Nhiếp ảnh kỹ thuật số
phải chụp bắt trong đời thực. Nhưng nhiếp ảnh kỹ thuật số chỉ là một cuộc cách mạng công nghệ –
hệ quả của cuộc cách mạng công nghệ thông tin – gây ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới nhiếp ảnh
chứ không làm đảo lộn mọi lý luận mỹ học của nghệ thuật đại chúng này, như nhiều người ngộ
nhận. Thế giới nhiếp ảnh kỹ thuật số rộng mở cho ta những khả năng sáng tạo mới mà không thể
thực hiện được với các phương tiện truyền thống. Hãng Adobe hoàn toàn không cường điệu khi
quảng cáo cho phần mềm xử lý ảnh Photoshop nổi tiếng của mình bằng câu: “If you can dream it,
you can do it” – Nếu bạn mơ thấy thì bạn làm được!
Nhiếp ảnh kỹ thuật số cũng đã trở thành một lãnh vực thu hút được sự quan tâm của nhiều người
yêu nhiếp ảnh ở nước ta, nhưng ngay cả giới chuyên nghiệp cũng không mấy người có cái nhìn
toàn cục về sự phát triển của các kỹ thuật mới. Chưa hề có một tài liệu nào mang tính khái quát để
làm cơ sở tham khảo cho giảng viên và sinh viên Khoa Nhiếp ảnh của Trường Cao đẳng Văn hóa-
Nghệ thuật của Tp.HCM mặc dù nhiếp ảnh kỹ thuật số đã trở thành một môn học đưa vào giảng
dạy thử nghiệm tại đây từ niên khóa 2000-2001. Nhiều người chơi ảnh nghiệp dư cũng muốn tiếp
cận với kỹ thuật số thế nhưng rào cản chưa vượt qua được đối với họ là những hiểu biết cơ bản về
tin học – bắt đầu từ việc làm quen với những thiết bò. Cuộc cách mạng công nghệ mà kỹ thuật số
đem lại cho nhiếp ảnh ngày nay đã kéo theo cùng với nói quá nhiều thiết bò phức tạp, những
nguyên lý hoạt động mới mẻ, và những khái niệm kỹ thuật hoàn toàn xa lạ với những ai đã quá
thành thạo với nguyên lý đơn giản về tốc độ, khẩu độ, và độ nhạy phim của chiếc máy ảnh truyền
thống.
Với những người yêu nhiếp ảnh không chuyên tin học, những khái niệm như “độ phân giải”, “số
hóa”, “bộ cảm biến hình ảnh”, vv... cùng vô số những thuật ngữ lạ tai như “DPI”, “CCD”, “CYMK”,
vv. dường như muốn trêu ngươi, chọc giận chúng ta. Kỹ thuật số dường như đã làm phức tạp hóa
công việc chụp ảnh chứ không phải giải phóng tiềm năng sáng tạo của chúng ta như những gì đã
hứa hẹn. Thêm vào đó, các thiết bò cần thiết cho việc xử lý hình ảnh số lại rất đắt tiền. Nhiều
2
người đã không ngần ngại tốn kém mua sắm các thiết bò này nhưng chưa có một hiểu biết thấu đáo
trong việc chọn lựa cũng như sử dụng đã gặp phải nhiều rủi ro đáng tiếc. Đây là cuốn sách đầu
TRẦN ĐỨC TÀI 3
Tài liệu tham khảo 1. Adobe Ltd., Adobe Photoshop ® 5 Manual Guide, Adobe Press 1998
2. Curtis, Dennis, A Short Course in Digital Photography, Internet edition, 2000
3. Dayton, Linnea & Gosney, Michael, The Desktop Color Book, 2
nd
edition, MIS Press, 1996
4. Epson Ltd., EPSON Color Guide for Windows & Macintosh, CD-ROM edition 1998
5. Greenber, Adele Droblas & Seth, Digital Imaging, Osborne, 1997
6. Grotta, Sally Wierner & Daniel, Digital Imaging for Visual Artists, Windcrest/McGraw-Hill,
1996
7. Holzmann, Gerard J., Beyond Photography – The Digital Darkroom, Prentice-Hall, 1994
8. Huss, David, Corel Photo-Paint 9 Unleashed, SAMS Publishing, 1999
9. Các tạp chí POPULAR PHOTOGRAPHY, PETERSEN’S PHOTOGRAPHIC, AMERICAN
PHOTO, PCWORLD từ năm 1996 đến 2000
10. Thông tin từ Websites của các hãng Canon, Epson, HP, Intel, Kodak, Minolta, Nikon, Olympus
và các Websites khác.
