở Việt Nam
III. KẾT LUẬN.
2
Nội Dung
I. ĐẶT VẤN ĐỀ HIỆN NAY
1. Tính cấp thiết
Hiện nay, Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất
nước, muốn vậy cần có nền kinh tế tăng trưởng và phát triển cao. Trong đó
nhu cầu về vốn là hết sức cần thiết, được coi là yếu tố hàng đầu, là tiền đề
phát triển kinh tế.Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của đảng
đã đề ra: “để công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước cần huy động nhiều
nguồn vốn sẵn có với sử dụng vốn có hiệu quả, trong đó nguồn vốn trong nước
là quyết định nguồn vốn bên ngoài là quan trọng...”. Tín dụng ra đời rất sớm,
ra đời khi xã hội bắt đầu có sự phân công lao động xã hội và chế độ sở hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất. Tín dụng đã tồn tại và phát triển ở nhiều nền kinh tế
có danh từ thuật ngữ tín dụng. Những hành vi tín dụng có thể do bất cứ ai thực
hiện. Chẳng hạn hai người thường có thể cho nhau vay tiền. Tuy nhiên ngày
nay khi nói tới tín dụng người ta nói ngay tới các ngân hàng vì các cơ quan
này chuyên làm các việc như cho vay, bảo lảnh, chiết khấu, kí thác và phát
hành giấy bạc.
1.2. Cơ sở ra đời của tín dụng
Khi có sự phân công lao động xã hội và sự xuất hiện của sở hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất thì tín dụng ra đời. Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
dẫn đến sở hữu tư nhân về sản phẩm làm ra. Xã hội có sự phân hoá giàu nghèo.
Những người nghèo khi gặp khó khăn trong cuộc sống họ phải vay mượn. Tín
dụng ra đời. Trên phương diện xã hội, do có sự phân công lao động xã hội hình
thành sản xuất hàng hoá và tiền tệ đã xuất hiện để sử dụng trong quá trình sản
xuất hàng hoá. Người sản xuất có lúc thiếu vốn bằng tiền để tiến hành sản xuất
kinh doanh nhưng có lúc thừa vốn bằng tiền. Để điều chỉnh nhu cầu và khả
năng vốn bằng tiền của các chủ thể trong quá trình sản xuất hàng hoá đòi hỏi
tín dụng ra đời.
Trong lịch sử phát triển kinh tế xã hội, hình thức đầu tiên của tín dụng
là tín dụng nặng lãi được ra đời vào thời kì cổ đại. Trong xã hội nô lệ và nhất
4
là ở xã hội phong kiến, tín dụng nặng lãi đã phát triển và mở rộng hơn. Đặc
điểm của tín dụng nặng lãi là lãi suất rất cao, hình thức vận động của vốn rất
đa dạng, dưới nhiều hình thức và mục đích vay vào tiêu dùng là chủ yếu. Khi
phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa hình thành và phát triển, nền sản xuất
hàng hoá lớn được mở rộng, tín dụng tư bản chủ nghĩa về cơ bản đã thay thế
tín dụng nặng lãi. Tuy vậy tín dụng nặng lãi không mất đi mà vẫn tồn tại và
phát triển ở nhiều nền kinh tế với các mức độ phát triển khác nhau. Hiện nay
tín dụng nặng lãi vẫn tồn tại phổ biến ở các nước chậm phát triển. Ngày nay
cùng với sự phát triển của xã hội, tín dung cũng không ngừng mở rộng và phát
triển đa dạng. Chủ thể tham gia tín dụng bao gồm tất cả các thành phần kinh
tế: Nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân, tư nhân. tập thể, tất cả các cấp từ trung