Tiểu luận
Đề tài: Một số vấn đề về phương pháp tính và
hạch toán thuế GTGT ở các doanh nghiệp”.
thuế mới đã dẫn đến những thay đổi đáng kể trong hầu hết các phần hành của công tác kế toán.
Sẽ không ít vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện và hoàn thiện về cách tính và hạch toán
thuế GTGT. Chính vì vậy mà em chọn đề tài:
“
Một số vấn đề về phương pháp tính
và hạch toán thuế GTGT ở các doanh nghiệp
”.
Nội dung bài viết bao gồm:
PHẦN I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ VÀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG.
PHẦN II : MỘT SỐ Ý KIẾN HOÀN THIỆN VỀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH VÀ HẠCH TOÁN
THUẾ GTGT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP.
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô giáo và các thầy cô giáo trong khoa đã nhiệt tình hướng
dẫn giúp em hoàn thành bài viết này. 1
PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ VÀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
I-/ THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG THUẾ NƯỚC TA:
1-/ Vai trò của thuế và thực trạng hệ thống thuế nước ta:
a-/ Thuế và vai trò của thuế:
Thuế được xem như là một nguyên tố đặc biệt có ý nghĩa xã hội, kinh tế, chính trị, lịch sử
và là “công cụ” động viên có tính chất bắt buộc, được quy định bằng luật và không hoàn trả trực
tiếp.
Để đảm bảo cho các nhu cầu chi tiêu cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội của một
quốc gia thì thuế là nguồn thu Ngân sách chủ yếu.
Ở
nước ta hiện nay và trong những năm sau
này, thuế phải tiếp tục trở thành công cụ tài chính quan trọng giúp Nhà nước điều hành quản lý
điều tiết nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển hơn.
dần sang cơ chế có vay có trả, cả hai bên cùng có lợi. Thuế đã chiếm khoảng 80-90% tổng số thu
Ngân sách Nhà nước, đáp ứng được nhu cầu chi tiêu thường xuyên của Nhà nước, giảm tỉ lệ bội
chi, góp phần hạn chế và đẩy lùi lạm phát, bước đầu đã ổn định được giá cả và tiền tệ và đã có
phần tích luỹ cho nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng và trả nợ,... Các kết quả đạt được của hệ thống
thuế không chỉ thể hiện trong tổng thu ngân sách mà nó còn được thể hiện qua các mặt kinh tế,
xã hội khác.
Tuy nhiên bên cạnh đó, hệ thống thuế mới trong quá trình kiểm nghiệm trong thực tế
những năm qua cũng đã bộc lộ một số mặt tồn tại đó là: các sắc thuế trong hệ thống được thiết kế
tách rời, chưa gắn bó hỗ trợ lẫn nhau nên không phát huy được tác dụng đồng bộ của hệ thống
thuế. Mặt khác cơ cấu thuế suất thường phức tạp, có nhiều thuế suất khác nhau, trong khi đó nội
dung của luật thuế và các văn bản hướng dẫn lại không quy định rõ ràng, cụ thể. Đặc biệt với
thuế xuất khẩu, nhập khẩu thì biểu thuế còn quá nhiều mặt hàng và thuế suất khác nhau. Do đó
có thể thấy hệ thống thuế của ta vẫn còn phức tạp, chưa phù hợp với điều kiện và trình độ của
cán bộ quản lý thuế, chưa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp yên tâm phát triển sản xuất kinh
doanh.
Ngoài ra, chính sách thuế hiện hành còn chưa bao quát được hết các đối tượng thu và
nguồn thu, về cơ bản vẫn chưa khắc phục được tình trạng thu chồng chéo, trùng lắp ở các khâu
(thể hiện rõ ở thuế doanh thu), còn chưa công bằng; phân biệt giữa kinh tế quốc doanh và ngoài
quốc doanh, giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài và còn chưa phù hợp với tình hình
kinh tế xã hội đã và đang biến đổi hiện nay.
Do đó, việc tiếp tục hoàn thiện chính sách thuế của Nhà nước ta là cần thiết, việc thay đổi
thuế Giá trị gia tăng cho thuế doanh thu điểm mốc đánh dấu (được thực hiện từ ngày 1-1-1999)
là một bước ngoặt lớn cho quá trình đổi mới và hoàn thiện này.