Độ phân giải và kích thước hình ảnh
Chương 4: Màu và Trắng-đen dưới góc độ kỹ thuật số
Cấp độ màu
Hoạt động của bộ cảm biến hình ảnh
Màu sắc và bộ cảm biến hình ảnh
Khái niệm trắng-đen trong kỹ thuật số
Chương 5: Nguyên lý của máy ảnh kỹ thuật số
Bộ cảm biến hình ảnh: Linh hồn của máy ảnh số
Thiết kế mạch cảm biến trong máy ảnh số
Chương 6: Các loại máy ảnh kỹ thuật số
Tìm hiểu các loại máy ảnh kỹ thuật số
Đôi điều về video kỹ thuật số
Có nên mua máy ảnh kỹ thuật số?
Sự thỏa hiệp tuyệt vời 5
Chương 7: Máy ảnh số và các yếu tố kỹ thuật
Các đặc tính tổng quát
Bộ cảm biến hình ảnh
Các cơ chế điều khiển sáng tạo
Ống kính và các tiêu cự
Các đặc tính kỹ thuật khác của máy ảnh số
Kỹ thuật số và tính trung thực của hình ảnh
Chương 13: Từ tác giả đến người xem
Nguyên tắc hoạt động của máy in
Các loại máy in màu
Máy ghi phim là gì?
Tại sao màu sắc trên ảnh in không giống màu sắc trên màn hình? 6
Chương 14: Nhiếp ảnh và Internet
Học hỏi kinh nghiệm quốc tế
Triển lãm cho toàn thế giới xem
Tiếp thò chính mình với toàn thế giới
Phụ lục: Các thuật ngữ cần biết về nhiếp ảnh kỹ thuật số 7
Chương 1:
Nhiếp ảnh kỹ thuật số là gì?
Những chiếc máy ảnh kỹ thuật số chỉ mới phổ thông trong khoảng 5 năm trở lại đây và nhanh
chóng lỗi thời để được thay thế bằng những chiếc máy ảnh số mới hơn, ưu việt hơn nhờ thừa hưởng
sự tiến bộ vượt bậc của công nghệ tin học. Máy ảnh số đã bắt đầu dấn bước sâu rộng vào thế giới
Tổng quát
Nhiếp ảnh kỹ thuật số là một phương cách chụp ảnh mới, sử dụng một hệ thống cảm biến hình ảnh
bằng chất bán dẫn (solid-state image sensor) thay vì dùng phim nhựa truyền thống. Nhiếp ảnh kỹ
thuật số có hai lợi thế rất lớn so với nhiếp ảnh truyền thống: tính tức thời và tính cơ động. 8
Tính tức thời: Với máy ảnh dùng kỹ thuật số, ta có thể xem hình ảnh ngay khi vừa chụp xong
qua một màn hình tinh thể lỏng (LCD) nhỏ ở sau lưng hầu hết các kiểu máy ảnh số, hoặc nối
máy ảnh số với màn hình TV và xem liên tiếp hàng loạt ảnh đã chụp. Một số kiểu máy ảnh số
có khả năng nối với một máy phóng (display projector) để chiếu trên những màn hình lớn. Nói
cách khác nhiếp ảnh kỹ thuật số đã tiếp nối truyền thống của máy ảnh chụp lấy liền Polaroid
mà không phải tốn phim!
