luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững đối với đồng bào m nông trên địa bàn tỉnh đắk nông - Pdf 70

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản
thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo và
của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Trước hết tôi xin gửi tới các thầy giáo, cô giáo Học viện Hành chính
Quốc gia lời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe và lời cảm ơn sâu sắc. Với sự
quan tâm, giảng dạy, chỉ bảo tận tình, chu đáo của các thầy cô, đến nay tôi đã
hoàn thành luận văn, đề tài:“Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững đối
với đồng bào M’Nông trên địa bàn tỉnh Đắk Nông”.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - PGS.TS
Trương Quốc Chính đã quan tâm giúp đỡ, tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành
luận văn này trong thời gian qua.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo Học viện Hành chính Quốc
gia, Khoa sau đại học, các Khoa, Phòng chức năng đã trực tiếp và gián tiếp
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài luận văn.
Không thể không nhắc tới sự quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ của Ban
Giám đốc và các đồng nghiệp Sở Lao động – TB&XH tỉnh Đắk Nông, các
Sở, Ngành, Ban Dân tộc tỉnh, cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của gia đình, các
bạn trong lớp trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đắk Lắk, tháng 7 năm 2018
Học viên

Lê Thị Ly Na


Mục lục

Trang

LỜI CAM ĐOAN.............................................................................................................. 1

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.1. Kết quả giảm hộ nghèo tỉnh Đắk Nông từ năm 2013
– 2017............................................................................................................40
Bảng 2.2. Kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo đồng bào DTTS
M’Nông tỉnh Đắk Nông năm 2017.............................................................42


DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình 2.1. Bản đồ hành chính tỉnh Đắk Nông ................................. 38
Hình 2.2. Kết quả giảm hộ nghèo tỉnh Đắk Nông từ năm 2013 –
2017 ..................................................................................................... 41
Hình 2.3. Kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo đồng bào DTTS
M’Nông tỉnh Đắk Nông năm 2017 ..................................................

43

Hình 2.4. Nhóm nguyên nhân nghèo của đồng bào DTTS
M’nông ..............................................................................................

76


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT



1


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề nghèo đói luôn tồn tại trong mọi giai đoạn lịch sử của xã hội,
không chỉ đối với các quốc gia đang phát triển mà cả với quốc gia có nền
kinh tế phát triển vẫn xảy ra tình trạng nghèo đói ở một bộ phận nhân dân và
cần có sự quan tâm, giúp đỡ của cộng đồng. Đặc biệt đối với các quốc gia đa
dân tộc, nghèo đói đang là vấn đề bức thiết, trong đó đối tượng chịu ảnh
hưởng nhiều nhất của nạn đói nghèo chính là đồng bào dân tộc thiểu số
(DTTS). Nghèo đói trong vùng đồng bào DTTS diễn ra trên bình diện toàn
cầu, trong đó có Việt Nam. Trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
hiện nay, nền kinh tế của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng nhanh, đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, tuy nhiên đời
sống của một bộ phận là người nghèo đồng bào DTTS vẫn còn gặp không ít
khó khăn, sự chênh lệch giữa nhóm nghèo đồng bào DTTS so với dân tộc
chiếm đa số là người Kinh vẫn còn ở mức cao. Mặc dù chỉ chiếm số dân ít
nhưng số lượng người nghèo của cả nước tập trung ở đối tượng là người
DTTS vùng cao.
Trong những năm qua, công tác giảm nghèo luôn được sự quan tâm
chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền tỉnh, huyện, xã. Đối với
tỉnh Đắk Nông, trên cơ sở tổng hợp các nguồn lực, chương trình, dự án đầu
tư phát triển kinh tế xã hội cho người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo của
Trung ương, địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội trong và ngoài tỉnh;
đến nay đời sống của người dân ngày càng được nâng lên, hiệu quả giảm
nghèo đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy đã đạt được những kết quả
quan trọng trong công tác giảm nghèo nhưng tình trạng nghèo đói trên địa
bàn tỉnh Đắk Nông vẫn còn nhiều bất cập và có diễn biến phức tạp. Mặc dù


