Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính
PHẦN MỞ ĐẦU
I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trước xu thế toàn cầu hóa hiện nay đặt biệt là khi chúng ta chính thức trở
thành thành viên của WTO thì hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam sẽ
đứng trước những cơ hội và thách thức lớn, và để có thể tận dụng được những cơ
hội và hạn chế được những thách thức trên bước đường hội nhập thì đòi hỏi doanh
nghiệp phải có năng lực về tài chính. Tài chính doanh nghiệp vững mạnh sẽ thu
hút được nhiều vốn đầu tư, tạo được lòng tin cho các đối tác, giúp doanh nghiệp
chủ động hơn trong quá trình mở rộng qui mô sản xuất của mình.
Để doanh nghiệp có thể thích ứng với nền kinh tế phát triển như hiện nay thì
quá trình hoàn thiện các báo cáo tài chính và phân tích tình hình tài chính nó trở
thành yếu tố hết sức quan trọng trong phân tích kết quả hoạt động kinh doanh.
Phân tích tình hình tài chính dần dần trở thành một công cụ không thể thiếu không
những đối với các nhà quản trị mà còn đối với các nhà đầu tư và những người sử
dụng báo cáo tài chính. Nó giúp họ đánh giá tình hình tài chính, phân tích cơ cấu,
lựa chọn và quản lý nguồn vốn để đưa ra quyết định tài chính, quyết định đầu tư
hiệu quả.
Tóm lại quá trình phân tích tình hình tài chính nó chiếm một vị trí hết sức
quan trọng, chính vì thế để hiểu rỏ được tình hình tài chính tại công ty cổ phần
chế biến nông sản xuất khẩu Cần Thơ và để từ đó có thể đưa ra những giải
pháp để cải thiện tình hình tài chính tại công ty nên em đã chọn đề tài Phân tích
tình hình tài chính tại công ty chế biến nông sản xuất khẩu Cần Thơ để
nghiên cứu
II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Thông qua 3 chỉ tiêu quan trọng: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh, các tỉ số tài chính của công ty trong 3 năm qua. Để từ đó tiến
hành phân tích những biến động của từng khoản mục trong 3 chỉ tiêu trên cả về số
tương đối và số tuyệt đối, để xem xét những khoản mục nào biến động theo chiều
hướng tốt những khoản mục nào biến động theo chiều hướng tiêu cực không phù
hợp với tính chất và lĩnh vực hoạt động của công ty và tìm ra những nguyên nhân
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
I. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
1.Khái niệm
- Tài chính: Là tất cả các mối quan hệ biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, phát
sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, tồn tại trong quá trình
tái sản xuất của doanh nghiệp. Tài chính là từ được dùng để mô tả các nguồn tiền
tệ có thể sử dụng được (hay sẳn có để dùng) cho chính phủ, công ty hoặc cá nhân
và sự quản trị các nguồn này.
- Báo cáo tài chính: Là những biểu mẫu do bộ tài chính ban hành bao gồm:
Bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bảng báo cáo
lưu chuyển tiền tệ, bảng thiết minh báo cáo tài chính, theo những chỉ tiêu nhất định
và được cấp theo định kỳ (cuối tháng, cuối quý, cuối năm) nhằm thông báo kết quả
kinh doanh, tình hình tài chính cho nhà quản trị, người sử dụng báo cáo tài chính
và các cấp hữu quan, để có những quyết định hợp lý đối với việc sản xuất kinh
doanh của đơn vị.
- Phân tích tình hình tài chính: Là phương pháp thu thập số liệu từ các báo
cáo tài chính, từ đó kiểm tra đối chiếu so sánh số tương đối, số tuyệt đối năm nay
so với năm trước để đánh giá tình hình tài chính cùng với phân tích cơ cấu, lựa
chọn và quản lý vốn để có những biện pháp thích hợp nhằm cải thiện tình hình tài
chính của công ty. Hay nói cách khác phân tích tình hình tài chính là một trong
những nội dung quan trọng trong phân tích hoạt động kinh doanh của đơn vị sản
xuất kinh doanh.