Tính cơ động: Hình ảnh chụp bằng máy ảnh kỹ thuật số được lưu giữ theo một đònh dạng
ngày càng phổ thông khiến cho ta dễ dàng thuyên chuyển hình ảnh giữa các loại thiết bò và
phần mềm ứng dụng khác nhau. Ví dụ, ta có thể chèn những hình ảnh kỹ thuật số vào các tài
liệu soạn thảo một chương trình xử lý văn bản, gửi hình ảnh bằng thư điện tử (e-mail) cho bè
bạn, hay đưa chúng một trang web trên Internet để cả thế giới có thể cùng xem. Thêm vào đó,
ta có thể sử dụng một chương trình xử lý hình ảnh để tô điểm hay biến đổi các hình ảnh số đã
chụp được. Ta có thể cúp cắt, thay đổi màu sắc hay độ tương phản, hoặc thậm chí thêm bớt
những thành phần của hình ảnh sẵn có.
Một khi ta đã chụp một hình ảnh dưới dạng số, ta có thể dễ dàng tô điểm,
phân phát, hay sắp xếp và lưu trữ.
Tuy cả tính tức thời lẫn tính cơ động này khiến cho nhiếp ảnh kỹ thuật số trở thành phổ biến trong
nhiều lãnh vực, vẫn có một khía cạnh của nhiếp ảnh kỹ thuật số cần phải lưu ý. Đó chính là một sự
tự do mới lạ mà kỹ thuật số đã đem lại để chúng ta thăm dò và thử nghiệm những biên cương mới
của nhiếp ảnh. Vào những năm 1870 khi William Henry Jackson đang dùng lừa kéo những thùng
dưới dạng số – được hợp thành từ hàng trăm ngàn, thậm chí hàng triệu những ô vuông nhỏ gọi là
pixel. Mặc dù một máy ảnh kỹ thuật số chụp ảnh dưới dạng số, ta cũng có thể biến các loại
phim âm bản, dương bản hay ảnh in truyền thống thành cùng một dạng số với thiết bò quét hình
(scanner).
Để hiểu được máy ảnh số đóng vai trò nào trong toàn bộ hệ thống nhiếp ảnh kỹ thuật số, ta cần
hiểu được ba tiến trình cơ bản liên quan đến việc sáng tạo và sử dụng hình ảnh. Đó là: nhập
(input), xử lý (process) và xuất (output).
Nhập hình ảnh
Tiến trình nhập (input) đưa hình ảnh hay các dữ liệu khác vào máy vi tính thông qua các thiết bò
nhập (input device). Bàn phím nối liền với máy vi tính cũng là một thiết bò nhập. Tuy nhiên, còn có
hàng trăm thiết bò nhập khác bao gồm các loại chuột (mouse), bút vẽ (digitized pen), các hệ thống
nhận dạng tiếng nói (voice recognition system), máy quét hình (scanner), và nhiều thứ khác. Máy
ảnh số cũng là một thiết bò nhập mà thôi. Trong nhiếp ảnh kỹ thuật số, máy ảnh số và máy quét
hình là hai thiết bò nhập phổ thông được sử dụng để cho ta những hình ảnh dưới dạng số. Ngoài ra
ta cũng có thể dùng các loại card cắt hình (frame grabber) để lấy từng khung hình riêng biệt từ TV,
video hay máy quay tạo thành những hình ảnh số. Ta thậm chí có thể mua những đóa CD có chứa
sẵn hình ảnh đã số hóa.
10
Xử lý hình ảnh
Một khi đã có hình ảnh dưới dạng số, ta có thể lưu trữ trong máy tính để rồi biên tập, hiệu chỉnh
Hiện nay, một số kiểu máy minilab hiện đại của Fuji và Kodak cho phép ta đọc trực tiếp hình ảnh
từ các phương tiện lưu trữ kỹ thuật số (như đóa quang học, đóa CD, đóa mềm...) và in thẳng ra giấy
ảnh – một hình thức in phóng ảnh không cần phim. Những máy minilab kiểu này thường là kết hợp
giữa máy minilab thông thường cọng với một máy tính công suất xử lý mạnh và một máy quét
hình. Do đó, những máy minilab hiện đại này có thể nhân bản hình ảnh từ một ảnh gốc đã mất
phim, hoặc chỉnh sửa một hình ảnh gốc kém chất lượng trước khi in ra giấy ảnh. Cả 3 giai đoạn
nhập, xử lý và xuất hình đều được thực hiện trên những máy minilab kiểu này khiến cho nhiếp ảnh
kỹ thuật số ngày càng phổ thông và quen thuộc với mọi người.