3


nghèo bền vững đối với đồng bào M’Nông trên địa bàn tỉnh Đắk Nông”
để nghiên cứu làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trong bối cảnh quốc tế và khu vực đang hướng tới mục tiêu phát triển
bền vững trên cơ sở nâng cao đời sống và thu nhập kết hợp với bảo vệ tài
nguyên và môi trường sống, cần phải quán triệt chính sách dân tộc của Đảng
và Nhà nước, trong đó giảm nghèo cho các DTTS tại chỗ đã trở thành mục
tiêu hàng đầu. Các DTTS tại chỗ là đối tượng cần được quan tâm trước hết
của công tác quản lý nhà nước. Vấn đề nghiên cứu quản lý nhà nước về giảm
nghèo đã được thể hiện qua nhiều công trình nghiên cứu. Các nội dung chủ
yếu được tập trung nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý nhà nước về
giảm nghèo, nguyên nhân và các giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà
nước về giảm nghèo. Có thể liệt kê một số công trình có liên quan như sau:
- Trần Thị Diễm Thúy (2013) “Quản lý nhà nước về công tác giảm
nghèo đối với đồng bào thiểu số trên địa bàn tỉnh Đắk Nông” Luận văn
Thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia. Luận văn đánh giá
quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số


tỉnh Đắk Nông, phân tích thực trạng công tác quản lý; từ đó, tìm ra nguyên

nhân các tồn tại, đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công
tác giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
-

Phạm Quốc Cường (2017) “Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở

của Việt Nam giai đoạn 2001-2010; nêu ra những định hướng, mục tiêu xóa
đói, giảm nghèo cùng những cơ chế, giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả
chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam thời gian tới.
- Tổ chức Oxfam Anh tại Việt Nam (2016) “Từ đơn lẻ đến tích hợp:
đổi mới chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất và khuyến nông hướng đến
giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số”, (Nxb Hồng Đức, Hà Nội,
2016). Cuốn sách cũng đã nghiên cứu, đánh giá các chính sách, chương
trình, dự án giảm nghèo còn chồng chéo và dàn trải, nguồn lực không đủ,
thiếu sự liên kết và khó lồng ghép; nội dung và phương pháp thực hiện chưa
phù hợp với đặc điểm địa phương và nhu cầu đặc thù của từng nhóm đối
tượng, nhất là các nhóm nghèo DTTS. Nghiên cứu đã tiến hành theo dõi và
5


phân tích các vấn đề chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất và khuyến nông tại
một số địa bàn dân cư điển hình, nhằm cung cấp các phân tích và đề xuất cho
việc thiết kế và thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất và khuyến
nông hướng đến giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
-

Ngô Văn Lệ (2015) “Về giải pháp góp phần xóa đói giảm nghèo ở

Đắk Nông”, tại Hội thảo Khoa học “Giảm nghèo bền vững trong đồng bào
dân tộc thiểu số tại chỗ - Thực trạng và giải pháp”. Tham luận đã tập trung
phân tích về các nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nghèo đói trong vùng
đồng bào DTTS tại chỗ của tỉnh Đắk Nông, đặc biệt là mối liên hệ giữa giảm
nghèo bền vững và trình độ dân trí. Tác giả đã nhận định rằng muốn phát
triển và phát triển bền vững đòi hỏi phải nâng cao dân trí. Xóa đói giảm
nghèo và phát triển giáo dục phụ thuộc vào các chiều kích khác nhau, nhưng
có mối liên hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, trong đó học vấn là một biến độc

3.2. Nhiệm vụ:
Để thực hiện những mục đích trên, đề tài có những nhiệm vụ sau:
-

Một là hệ thống lại cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong lĩnh vực giảm
nghèo bền vững.
-

Hai là phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về

giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc M’Nông trên địa bàn tỉnh
Đắk Nông. Xác định những bất cập tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại
đó.
-

Ba là đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện công tác quản lý nhà
nước về giảm nghèo bền vững đối với đồng bào M’Nông trên
địa bàn tỉnh Đắk Nông.
4. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu thực tiễn quản lý nhà nước về giảm nghèo
bền vững đối với đồng bào M’Nông.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
-

Về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Đắk
7


Nông.