2. Mục đích
GVHD: Lê Quang Viết Trang 3 SVTH: Phạm Ngọc Lê
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính
Mục đích của việc phân tích báo cáo tài chính là giúp phân tích, đánh giá sức
mạnh tài chính, khả năng sinh lời, tiềm năng hiệu quả hoạt động kinh doanh của
GVHD: Lê Quang Viết Trang 4 SVTH: Phạm Ngọc Lê
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính
6. Giới thiệu về các báo cáo tài chính.
- Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính phản ảnh một cách tổng quát toàn
bộ tài sản của công ty dưới hình thức giá trị và theo một hệ thống các chỉ tiêu đã
được qui định trước. Báo cáo này được lập theo một qui định định kỳ (cuối tháng,
cuối quí, cuối năm). Bảng cân đối kế toán là nguồn thông tin tài chính hết sức
quan trọng trong công tác quản lý của bản thân công ty cũng như nhiều đối tượng
ở bên ngoài, trong đó có các cơ quan chức năng của Nhà Nước. Người ta ví bản
cân đối tài sản như một bức ảnh chụp nhanh, bởi vì nó báo cáo tình hình tài chính
vào một thời điểm nào đó ( thời điểm cuối năm chẳng hạn).
-Bảng cáo báo kết quả hoạt động kinh doanh
Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính phản ánh
tổng hợp về doanh thu, chi phí và kết quả lãi lổ của các hoạt động kinh doanh khác
nhau trong công ty. Ngoài ra, báo cáo này còn phản ánh tình hình thực hiện nhiệm
vụ đối với Nhà Nước. Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng là nguồn
thông tin tài chính quan trọng cho nhiều đối tượng khác nhau, nhằm phục vụ cho
công việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng sinh lời của công
ty.
-Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ hay còn gọi là báo cáo ngân lưu, là báo cáo
tài chính cần thiết không những đối với nhà quản trị hoặc giám đốc tài chính mà
còn là mối quan tâm của nhiều đối tượng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ thể hiện lượng tiền vào và lượng tiền ra trong doanh
nghiệp. Kết quả phân tích giúp doanh nghiệp đều phối lượng tiền mặt một cách
cân đối giữa các lĩnh vực. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ bao gồm ba phần:
+ Lưu chuyển tiền tệ thuần từ hoạt động kinh doanh.
+ Lưu chuyển tiền tệ thuần từ hoạt động đầu tư.
1.1 Vốn luân chuyển ròng (NWC) hay là tài sản lưu động ròng đôi khi
còn gọi là vốn luân chuyển
Nó là phần chênh lệch giữa tài sản lưu động và tổng các khoản nợ lưu động
(nợ ngắn hạn). Như vậy, vốn luân chuyển ròng biểu thị khoản tiền còn lại sau khi
đã thanh toán các khoản nợ lưu động hay khả năng đáp ứng nhu cầu bằng tiền mặt
của công ty.
Vốn luân chuyển ròng = tài sản lưu động – nợ lưu động
GVHD: Lê Quang Viết Trang 6 SVTH: Phạm Ngọc Lê
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính
1.2 Hệ số thanh toán vốn lưu động.
Đây là một chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty.Hệ
số thanh toán vốn lưu động thấp chứng tỏ khả năng thanh toán vốn lưu động thấp,
tuy nhiên nếu quá cao lại biểu hiện tình trạng ứ động vốn kém hiệu quả.
Tiền và các chứng khoán ngắn hạn
Hệ số thanh toán vốn lưu động = (lần)
Tài sản lưu động
1.3 Khả năng thanh toán hiện thời (C/R) hay còn gọi là tỷ số lưu động
Chỉ tiêu này biểu thị sự cân bằng giữa tài sản lưu động và các khoản nợ ngắn
hạn là thước đo khả năng có thể trả nợ cho công ty. Nó chỉ ra phạm vi, qui mô và
các yêu cầu của chủ nợ được trang trải bằng những tài sản lưu động có thể chuyển
thành tiền trong thời kỳ phù hợp với thời hạn trả nợ.
Tài sản lưu động
Khả năng thanh toán hiện thời = (lần)
Tổng nợ lưu động (nợ ngắn hạn)
Nhìn chung, những công ty có qui mô hàng tồn kho nhỏ và dể dàng thu lại số
tiền bán hàng của mình, thường hoạt động một cách an toàn hơn các công ty có C/
R lớn hơn nhưng lại bán chịu sản phẩm của mình.