12
Chương 2:
Thế giới ảnh kỹ thuật số ngày nay
Nhiếp ảnh kỹ thuật số chỉ mới phát triển trong khoảng 10 năm trở lại đây nhưng đã được ứng dụng
rộng rãi trong nhiều lãnh vực của nghệ thuật nhiếp ảnh. Trong chương này chúng ta sẽ điểm qua
một số ứng dụng phổ biến nhất để các bạn có được những khái niệm cơ bản, giúp ích cho việc tìm
hiểu sâu hơn sau này. Nhiếp ảnh ứng dụng
Phục vụ quảng cáo
Bức ảnh tónh vật này được chụp
bằng máy CMOS-PRO của hãng
Sound Vision, một trong những
máy ảnh số chất lượng cao đầu
mắt thường. Cuối cùng, các cơ sở in quảng cáo thích nhận hình ảnh dưới dạng số để đỡ mất thời
gian và tiền bạc quét hình.
Chính những lý do đó hợp lại đã
khiến ngành nhiếp ảnh quảng cáo
vốn có quan hệ mật thiết với nghệ
thuật đồ họa trang trí đã trở thành
lãnh vực đầu tiên mà nhiếp ảnh kỹ
thuật số chứng tỏ ưu thế của mình.
Sử dụng những thiết bò số cao cấp
chuyên dụng gắn vào lưng những
máy ảnh view cỡ lớn hay những máy
ảnh medium-format cỡ trung, Các
nhà nhiếp ảnh thương mại của non
10 năm trước đã có thể tạo ra những
bức ảnh có chất lượng kỹ thuật
ngang ngửa với người anh em sử
dụng phim nhựa. Mike Berceanu đã sử dụng loại máy
ảnh số chuyên dụng StudioCam của
hãng Agfa để chụp bức ảnh này. Phục vụ xuất bản
nhà viết chương trình
truyền thông đa
phương tiện
(multimedia), đặc biệt
thích sử dụng máy ảnh số vì hình ảnh sẵn sàng sử dụng ngay khi vừa chụp xong. Vì hình ảnh không
phải tráng rọi rồi scan như chụp bằng phim phổ thông, độ phân giải thấp của những máy ảnh số rẻ
tiền không ảnh hưởng đến nhu cầu này. Thực tế thì khi đưa lên trang Web, người ta phải giảm bớt
độ phân giải của những hình ảnh số có chất lượng quá cao.
Một khi hình ảnh đã ở dạng số, ta có thể đưa chúng vào những phần mềm trình bày-dàn trang như
PageMaker hay QuarkXPress để xuất bản dưới dạng ấn phẩm in, chèn vào những phần mềm xử lý
văn bản như Microsoft Word để in những ấn phẩm lưu hành nội bộ.
