ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC CỦA ASEAN
KHI GIA NHẬP KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO CAFTA
VỚI TRUNG QUỐC
1
Mục lục
MỞ ĐẦU
Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu thế chủ đạo trên thế
giới. Để tăng cường quan hệ thương mại, đầu tư… các nước đã và đang xúc tiến
xây dựng các khu vực tự do thương mại. Nằm trong xu thế chung đó, ASEAN
và Trung Quốc đã ký kết hiệp định thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN-
Trung Quốc (CAFTA hay ACFTA).
Hiệp định này chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2010. Mặc dù hứa hẹn
những thuận lợi cơ bản đối với cả hai bên, thực tế, hiệp định này cũng chứa
đựng nhiều thách thức đối với các nước ASEAN.
Trước thực tế đó, vấn đề “được và mất” của ASEAN khi tham gia
CAFTA với Trung Quốc đã được một số học giả nghiên cứu, tìm hiểu. Để vận
dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, góp phần làm sáng tỏ thêm vấn đề này,
bằng những kiến thức được học từ môn Quan hệ kinh tế quốc tế, nhóm chúng
em xin mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“Thuận lợi và thách thức của ASEAN khi gia nhập khu vực mậu dịch
tự do CAFTA với Trung Quốc”
Đề tài được nghiên cứu nhằm mục đích vận dụng kiến thức đã học, đưa ra
những nhận định ban đầu thuận lợi, khó khăn và thách thức của ASEAN khi
tham gia CAFTA; đồng thời, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học
cho sinh viên, hoàn thành chương trình học tập môn Quan hệ kinh tế quốc tế tại
trường Đại học Ngoại thương.
Để đạt được mục tiêu đó, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chung:
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các
phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh tĩnh…
2
thụ và dựa vào đồng minh để bảo hộ nên các nước đã tích cực tham gia và hình
thành các liên kết kinh tế quốc tế.
4
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, năng lực sản xuất đã tăng
liên tục với tốc độ đáng kể trong những thập kỷ qua không chỉ ở các nước phát
triển mà ở cả các nước đang phát triển. Một số nước đang phát triển thậm chí đã
đuổi kịp các nước tư bản, trở thành các nước công nghiệp mới (NICs). Vì vậy,
số lượng các nhà sản xuất, cung cấp tăng nhanh với năng suất cao, khả năng sản
xuất lớn, thị trường nội địa trở nên quá nhỏ bé so với khả năng sản xuất của họ,
cản trở sự phát triển của họ, khiến cho nhu cầu mở rộng thị trường tiêu thụ trở
nên ngày càng cấp bách. Phần lớn các quốc gia đều có mong muốn hang fhoas
của mình được xuất khẩu sang nước bạn một cách thuận lợi hơn nên đã cùng
nhau hợp tác trên cơ sở có đi có lại, cắt giảm và tiến tới xóa bỏ thuế quan và
hàng rào phi thuế quan, cam kết với nhau thành lập liên minh để dành cho nhau
những ưu đãi, xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại và
tiến tới tự do hóa mậu dịch. Bên cạnh đó, sự bành trướng của các thế lực kinh tế
khổng lồ, bắt buộc các nước, đặc biệt các nước có nền kinh tế nhỏ phải tham gia
hoặc hình thành các liên kết kinh tế quốc tế, nhằm tăng thêm sức mạnh kinh tế,
bảo hộ lẫn nhau, tăng thêm uy tín và tiếng nói của mình trên trường quốc tế.
Thứ ba, các vấn đề khu vực và toàn cầu hóa kinh tế là nguyên nhân thúc
đẩy sự hình thành kinh tế quốc tế. Do ngày càng phát sinh nhiều vấn đề lớn có
tính khu vực và toàn cầu về tài chính, kinh tế, các rào cản thương mại, kỹ thuật,
môi trường… một quốc gia nhiều khi không thể thực hiện được, chính vì vậy đã
dẫn đến sự phối hợp giữa các quốc gia và hình thành các liên kết kinh tế quốc tế.
1.3. Khu vực mậu dịch tự do (Free trade area – FTA)
Đây là hình thức liên kết kinh tế trong đó hai hay nhiều nước thỏa thuận
cắt giảm và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn thuế quan và hàng rào phi thuế quan trong
buôn bán giữa các thành viên trong khối, tạo môi trường thuận lợi cho thương
mại phát triển tiến tới xây dựng khu thương mại tự do của các nước, nhưng các
thành viên trong khối vẫn duy trì chính sách thương mại riêng của mình trong
Hiệp định Thương mại tự do ASEAN và Trung Quốc tạo ra 1 khu vực
năng động, giàu sức cạnh tranh với các nền kinh tế lớn, hạn chế sự phụ thuộc
vào các tác nhân bên ngoài, thúc đẩy trao đổi thương mại nội khối. Trung Quốc
có thể nhập nguyên liệu thô từ ASEAN với giá rẻ trong khi ASEAN thâm nhập
vào thị trường hơn 1 tỷ dân của Trung Quốc dễ dàng hơn.
2.2. Hiệp định Thương mại tư dọ ASEAN và Trung Quốc (CAFTA)
Năm 2000, trong hội nghị cấp cao ASEAN- Trung Quốc lần thứ 3 diễn ra
vào tháng 11/2000 tại Singapore, Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ đã chủ
động đề xuất xây dựng các biện pháp hợp tác kinh tế sâu rộng hơn giữa ASEAN
và Trung Quốc, đặc biệt là ý tưởng thành lập khu vực mậu dịch tự do, với mục
tiêu tăng cường lien kết giữa các nước ASEAN và Trung Quốc, nâng cao sức
cạnh tranh trên trường quốc tế.
7