1.4 Khả năng thanh toán nhanh hay còn gọi là tỉ số tài sản quay vòng
nhanh (hay tỉ số kiểm tra nhanh). (Q/R)
Tỷ số này càng thấp, mức độ an toàn càng đảm bảo trong trường hợp hoạt
động bị giảm và kinh doanh thua lổ. Tổng nợ
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu = (%)
Tổng vốn chủ sở hửu
2.2 Tỷ số quản trị nợ trên tổng tài sản (D/A)
Tỷ số nợ trên tổng tài sản hay còn gọi là tỷ số nợ, nó đo lường tỷ lệ phần
trăm tổng số nợ do người đi vay cung cấp so với tổng giá trị tài sản của công ty.
Tổng số nợ
Tỷ số nợ trên tổng tài sản = (%)
Tổng tài sản
3. Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề then chốt gắn liền với sự tồn tại của công ty.
Nó là chỉ tiêu được sự quan tâm đặt biệt của chủ sở hữu và là thước đo năng lực
nhà quản trị doanh nghiệp. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn có tác dụng đánh giá
chất lượng của công tác quản lý sản xuất kinh doanh của công ty.
3.1 Tỷ số luân chuyển hàng tồn kho.
GVHD: Lê Quang Viết Trang 8 SVTH: Phạm Ngọc Lê
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính
Đây là chỉ tiêu khá quan trọng bởi việc xác định qui mô hàng tồn kho như
thế nào để đạt doanh thu và lợi luận cao nhất, đều này phụ thuộc vào sự kết hợp
của nhiều yếu tố: thời gian trong năm và loại hình kinh doanh. Một phương pháp
để đo lường tính chất hợp lý và cân đối của hàng tồn kho và so sánh hàng tồn kho
với mức tiêu thụ trong năm để tính tỷ số luân chuyển hàng tồn kho.
Giá vốn hàng bán
Tỷ số lưu chuyển HTK = (lần)
Hàng tồn kho
3.2 Tỷ số luân chuyển vốn lưu động
Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động, được tính bằng quan
hệ so sánh giữa doanh thu thuần và vốn lưu động trong kỳ. Nó thể hiện một đồng
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hửu = (%)
Vốn chủ sở hữu
4.2. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lời của đồng vốn chủ sở hữu hay chính xác
hơn là đo lường khả năng sinh lời trên mức đầu tư của vốn chủ sở hữu. Những nhà
đầu tư thường quan tâm đến chỉ tiêu này bởi vì họ quan tâm đến khả năng thu
được lợi nhuận so với vốn mà họ bỏ ra đầu tư.
Lợi nhuận ròng
Tỷ suất lợi nhuận/VCSH = (%)
Vốn chủ sở hữu
4.3 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tổng tài sản, hay khả năng sinh
lời của vốn đầu tư. Được xác định bằng quan hệ so sánh giữa lợi nhuận sau thuế
và tổng tài sản trong kỳ. Lợi nhuận ròng
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản = (%)
Tổng tài sản
5. Chỉ tiêu về tình hình công nợ
5.1 Hệ số khái quát
Chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêu liên quan đến các khoản phải thu và phải
trả của công ty. Đây là nhóm chỉ tiêu được quan tâm của các nhà quản trị, chủ sở
hửu và đặt biệt là các nhà cho vay.
Tổng các khoản phải thu
Hệ số khái quát =
Tổng các khoản phải trả
5.2 Vòng luân chuyển các khoản phải thu
GVHD: Lê Quang Viết Trang 10 SVTH: Phạm Ngọc Lê
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính
Vòng luân chuyển các khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản
phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp, được xác định bằng mối quan hệ tỷ lệ
GVHD: Lê Quang Viết Trang 11 SVTH: Phạm Ngọc Lê
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính
Giá trị hiện có của TSCĐ
CHƯƠNG 2
GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN
NÔNG SẢN XUẤT KHẨU
I. Lịch Sử Hình Thành Và Phát Triển.
Công ty cổ phần chế biến nông sản xuất khẩu Cần Thơ trước đây thuộc xí
nghiệp chế biến hạt điều xuất khẩu Cần Thơ, xí nghiệp được thành lập từ tháng 7
năm 1993 trên cơ sở tận dụng kho của công ty xuất nhập khẩu tổng hợp Cần Thơ,
tại khu công nghiệp và khu chế xuất Trà Nốc, với diện tích chung là: 3.764,81 m
2
2còn lại là hành lang giao thông để xe ra vào vận chuyển hàng hóa. Xí nghiệp trực
thuộc công ty xuất nhập khẩu tổng hợp Cần Thơ. Xí nghiệp hạch toán báo sổ.