Bản thân cuốn sách mà các bạn đang đọc cũng là một sản phẩm hoàn toàn kỹ thuật số kể từ giai
đoạn đầu tiên. Cuốn sách này được biên soạn trực tiếp trên máy vi tính. Nhiều thông tin và hình
ảnh trong cuốn sách này được tham khảo và thu thập trực tiếp từ Internet. Các hình ảnh minh họa
được số hóa bằng cách quét hình bằng máy scanner trực tiếp từ các trang sách báo hay tạp chí. Khi
hoàn thành bản thảo, toàn bộ nội dung và hình ảnh được chuyển sang một phần mềm dàn trang để
trình bày dưới dạng cuốn sách, trước khi giao cho một công ty chế bản và in ấn. Toàn bộ quá trình
thực hiện để cho ra đời cuốn sách mà các bạn đang cầm trên tay là một quá trình kỹ thuật số. Phục vụ nghiên cứu khoa học
Nhiếp ảnh kỹ thuật số là công cụ lý tưởng để phục
vụ cho nhiều ngành khoa học Dưới đây là một bức
ảnh chụp tính chất phản chiếu quang phổ của cây cối
qua đó nhằm xác đònh trạng thái của một vùng canh
nông. Sử dụng những bức ảnh như vậy, nông dân
ngày nay có thể quản lý mùa màng, sản lượng của
trình thám hiểm không gian, trong đó có các chương trình thám hiểm Hỏa Tinh do NASA thực hiện
đều dùng phương án này để truyền hình ảnh về. Không có các phương tiện nhiếp ảnh kỹ thuật số
thì tri thức của con người chắc sẽ còn bò giới hạn hơn nữa và nhiều bí mật của vũ trụ chắc chắn sẽ
không bao giờ có thể giải thích được.
Không những vươn xa tận những hành tinh mà khoảng cách phải đo bằng năm ánh sáng, nhiếp ảnh
kỹ thuật số còn đi vào phòng thí nghiệm, kết hợp với những kính hiển vi đặc biệt để chụp ảnh từng
tế bào của sinh vật. Trong lãnh vực này, Roman Vishniac là một bậc thầy – một nhà khoa học nghệ
só. Phương tiện kỹ thuật số vẫn là giải pháp tối ưu trong phòng thí nghiệm vì hình ảnh chụp được có
thể hiển thò tức thì. Phương tiện để thể hiện cảm xúc thẩm mỹ cá nhân
Các kỹ thuật vi tính được ứng dụng vào sáng tạo nhiếp ảnh chỉ trong khoảng thập niên cuối cùng
của thế kỷ này nhưng đã gây nhiều thay đổi lớn trong bộ mặt nhiếp ảnh của thế giới. Khởi đầu là
ứng dụng cho quảng cáo, rồi đến trang trí đồ họa và trình bày ấn phẩm, nhiếp ảnh vi tính hay ảnh
kỹ thuật số giờ đây đã tự mình khẳng đònh như một thể loại, một thủ pháp sáng tác mới cho nhiếp
ảnh. Các cuộc thi ảnh quốc tế trong những năm gần đây đều có giải riêng cho mảng ảnh kỹ thuật
số.
Nhiếp ảnh kỹ thuật số ngày nay lại được chia làm 3 khuynh hướng:
Khuynh hướng thứ nhất chỉ sử dụng kỹ thuật số làm công cụ phụ trợ, bổ sung cho những hạn
chế của các phương tiện nhiếp ảnh và phòng tối truyền thống. Thay vì sử dụng phòng tối, họ sử
16
dụng một máy vi tính và một phần mềm xử lý hình ảnh mạnh như Photoshop hoặc PhotoPaint
để có kết quả như ý và chắc chắn đồng thời tiết kiệm hơn là sử dụng phương tiện hóa chất và
thao tác thủ công truyền thống. Những hình ảnh kỹ thuật số theo phong cách “cổ điển” này
photographic realism) là
Bert Monroy (Mỹ).
“Phố Tàu” (Chinatown) được
Bert Monroy thể hiện hoàn toàn
trên máy vi tính. Ông dùng phần
mềm Adobe Illustrator để dựng
cảnh, sau đó đưa hình ảnh vào
phần mềm Photoshop để tạo hiệu quả ánh sáng. Đến đây thì chắc nhiều độc giả hẳn sẽ kêu lên: “Nếu như vậy thì có còn là nhiếp ảnh nữa không?”
Đây là một thắc mắc theo quán tính có nguồn gốc từ khi nhiếp ảnh xuất hiện ở Việt Nam. Ngay
cái tên gọi “nhiếp ảnh” bắt nguồn từ chữ Hán trong đó “nhiếp” có nghóa là “chụp bắt, thu giữ”.