Nông (Cơ quan thường trực Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia
giảm nghèo của tỉnh).
6.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
8


6.1. Ý nghĩa lý luận
Từ những dữ liệu nghiên cứu, luận văn góp phần hệ thống lại cơ sở lý
luận quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững nói chung và giảm nghèo đối
với đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho
các cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo, cán bộ làm công tác văn hóa,
dân tộc; đồng thời là tài liệu tham khảo để góp phần vào việc xây dựng và
hoàn thiện các chính sách phát triển kinh tế xã hội và xóa đói giảm nghèo ở
vùng đồng bào M’Nông.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, phần Kết quả nghiên cứu của đề
tài gồm có 03 chương, với kết cấu như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về giảm nghèo bền
vững.
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững
đối với đồng bào M’Nông tỉnh Đắk Nông.
Chương 3. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về giảm nghèo
bền vững đối với đồng bào M’Nông tỉnh Đắk Nông.

9



không đủ mặc, con cái không được học hành, đau ốm không có tiền chữa
bệnh, nhà cửa dột nát, tạm bợ…Điểm khác biệt ở Việt Nam so với các nước
khác là đói và nghèo thường được hiểu thành hai khái niệm riêng biệt, ngoài
khái niệm “nghèo” chúng ta còn sử dụng khái niệm “đói” để phân biệt mức
độ nghèo của một bộ phận dân cư:
-

“Nghèo” là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một
phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức thu nhập thấp
hơn so với mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương
diện[16, tr 21]. Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của
người dân chỉ dành hầu như toàn bộ cho nhu cầu ăn, thậm chí không đủ chi
cho ăn, không có phần tích lũy và họ không thể vươn tới các nhu cầu văn
hóa – tinh thần hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm tới mức tối thiểu nhất
để ưu tiên cho mưu sinh hằng ngày, như tình trạng trẻ em thất học, nạn mù
chữ, hạn chế về tiếp cận thông tin, nhà ở tạm bợ…

-

Đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu và thu nhập
không đủ đảm bảo về nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống, những hộ
đói thường thiếu ăn, đứt bữa từ 01 đến 03 tháng, thường vay mượn cộng
đồng và thiếu khả năng trả nợ [16, tr 22].
Hiện nay tình trạng đói hầu như đã không còn nhắc tới trong các văn
kiện chính thức của Đảng. Mặc dù vậy cụm từ “xóa đói giảm nghèo” vẫn
được sử dụng, để chỉ một nội dung hẹp hơn là đấu tranh để “giảm nghèo bền
vững” tiến tới “xóa nghèo”.
“Giảm nghèo” chính là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức
sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo và biểu hiện của giảm nghèo thể

là đảm bảo duy trì thành quả giảm nghèo một cách lâu dài và bền vững,
tránh tình trạng “nghèo – thoát nghèo – tái nghèo”.
12


1.1.2. Chuẩn nghèo đơn chiều và chuẩn nghèo đa chiều.
Xác định được mức độ giàu nghèo là một việc không dễ dàng vì nó
gắn với từng thời kỳ, từng quốc gia và được xem xét ở nhiều góc độ khác
nhau. Ở Việt Nam, kể từ khi có chủ trương xóa đói giảm nghèo, các cơ quan
trong nước và quốc tế cũng đã đưa ra những chuẩn mực để xác định tình
hình nghèo đói làm cơ sở cho việc xây dựng các Chương trình xóa đói giảm
nghèo phù hợp với tập quán và mức sống của người dân.
Chuẩn nghèo là thước đo nhằm xác định ai là người nghèo hoặc không
nghèo để thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo của nhà nước, nhằm
bảo đảm công bằng trong thực hiện các chính sách giảm nghèo .