2-/ Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam:
Trong hệ thống thuế nước ta, loại thuế gián tiếp quan trọng nhất là thuế doanh thu với tổng
thu tương ứng khoảng 3-4% GDP mỗi năm. Nhưng thuế doanh thu là một loại thuế phức tạp, có
nhiều mức thuế suất khác nhau và biểu hiện trong khoảng rộng trên cơ sở giá bao gồm cả thuể
(trong đó có cả thuế nhập khẩu). Do đó nó có một số tồn tại sau:
Thứ nhất, diện thu thuế bị thu hẹp và đánh thuế doanh thu với nhiều mức thuế suất tuỳ theo
nguồn doanh thu là một việc không thể thực hiện được, vì thế cán bộ thu thuế phải dựa vào kinh
nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, việc áp dụng thuế GTGT sẽ giảm bớt mức thuế suất (bốn mức thuế suất). Khuyến
khích các doanh nghiệp giữ sổ sách kế toán tốt hơn, kích thích mạnh mẽ việc sử dụng hoá đơn, tạo điều
kiện cho việc kiểm tra và thanh tra tài chính. Mặt khác khi triển khai áp dụng thuế GTGT sẽ góp phần
đổi mới tư duy về cơ chế thu nộp thuế (tự động kê khai, tự động nộp thuế, thực hiện kiểm tra sau) và
cho phép nền kinh tế nước ta nói chung tiếng nói với các nước trong khu vực và thế giới trong lĩnh vực
thuế.
II-/ MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA THUẾ GTGT:
1-/ Quá trình ra đời và phát triển của thuế GTGT trên thế giới:
Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu được nghiên cứu, áp dụng từ sau Đại chiến
thế giới lần thứ nhất (1914-1918) nhằm động viên sự đóng góp rộng rãi của quảng đại quần
chúng nhân dân cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, để nhanh chóng hàn gắn vến thương chiến
tranh. Thuế doanh thu được áp dụng ở Pháp từ năm 1917. Thời kỳ đầu, thuế doanh thu chỉ đánh
ở giai đoạn cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hoá (khâu bán lẻ), với thuế suất rất thấp. Đầu
năm 1920, thuế doanh thu được điều chỉnh, đánh vào từng khâu của quá trình sản xuất. Trong
thực tế, cánh đánh thuế này đã phát sinh nhược điểm về tính chất trùng lắp. Nói cách khác, quá
trình sản xuất ra sản phẩm càng qua nhiều khâu thì thuế càng cao và thuế chồng lên thuế. Để
khắc phục nhược điểm này, năm 1936, Pháp đã cải tiến thuế doanh thu qua hình thức đánh thuế
một lần vào công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất (từ là khi sản phẩm được đưa vào lưu
thông lần đầu). Như vậy, việc đánh thuế độc lập, một lần với độ dài của quá trình sản xuất, khắc
phục được hiện tặng đánh thuế trùng lắp trước đó. Tuy nhiên, chính sách thuế này lại phát sinh
4
nhược điểm là việc thu thuế bị chậm trễ so với trước, vì chỉ khi sản phẩm được đưa vào khâu lưu
thông lần đầu, Nhà nước mới thu được thuế,...
Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thuế doanh thu vẫn còn nhược điểm nổi bật là thuế thu chồng
chéo, trùng lắp,... Đến năm 1954, Chính phủ Pháp đã ban hành loại thuế mới với tên gọi là thuế giá trị
gia tăng “theo tiếng Pháp là TAXE SUR LA VALEUR AJOUTÉE (được viết tắt là T.V.A). Lúc đầu
TVA được ban hành để áp dụng trước đối với ngành sản xuất, chủ yếu nhằm hạn chế việc thu thuế
chồng chéo qua nhiều khâu trong lĩnh vực công nghiệp, với thuế suất đồng loạt là 20% và chỉ khấu trừ
thuế ở khâu trước đối với nguyên liệu, vật liệu. Quá trình thống nhất hoá Châu Âu được thúc đẩy vào
3-/ Căn cứ tính thuế GTGT:
Căn cứ tính thuế GTGT là: số lượng hàng hoá, dịch vụ, giá tính thuế đơn vị và thuế suất.
a-/ Giá tính thuế:
Đối với hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước, giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế
GTGT. Đối với hàng hoá nhập khẩu, giá tính thuế GTGT là giá nhập khẩu (giá CIF) cộng với
thuế nhập khẩu.