Trong khi đó, từ “photography” do nhà khoa học Anh Quốc Sir John Herschel sử dụng lần đầu tiên
năm 1839 lại có nguyên nghóa gốc La-tinh là “vẽ, viết bằng ánh sáng”.
17
Từ những năm 1920, các nhà nhiếp ảnh tiên phong của khuynh hướng trừu tượng như Moholy-Nagy
và Man Ray đã từng có những tác phẩm nhiếp ảnh không cần phải chụp. Sử dụng kỹ thuật
photogram, họ sắp xếp những vật thể, cây lá, hay chính bàn tay và gương mặt mình trực tiếp lên tờ
giấy ảnh trong phòng tối và dùng ánh sáng rọi lên giấy ảnh để tạo thành những tác phẩm nghệ
thuật cho tới bây giờ vẫn còn nguyên vẹn giá trò. Nhiếp ảnh kỹ thuật số theo khuynh hướng “phi
nhiếp ảnh” chỉ là sự tiếp nối và phát triển rộng hơn con đường mà Moholy-Nagy và Man Ray đã
khai phá.
Dù theo khuynh hướng nào, hình ảnh do máy vi tính xử lý sau đó được xuất ra các phương tiện
nhiếp ảnh như phim, giấy thuốc, hoặc in bằng máy in để phục vụ cho việc trưng bày, triển lãm
hoặc đưa ra máy tách màu để phục vụ cho việc ấn loát.
trường phái ấn tượng (impressionism) đã tạo ra biết bao bức tranh phong cảnh tuyệt diệu chỉ bằng
những chấm sơn nhỏ, màn hình vi tính và máy in của ta tạo ra hình ảnh bằng những chấm nhỏ gọi
là picture elements (thành tố hình
ảnh) hay thường gọi tắt là pixel. Bức ảnh chụp gương mặt (phải)
trông bình thường, nhưng khi con
mắt (trái) được phóng lớn quá
mức thì các pixel bắt đầu lộ ra. Các pixel được tạo ra bằng cách
phân chia hình ảnh thành nhiều ô
vuông nhỏ. Trong cái khung kẻ ô
vô hình này, máy vi tính có thể
thay đổi độ sáng và màu sắc của
từng ô vuông một để tạo thành
chữ viết hay hình ảnh để hiển thò
19
trên màn hình. Việc điều khiển, biến đổi từng ô vuông một trong khung kẻ ấy gọi là bit mapping
(lập bản đồ điểm). Do đó mọi hình ảnh tạo ra theo cách này đều gọi chung là ảnh bitmap.
Với bất kỳ hình ảnh nào đã số hóa, nếu ta quan sát ở độ khuếch đại đủ lớn thì ta sẽ thấy những
pixel - đây là một tiến trình gọi là pixelization (tạm dòch là "phân điểm").
Cấu trúc của pixel biến đổi tùy theo pixel đó nằm trong máy ảnh, trên màn hình hay trên bản in.
Máy ảnh số Kodak
Disc camera 1982
320x525
11.000x11.000
168.000
120 triệu
Tạp chí The Economist cho rằng có ít nhất 20 triệu.
Tạp chí CMOS Imaging News cho rằng có từ 5 đến
10 triệu tùy theo loại phim. Chuyên gia của hãng
SoundVision cho rằng phim màu âm bản có độ phân
giải 1000 pixel trên một inch còn phim màu sương
bản là 2000 pixels trên một inch.
3 triệu pixel – mỗi pixel có đường kính 0.0003 inch 20
Có 3 cách để biểu thò độ phân giải của một hình ảnh: 1) bằng kích thước theo pixel, (2) bằng tổng
số pixel, (3) bằng số pixel trên một inch (ppi) hay số chấm trên một inch (dpi). Độ phân giải – quang học và nội suy
Hãy thận trọng trước những lời quảng cáo về độ phân giải của các loại máy ảnh số và máy quét
(image file size) thay
cho độ phân giải.
Chẳng hạn, một máy
ảnh nào đó có thể tạo
ra những tập tin 30
megabyte. Đây cũng
chỉ là một cách gọi
tắt. Nhưng megabyte
là gì?