Việt Nam, căn cứ vào mức sống thực tế của các địa phương, trình độ phát
triển kinh tế - xã hội, đến nay nước ta đã qua 7 lần điều chỉnh chuẩn
nghèo theo hướng ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người nghèo. Các
tiêu chí này thay đổi theo thời gian cùng với sự thay đổi mặt bằng thu nhập
quốc gia:

+

Hộ đói: bình quân thu nhập đầu người quy theo gạo/tháng dưới

13kg đối với thành thị, dưới 8kg đối với khu vực nông thôn.
+ Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người quy theo gạo/tháng
dưới 20 kg đối với thành thị, dưới 15kg đối với khu vực nông thôn.

-

Hộ nghèo: là hộ có thu nhập tùy theo từng vùng ở các mức tương ứng như
sau:

+

Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng (tương đương 55
ngàn đồng).
+

Vùng nông thôn, đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng

(tương đương 70 ngàn đồng).
+

Vùng thành thị: dưới 25kg/người/tháng (tương đương 90 ngàn

đồng).
Chuẩn nghèo giai đoạn 2001-2005:
+

Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng.

+

Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng.

+


Chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015: (Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg
ngày 30/01/2011) có quy định như sau :
- Hộ nghèo:

14


+ Vùng nông thôn: có mức thu nhập từ 400.000 đồng/người/tháng trở
xuống.
+ Vùng thành thị: có mức thu nhập từ 500.000 đồng/người/tháng trở
xuống.
- Hộ cận nghèo:
+ Vùng nông thôn: có mức thu nhập từ 401.000 – 520.000
đồng/người/tháng.
+ Vùng thành thị: có mức thu nhập từ 501.000 – 650.000
đồng/người/tháng.
Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 – 2020: (Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg
ngày 19/11/2015) quy định về các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều
áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020; chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có
mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020. Các tiêu chí tiếp
cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 gồm tiêu
chí về thu nhập, mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.
Về tiêu chí về thu nhập, chuẩn nghèo ở khu vực nông thôn là 700.000
đồng/người/tháng; ở khu vực thành thị 900.000 đồng/người/tháng; chuẩn cận
nghèo ở khu vực nông thôn là 1.000.000 đồng/người/tháng; ở khu vực thành
thị 1.300.000 đồng/người/tháng.
Về tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: Gồm 5
dịch vụ xã hội cơ bản: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin.
Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ
số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn;

Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến

1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận
các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
- Hộ cận nghèo khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu
người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ
số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Hộ cận nghèo khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu
người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ
số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Hộ có mức sống trung bình ở khu vực nông thôn là hộ có thu nhập
bình quân đầu người/tháng trên 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng.
Hộ có mức sống trung bình ở khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình
quân đầu người/tháng trên 1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng.
Mức chuẩn nghèo trên là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu
hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở
16


xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã
hội; hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác trong giai đoạn 2016 2020.
Chuẩn nghèo đơn chiều: Trong những năm trước đây, nghèo đói
thường được đo lường thông qua thu nhập hoặc chi tiêu, người ta thường
đánh đồng nghèo đói với mức thu nhập thấp. Chuẩn nghèo đơn chiều được
xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy
ra bằng tiền ( đo bằng chi tiêu cho lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu
năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sinh hoạt bình thường của con
người, khoảng 2.100 Kcal/người/ngày và chi tiêu phi lương thực thực phẩm).
Hộ nghèo là những đối tượng có mức thu nhập thấp hoặc chi tiêu thấp hơn
chuẩn nghèo. Cách đo lường này đã duy trì trong thời gian dài và có ưu điểm