Đến ngày 31/08/1993 xí nghiệp đi vào hoạt động chính thức, xí nghiệp thành
lập theo chủ trương của Đảng ủy và ban lãnh đạo công ty cùng lãnh đạo sở thương
mại Tỉnh Cần Thơ. Với mục tiêu của sự ra đời của công ty là sản xuất mặt hàng
mới, đồng thời giải quyết việc làm cho cán bộ công nhân viên trong thời bao cấp
của các đơn vị trực thuộc công ty (xí nghiệp rau quả đông lạnh củ).
Xí nghiệp rau qủa đông lạnh lúc bấy giờ ngưng hoạt động do không có thị
trường vì biến cố chính trị ở Liên Xô củ và khối Đông Âu, với chủ trương của lãnh
đạo công ty nhằm giải quyết việc làm cho anh em cán bộ công nhân viên dôi dư
nên đã ra đời xí nghiệp chế biến hạt điều.
Lúc bấy giờ xí nghiệp chế biến hạt điều là một đơn vị hạch toán báo sổ trong
sản xuất kinh doanh có nhiều cố gắng đã đạt được những cố gắng nhất định.
Nhưng bên cạnh đó những khó khăn chung của tổng công ty cũng ảnh hưởng
đổi, công ty cổ phần chế biến nông sản xuất khẩu Cần Thơ là một đơn vị kinh
doanh nguyên liệu thô đó là nhân hạt điều do kỹ thuật , máy móc của công ty còn
nhiều hạn chế vì thế công ty chỉ bán nguyên liệu thô cho công ty xuất khẩu để chế
biến và sau đó đem xuất khẩu.
Công ty chỉ sản xuất một loại sản phẩm duy nhất đó là nhân hạt điều. Công ty
mua nguyên liệu từ các địa điểm: Sông Bé, Bình Dương…nguyên liệu chính là hạt
điều sau đó chở về Cần Thơ và tiến hành sản xuất cho ra nhân hạt điều.
GVHD: Lê Quang Viết Trang 13 SVTH: Phạm Ngọc Lê
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính
Khi sản phẩm đã được hoàn thành sẽ tiến hành phân loại với các kích cỡ
khác nhau và đem đi bán lại cho công ty xuất khẩu và sau đó công ty xuất khẩu sẽ
tiến hành chế biến cho ra sản phẩm để xuất khẩu.
Ngoài ra, vỏ của hạt điều thì công ty cũng bán cho các đơn vị cần nguyên
liệu nhằm tạo thêm thu nhập cho công ty.
2.Nhiệm vụ của công ty.
Công ty cổ phần chế biến nông sản xuất khẩu Cần Thơ là đơn vị kinh tế
thuộc công ty cổ phần nên có những nhiệm vụ sau:
- Hoạt động đúng qui định của Nhà Nước, làm đủ các thủ tục đăng ký kinh
doanh, thực hiện đúng theo qui định công nghệ chế biến. Đảm bảo chất lượng, số
lượng và thời hạn thực hiện tốt vệ sinh môi trường và an toàn chính trị.
- Đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ và năng lực của công nhân viên có
thực lực phục vụ cho quá trình kinh doanh của công ty.
- Thực hiện đúng nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà Nước, nghiêm chỉnh chấp
hành chính sách chế độ quản lý kinh tế tài chính, lao động tiền lương bảo hiểm,
chế độ hạch toán kế toán.
- Việc sử dụng các nguồn vốn có hiệu quả đảm bảo việc đầu tư, mở rộng sản
xuất, đổi mới máy móc thiết bị, cải tiến khoa học công nghệ… đáp ứng việc kinh
doanh xuất khẩu mang lại hiệu quả kinh tế cho Thành Phố.