Một số quy định cụ thể:
5
- Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp, giá tính thuế GTGT là giá bán của hàng
hoá tính theo giá bán trả một lần, không tính theo số tiền trả từng kỳ.
- Đối với hoạt động gia tăng hàng hoá, giá tính thuế GTGT là giá gia công.
- Các trường hợp khác như: hàng hoá mang trao đổi, biếu tặng, sử dụng tiêu dùng nội bộ,
giá tính thuế GTGT là giá tính thuế của hàng hoá cùng loại tương đương, với hoạt động cho thuê
tài sản giá tính thuế là số tiền thu từng kỳ.
- Giá tính thuế GTGT bao gồm cả khoản phụ thu, phối thu thêm mà cơ sở kinh doanh
không được hưởng.
b-/ Thuế suất:
Thuế GTGT có 4 mức thuế suất là 0%, 5%, 10% và 20%. Trong đó:
- Mức thuế 0% đối với hàng xuẩt khẩu.
- Mức thuế suất 5% đối với các mặt hàng thiết yếu, hiện đang chịu thuế doanh thu với thuế suất
thấp như: nước, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc chữa bệnh, thiết bị và dụng cụ y tế, giáo cụ để giảng dạy
và học tập, đồ chơi trẻ em, sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi,...
- Mức thuế suất 20% đối với hàng hoá, dịch vụ chưa khuyến khích tiêu dùng hiện đang
chịu thuế doanh thu với mức thuế suất cao như: vàng bạc, đá quý, khách sạn, du lịch, ăn uống,
đại lý tàu biển, môi giới,...
- Mức thuế suất 10% đối với hàng hoá, dịch vụ khác.
4-/ Hoàn thuế GTGT:
Các trường hợp được hoàn thuế GTGT:
Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, được
xét hoàn thuế trong các trường hợp:
bằng cách lấy thuế suất (t) nhân với giá trị tăng thêm được hiểu là tiền công và lợi nhuận. Cụ thể:
Thuế GTGT phải nộp = t
x
(tiền công + lợi nhuận)
- Phương pháp cộng gián tiếp: theo phương pháp này thuế GTGT phải nộp được tính căn
cứ vào từng thành phần riêng biệt của giá trị tăng thêm.
Thuế GTGT phải nộp t
x
tiền công
+
t
x
lợi nhuận
- Phương pháp trừ trực tiếp: theo phương pháp này thuế GTGT phải nộp được tính dựa trên cơ sở
tính trị giá tăng thêm là chênh lệch giữa giá đầu ra và giá đầu vào, cụ thể là:
Thuế GTGT phải nộp = t
x
(giá đầu ra - giá đầu vào)
- Phương pháp trừ gián tiếp: còn gọi là phương pháp hoá đơn hoặc phương pháp khấu trừ.
Theo phương pháp này, thuế GTGT phải nộp được xác định trên cơ sở lấy thuế tính trên giá đầu
ra trừ đi thuế tính trên giá đầu vào, cụ thể:
Thuế GTGT phải nộp = (t
x
giá đầu ra) - (t x giá đầu vào)
Trong 4 phương pháp tính thuế GTGT nói trên thì 3 phương pháp đầu hầu như chỉ tồn tại
trên lý thuyết, ít được áp dụng trong thực tế. Riêng phương pháp trừ gián tiếp (hay phương pháp
khấu trừ) được áp dụng phổ biến vì việc tính thuế phải nộp dựa vào hoá đơn - bằng chứng của
nghiệp vụ kinh doanh - gắn nghĩa vụ nộp thuế với nghiệp vụ kinh doanh của cơ sở cho nên có ưu
điểm nổi trội hơn hẳn những phương pháp khác về mặt kỹ thuật và luật pháp. Mặt khác phương
pháp tính thuế dựa vào hoá đơn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự theo dõi, kiểm tra của cơ quan