người, các nhu cầu này được coi là quan trọng ngang bằng nhau và con
người có quyền được đáp ứng tất cả các nhu cầu này để đảm bảo cuộc sống
bình thường. Việc lựa chọn các chiều nghèo tùy thuộc vào đặc điểm của từng
quốc gia và đối với Việt Nam, các chiều được lựa chọn vào các nhu cầu cơ
bản trong cuộc sống được quy định trong Hiến pháp 2013, Nghị quyết số 15NQ/TW và Nghị quyết số 76/2014/QH13, bao gồm 5 chiều: Y tế, giáo dục,
nhà ở, nước sạch và vệ sinh và tiếp cận thông tin. Các chiều thể hiện quyền
được đáp ứng các nhóm nhu cầu cơ bản, sẽ được cho điểm bằng nhau, ví dụ:
có tất cả 5 chiều (mỗi chiều là một tiêu chí thành phần), mỗi chiều được 20
điểm, như vậy tổng số điểm sẽ là 100 điểm; với phương pháp đo lường
nghèo đa chiều đã và sẽ góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên các diễn
đàn quốc tế , góp phần thực hiện quyền con người một cách cụ thể và thiết
thực nhất.

18


Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang
đa chiều đã tạo điều kiện để nhận dạng đối tượng nghèo chính xác hơn, cụ
thể hơn, tăng cường tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân, đồng
thời có giải pháp hỗ trợ phù hợp hơn nhu cầu và đặc tính của hộ nghèo, hộ
cận nghèo, giúp cho các nhà quản lý nhà nước nhìn nhận rõ hơn các vùng
miền, khu vực có mức độ thiếu hụt cao, làm cơ sở xây dựng các chính sách
giảm nghèo để giảm dần sự chênh lệch, khoảng cách giữa các vùng, nhóm
dân cư.
1.1.3 Đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào dân tộc thiểu số tại
chỗ.
Dân tộc là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Trước
khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ
thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc. Cho đến nay, khái niệm dân tộc được
hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Ở Việt Nam, thuật ngữ dân tộc trong tiếng

dân số ít, cư trú trong một quốc gia đa dân tộc, trong đó có một dân tộc
chiếm số đông. Các dân tộc thiểu số có thể cư trú tập trung hoặc rải rác, xen
kẽ nhau, thường ở những vùng hẻo lánh, vùng điều kiện phát triển kinh tế xã
hội còn khó khăn [10, tr 24].
Dân tộc (tộc người) tại chỗ hay còn gọi là dân tộc (tộc người) bản địa
được sử dụng để phân biệt với dân tộc (tộc người) di cư. Ở Nam Bộ, trước
khi người Khmer, người Việt, người Hoa và người Chăm nhập cư vào đây,
nơi này là địa bàn cư trú – vùng lãnh thổ tộc người của các lớp cư dân thời
tiền sử hay sơ sử, cư dân Phù Nam và các tộc người Stiêng, Chơro, Mạ,
M’Nông…Sự hình thành và phát triển của các tộc người này từ xưa tới nay
luôn gắn bó, không tách rời vùng lãnh thổ tộc người của mình trên địa bàn
Nam Bộ, nhất là trên địa bàn miền núi Đông Nam Bộ - Nam Tây Nguyên.
Và theo đó thuật ngữ tộc người bản địa được dùng để chỉ các tộc người
thuộc nhóm Môn – Khmer miền núi Đông Nam Bộ - Nam Tây Nguyên hiện
nay (Stiêng, Chơro, Mạ, M’Nông, nhóm địa phương Tàmun). Các tộc người
này vừa là tộc người thiểu số vừa là tộc người thiểu số bản địa, nên được gọi
là tộc người thiểu số bản địa; dùng thuật ngữ tộc người di cư để chỉ các tộc
người Khmer, Việt, Hoa, Chăm,…lần lượt nhập cư vào Nam Bộ trong thời
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status