Công ty cổ phần chế biến nông sản xuất khẩu ngoài đơn vị kinh doanh xuất
Hội đồng quản trị
Giám đốc
Phòng kế toán Phòng tổ chức
hành chánh
Nhà kho
Quản đốc
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính
Hội đồng quản trị đại diện cho các cổ đông, là cơ quan có quyền lực cao
nhất trong việc đưa ra các chính sách chung và các định hướng hoạt động của công
ty. Cụ thể là hội đồng có quyền bỏ phiếu thông qua những quyết định quản trị
chính yếu như đầu tư tài chính xây dựng một nhà máy mới, phát triển một tuyến
sản phẩm hay thành lập một chi nhánh mới.
b.Giám đốc của công ty
Trong hội đồng quản trị bầu ra chủ tịch hội đồng quản trị là người có số cổ
phần chiếm tỉ lệ nhiều nhất trong công ty cổ phần chế biến nông sản xuất khẩu
Cần Thơ thì chủ tịch hộ đồng quản trị cũng chính là giám đốc (có thể thuê).
Giám đốc là người được hội đồng quản trị bổ nhiệm và có nhiệm vụ thực
hiện các chính sách của hội đồng quản trị, giải quyết các vấn đề được pháp luật
cho phép và cấp trên qui định như điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch
vụ của đơn vị, quan hệ giao dịch với khách hàng, ký kết các hợp đồng kinh tế, chịu
trách nhiệm về những hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, hao hụt lãng
phí tài sản, vốn vật tư, thiết bị sản xuất kinh doanh…Ngoài ra còn tổ chức bộ máy
sản xuất kinh doanh dịch vụ, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, nâng
lương hợp đồng lao động.
c. Phòng kế toán
Bao gồm bốn người có nhiệm vụ hạch toán kinh doanh xuất khẩu lưu số liệu
vào sổ sách kế toán của công ty (thanh lý hợp đồng mua bán, các khoản nợ, phân
tích hiệu quả kinh doanh, thực hiện nhiệm vụ nộp thuế đối với Nhà Nước) quyết
toán hàng quí.
Tổ chức công tác kế hoạch, kế toán thống kê của công ty, phân tích hoạt
- Phân xưởng sấy: ở phân xưởng này bao gồm 3 nam. Sau khi hạt điều đã
được tách nhân ra phần nhân được tách ra sẽ đem đi sấy, phần nhân này nhẹ nên ở
khâu sấy số lượng công nhân ít.
GVHD: Lê Quang Viết Trang 17 SVTH: Phạm Ngọc Lê
Quản đốc
PX
Sấy
PX
Chao
Dầu
PX
Cắt
tách
PX
bóc
vỏ lụa
PX
Phân
Loại
đĐóng
gói
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính
- Phân xưởng vỏ lụa: 56 nữ ở phân xưởng này phụ trách nhiệm vụ lấy phần
vỏ lụa phủ trên nhân ra, công việc này cần sự khéo léo và cẩn thận nên chỉ do nữ
phụ trách.
- Phân xưởng phân loại: sau khi hạt điều được lấy nhân và sấy khô, lấy vỏ
lụa đi thì sản phẩm đã được hoàn thành ở khâu này do 18 nữ phụ trách để chọn ra
những kích cỡ khác nhau.
-Tổ KCS: sau khi nhân hạt điều đã được phân loại thì sẽ tiến hành kiểm tra
năm 2010 và những năm tiếp theo.
2.Khó khăn
- Công ty sản xuất nhân điều xuất khẩu cần phải có sân phơi từ 5-7 ngàn m
2
(vì điều 1 năm có một vụ thời gian thu hoạch từ 1-2 tháng là hết cho nên phải phơi
khô và có kho dự trữ). Công ty hiện nay mặt bằng hẹp, cố gắng đầu tư cho những
năm tiếp theo về sân khơi và kho dự trữ để mở rộng sản xuất. Công ty không có
văn phòng giao dịch với khách hàng.
-Lĩnh vực hoạt động của công ty ít được các nhà đầu tư quan tâm vì thế qui
mô của công ty nhỏ do vốn của công ty là do các thành viên trong các công ty gốp
lại và cổ phiếu của công ty chỉ lưu hành nội bộ.
