RA QUYẾT ĐỊNH TRONG QUẢN LÝ
3.1.Khái niệm và các tình huống ra quyết định quản lý
3.1.1. Khái niệm quyết định quản lý
Quyết định quản lý là nhân tố đặc biệt quan trọng của quy trình lập kế
hoạch. Việc lựa chọn phương án tối ưu trong nhiều phương án đã được xây
dựng là thời điểm đánh dấu kế hoạch được chấp nhận. Như vậy việc tìm hiểu
những vấn đề liên quan tới quyết định quản lý ở đây là sự cụ thể hoá của một
bước trong quá trình lập kế hoạch. Điều đó có nghĩa là quyết định quản lý được
tiếp cận theo nghĩa hẹp.
Quyết định quản lý là việc ấn định hay tuyên bố lựa chọn của chủ thể
quản lý về một hoặc một số phương án để thực hiện những công việc cụ thể trong
điều kiện hoàn cảnh nhất định nhằm hoàn thành mục tiêu của tổ chức.
* Đặc điểm của quyết định quản lý
* Quyết định quản lý là hạt nhân của hệ thống quản lý
Quyết định quản lý liên quan tới tất cả các yếu tố của hệ thống quản lý.
Quyết định quản lý là nhân tố đặc biệt quan trọng của hoạt động quản lý. Bất cứ
nhà quản lý nào cũng phải thông qua quyết định quản lý để thực hiện chức năng
của mình. Nhiều nhà tư tưởng quản lý đồng nhất quản lý với việc ra quyết định.
Điều đó là hợp lý ở chỗ khi thực hiện nguyên tắc quản lý, quy trình quản lý,
phương pháp quản lý, phong cách quản lý… mục đích cuối cùng hướng tới là để
có các quyết định quản lý đúng đắn. Tuy nhiên, ra quyết định chỉ mới là một
điều kiện cần của hoạt động quản lý. Quản lý là một chỉnh thể bao gồm nhiều
nhân tố trong đó ra quyết định và thực thi quyết định là hạt nhân quan trọng
nhất của nó.
* Quyết định quản lý vừa có tính tối ưu vừa có tính hạn định
Tính tối ưu của quyết định quản lý thể hiện ở chỗ khi nhà quản lý đã ấn
định và lựa chọn một phương án nào đó thì họ đã phải cân nhắc rất kỹ lưỡng để
phân công đúng người đúng việc và cung cấp những điều kiện vật chất, tài
chính phù hợp với hoàn cảnh cụ thể.
Tuy nhiên, khi hoàn cảnh thay đổi (mà điều này diễn ra thường xuyên) thì
phương án đã lựa chọn có thể không còn phù hợp. Mặt khác, khi thực hiện tốt
quyết định quản lý mang lại lợi ích chung, lợi ích tập thể thì mới đảm bảo tính
hiệu lực và hiệu quả cho tổ chức.
* Quyết định quản lý vừa mang dấu ấn của chủ thể, vừa phản ánh văn hoá
tổ chức
Thông qua việc ra quyết định và thực thi quyết định, có thể nhận biết
được chủ thể quản lý đang lựa chọn phương pháp và phong cách quản lý nào.
Nói cách khác, quyết định quản lý là sản phẩm của cách thức sử dụng quyền lực
của chủ thể. Quyết định quản lý có thể được tạo ra bởi một người, một nhóm
người hay một tổ chức. Việc lựa chọn cách thức nào cho việc ra quyết định là
biểu hiện của văn hoá tổ chức.
3.1.2. Các tình huống ra quyết định quản lý
Tuỳ vào các căn cứ khác nhau mà có thể phân chia thành nhiều loại quyết
định quản lý:
- Căn cứ vào phạm vi của quyết định:
+ Quyết định chiến lược: Đây là những quyết định mang tính định hướng
phát triển trong thời gian tương đối dài và có liên quan đến nhiều đối tượng
khác nhau trong hệ thống tổ chức.
+ Quyết định chiến thuật hay các quyết định tác nghiệp. Đây là những
quyết định mang tính định lượng, liên quan tới nội dung và cách thức thực hiện
những nhiệm vụ và công việc cụ thể. Những quyết định tác nghiệp thường căn
cứ vào những quyết định chiến lược để triển khai.
- Theo mức độ ổn định hay không ổn định của quyết định
+ Quyết định chương trình hoá: Là dạng quyết định về một vấn đề thường
xuyên nảy sinh, quy trình thực hiện rõ ràng, có tính ổn định và lặp lại. Đây là
những quyết định dễ ban hành và thường tốn ít thời gian.
+ Quyết định phi chương trình hoá: Đây là loại quyết định về những vấn
đề chưa có tiền lệ, hay là một vấn đề phức tạp và quan trọng. Nội dung của loại
quyết định này thường là mới và không có cấu trúc.
- Theo chủ thể ra quyết định:
+ Quyết định cá nhân: Là quyết định do một cá nhân ban hành
hay một sự thay đổi đột ngột về chính sách.v.v. Khi đó, tình huống có vấn đề sẽ
xuất hiện và là dấu hiệu cần quan tâm cho việc ra quyết định.
+ Sự sai lệch so với kế hoạch ban đầu. Khi các kết quả không đáp ứng
mục tiêu dự kiến hoặc kế hoạch. Những sự cố này báo hiệu rằng kế hoạch đang
bị chệch hướng.
+ Vấn đề phát sinh từ bên ngoài: Ví dụ, sự đòi hỏi của thị trường, khách
hàng hay sự thay đổi của hệ thống pháp luật.v.v
Việc xác định vấn đề là một công việc khó khăn. Những nguyên nhân cản
trở quá trình xác định vấn đề có thể là do nhận thức, thiếu thông tin và từ chính
sự phức tạp của vấn đề cần xác định.
Các loại vấn đề thường gặp là: Cơ hội, khủng hoảng và những vấn đề
thường lệ của tổ chức. Các nhà quản lý phải tự phát hiện ra các cơ hội còn
những khủng hoảng và những vấn đề thường lệ của tổ chức thì tự nó bộc lộ ra.
Các tổ chức thường bỏ qua những vấn đề khủng hoảng và thường lệ để tập trung
vào những cơ hội và vấn đề lâu dài thông qua những hoạt động lập kế hoạch.
Bước 2: Thu thập và xử lý thông tin
Khi đã xác định được vấn đề thì công việc tiếp theo của các nhà quản lý
là phải thu thập những thông tin liên quan đến nó.
Bước 3: Dự kiến phương án thực hiện
Khi vấn đề đã được xác định thì cần phải xem xét những phương án khả
thi cho vấn đề đó. Quá trình xây dựng các phương án chính là quá trình khảo sát
và tìm kiếm thông tin bên trong và bên ngoài của tổ chức.
Việc xây dựng các phương án phải được thực hiện trong những giới hạn
về các nguồn lực, thời gian và hiệu quả.
Về mặt lý thuyết, càng có nhiều phương án được đưa ra thì càng có nhiều
cơ hội lựa chọn. Tuy nhiên, trong thực tế thì không cần xây dựng quá nhiều
phương án mà cần phải nỗ lực xây dựng được các phương án tối ưu nhất. Việc
xây dựng những phương án cần phải chi tiết.
Bước 4: Đánh giá các phương án
Khi xây dựng xong các phương án thì cần phải đánh giá và so sánh