- Máy móc của công ty còn nhiều hạn chế vì thế công ty không thể chế biến
nhân hạt điều để xuất khẩu trực tiếp mà công ty chỉ bán nguyên liệu thô vì thế
không mang lại doanh thu cao hơn so với các công ty xuất khẩu trực tiếp.
- Mặt khác do nguyên liệu để sản xuất của công ty chủ yếu mua từ miền
ngoài vào vì thế tốn kém chi phí vận chuyển
GVHD: Lê Quang Viết Trang 19 SVTH: Phạm Ngọc Lê
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính
CHƯƠNG 3
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN CHẾ BIẾN NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CẦN THƠ
I.PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY.
1.Đánh giá khái quát bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một phương pháp kế toán và là một báo cáo kế toán
chủ yếu phản ánh tổng quát tình hình tài chính của công ty. Nó còn là bức tranh
toàn cảnh về tình hình tài chính của công ty tại thời điểm lập báo cáo. Bảng cân
đối kế toán là tài liệu quan trọng đối với việc nghiên cứu, đánh giá khái quát tình
hình tài chính, trình độ quản lý và sử dụng vốn cũng như triển vọng kinh tế, tài
chính của công ty để định hướng cho việc nghiên cứu tiếp theo.
tiền
Tỷ trg
(%)
Số
tiền
Tỷ trg
(%)
Số tiền
Tỷ
lệ
(%)
Số tiền
Tỷ
lệ
(%)
A.TS lưu động
đầu tư ngắn hạn
4.207,9 96,7 887,5 47,3 2.892 72,13 - 3.320,4 -78,9 2004,5 225,8
B.TS cố định -
đầu tư dài hạn
140,1 3,3 990,5 52,7 1.117 27,87 850,4 606 126,5 12,77
Tổng TS 4.348 100 1.878 100 4.009 100 - 2.470 -56,7 2.131 113,4
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán 2003-2005- Phòng kế toán)
0
1000
2000
3000
4000
5000
Triệu đồng
của công ty chỉ do những người trong công ty đóng góp lại chứ không phải do Nhà
Nước cấp như lúc trước, nhưng từ năm 2004 đến năm 2005 thì tài sản của công ty
có xu hướng tăng lên do lúc này hoạt động của công ty đã trở lại bình thường.
Mặt khác, tỷ trọng của từng loại tài sản cũng biến động qua ba năm. Năm
2004 tỷ trọng tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn của công ty giảm từ 96,7%
xuống còn 47,3% và tỷ trọng của tài sản cố định và đầu tư dài hạn tăng từ 3,3%
năm 2003 đến 52,7% năm 2004. Điều này thể hiện qui mô hoạt động của công ty
đang được mở rộng công ty đang đầu tư cho hoạt động mua sắm tài sản cố định và
đầu tư dài hạn chuẩn bị cho những kế hoạch trong tương lai. Sang năm 2005 tỷ
trọng của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn tăng từ 47,3% đến 72,3% và tỷ
trọng của tài sản cố định và đầu tư dài hạn giảm từ 52,7% xuống còn 27,87% năm
2005. Điều này thể hiện công ty có xu hướng ưu tiên đầu tư cho tài sản phục vụ
trực tiếp cho kinh doanh hơn.
1.2 Đánh giá khái quát tổng nguồn vốn
Bảng2:Đánh giá khái quát tổng nguồn vốn
ĐVT: triệu đồng
GVHD: Lê Quang Viết Trang 22 SVTH: Phạm Ngọc Lê
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính
CHỈ TIÊU
NĂM Chênh Lệch Chênh Lệch
2003 2004 2005 2004/2003 2005/2004
Tài Sản Số tiền
Tỷ
trg
(%)
Số tiền
Tỷ
trg
(%)
liên tục qua ba năm. Năm 2004 tổng nguồn vốn giảm so với năm 2003 là 2.470
triệu (đ), tương đương giảm 56,7%. Nguyên nhân chủ yếu là do khoản phải trả và
nguồn vốn chủ sở hữu đều giảm. Cụ thể năm 2004 khoản phải trả giảm một lượng
1.485 triệu (đ), tương đương một tỷ lệ là 47,6%, và nguồn vốn chủ sở hữu cũng
giảm một lượng 985 triệu (đ), tương đương một tỷ lệ là 79% của năm 2004 so với
năm 2003.
Sang năm 2005 thì tổng nguồn vốn của công ty lại tăng lên cao hơn năm
2004 một lượng 2.131triệu (đ), tương đương một tỷ lệ là 113,4%. Nguyên nhân là
do tuy khoản phải trả giảm đi so với năm 2004 một lượng 1.579 triệu (đ), tương
đương với một tỷ lệ là 97,53%. Nhưng nguồn vốn chủ sở hữu trong năm 2005 lại
tăng lên với một lượng rất lớn là 3.710 triệu (đ), tương đương với một tỷ lệ 1433%
so với năm 2004.
Về tỷ trọng các khoản mục trong nguồn vốn cũng luôn biến động. Trong
năm 2004 thì tỷ trọng khoản phải trả trong tổng nguồn vốn tăng từ 71,4% lên
86,2%. Từ đó ta thấy các khoản nợ mà công ty còn thiếu trong năm 2004 tăng hơn
so với năm 2003. Nhưng đến năm 2005 thì tỷ trọng khoản phải trả trong tổng
GVHD: Lê Quang Viết Trang 23 SVTH: Phạm Ngọc Lê
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính
nguồn vốn chỉ chiếm 1%. Điều này cho thấy công ty có thể tăng được khoản nợ
trong tương lai, vì trong kinh doanh thì ta có thể huy động vốn từ bên ngoài nếu
công ty của chúng ta có huy tín thì tăng khoản nợ hơn 1% trong tổng nguồn vốn đó
cũng là một trong những cách tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh cho công ty.
Còn về nguồn vốn chủ sở hữu chiếm một tỷ trọng 28,6% trong năm 2003 sang
năm 2004 thì tỷ trọng này của công ty giảm đi chỉ chiếm 13,8% trong tổng nguồn
vốn. Nhưng sang năm 2005 thì tỷ trọng của nguồn vốn chủ sở hữu trong tổng
nguồn vốn chiếm một tỷ lệ rất cao 99%. Điều này cho thấy khả năng tự đảm bảo
về mặt tài chính của công ty là rất cao và mức độ phụ thuộc về mặt tài chính đối
với chủ nợ là thấp.
Tình hình tăng giảm tài sản của công ty sau một thời kỳ hoạt động kinh
2004 nhưng về tỷ trọng của tài sản cố định trong tổng tài sản của công ty lại chiếm
tỷ lệ nhỏ hơn trong năm 2005. Nghĩa là trong năm 2005 công ty đã chú trọng giữ
lại tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn hơn so với đầu tư vào tài sản cố định. Công
ty chú trọng đầu tư vào tài sản phục vụ trực tiếp cho kinh doanh hơn.
b. Tỷ suất tự tài trợ tài sản cố định
Tỷ suất này phản ánh tỷ lệ về vốn chủ sở hữu để trang bị tài sản cố định.
Trong năm 2004 tỷ suất này là 0,26 (lần), giảm 8,6 (lần) so với năm 2003. Nguyên
nhân là do trong năm 2004 thì nguồn vốn chủ sở hữu của công ty giảm đi 985 triệu
(đ), trong khi đó phần đầu tư cho tài sản cố định lại tăng lên 850,5 triệu (đ). Sang
năm 2005 thì tỷ suất này lại có xu hướng tăng lên 3,29 (lần) so với năm 2004.
Điều này thể hiện nguồn vốn chủ sở hữu của công ty có xu hướng tăng lên 3.710
triệu (đ). Điều này cho thấy tình hình tài chính của công ty luôn biến động lúc thì
nguồn vốn chủ sở hữu tăng lên và ngược lại. Vì thế năng lực tài chính còn nhiều
hạn chế.
2. Phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán
của công ty.
Để thấy rỏ mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán ta tiến
hành phân tích mối quan hệ giữa chúng để có thể đánh giá được khái quát tình
hình tài chính của công ty. Nguồn hình thành nên 2 loại tài sản lưu động và tài sản
cố định chủ yếu bằng nguồn vốn chủ sở hữu, nhưng trong công ty thực tế thì có
khi công ty lại thừa nguồn vốn chủ sở hữu nhưng lại có khi thiếu nguồn vốn chủ
GVHD: Lê Quang Viết Trang 25 SVTH: Phạm Ngọc Lê