Bit, byte và megabyte 21
Bit là đơn vò cơ bản của thông tin theo hệ thống số nhò phân ( viết tắt của BInary digiT). Các mạch
điện tử trong máy tính sẽ phát hiện sự khác nhau giữa hai trạng thái (dòng điện mức cao và dòng
điện mức thấp) và biểu diễn các trạng thái đó dưới dạng một trong hai số nhò phân 1 hoặc 0. Các
đơn vò cơ bản cao/thấp, đúng/sai, có/không, thế này/thế kia được gọi là các bit. Vì việc chế tạo một
mạch điện tin cậy có thể phân biệt được sự khác nhau giữa 1 và 0 là tương đối dễ dàng và rẻ tiền,
cho nên máy tính có khả năng xử lý nội bộ các thông tin nhò phân một cách rất chính xác.
Nhóm tám bit kề liền nhau, tạo thành 1 byte – đơn vò dữ liệu cơ sở của máy tính cá nhân. Do được
lưu trữ tương đương một ký tự, nên byte cũng là đơn vò cơ sở để đo sức chứa của máy tính. Cấu trúc
máy tính (đối với hầu hết các bộ phận) dựa trên cơ sở số nhò phân, cho nên các byte được tính theo
các lũy thừa của 2. Thuật ngữ kilô (trong kilobyte) và mega (trong megabyte) thường được dùng
làm bội số trong việc đếm byte, nhưng không được chính xác lắm vì chúng có nguồn gốc thập phân
(cơ số 10). Một kilobyte thực tế bằng 1.024 byte, còn megabyte bằng 1.048. 576 byte. Nhiều nhà
khoa học về máy tính đã chỉ trích các thuật ngữ này, tuy nhiên những thuật ngữ này vẫn được dùng
vì chúng cho những khái niệm quen thuộc theo cách đếm thập phân và thuận lợi trong việc đo
Photosite nhỏ hơn sẽ phải thiết kế sao cho nhạy hơn để thu giữ cùng một lượng sáng. 22
Càng nhiều photosite thì tập tin hình ảnh tạo ra càng lớn, việc lưu trữ sẽ khó khăn hơn. Độ phân giải của màn hình
Độ phân giải của màn hình vi tính hầu như luôn luôn được biểu thò bằng một cặp số chỉ chiều dài
và chiều rộng của màn hình tính bằng pixel. Ví dụ, màn hình có thể được chỉ đònh là 640x480,
800x600, 1070x768,
vân vân...
Số đầu tiên biểu
thò số pixel chạy
ngang màn hình
Số thứ hai biểu thò
số pixel chạy dọc
màn hình
Hình ảnh hiển thò trên
màn hình thường có
độ phân giải rất thấp.
Ta có thể thấy từ bảng
kê bên dưới, con số
ppi thực đối với độ
phân giải và kích
thước tính bằng inch
của màn hình. Tính
91 ppi
51 ppi
64 ppi
82 ppi
44 ppi
56 ppi
71 ppi
41 ppi
51 ppi
65 ppi
Độ phân giải của máy in và máy quét
Độ phân giải của máy in và máy quét thường được biểu thò bằng số chấm trên một inch – dot per
inch hay thường viết tắt là dpi. (Cũng cùng một hình ảnh ấy, nếu hiển thò trên màn hình thì tính
23
theo pixel per inch còn được đưa vào từ máy quét hay đưa ra máy in thì tính theo dot per inch.
Tôi có cảm tưởng như những thay đổi thuật ngữ như thế này chỉ nhằm đánh đố những người cầm
máy ảnh như bạn và tôi. Trong cuốn sách này, tôi sẽ sử dụng cả hai thuật ngữ thay đổi tùy theo
trường hợp). Để so sánh ta tham khảo vài con số sau: Màn hình trung bình dùng độ phân giải 72 ppi
Để làm cho hình ảnh lớn hơn hay nhỏ hơn cho phù hợp với thiết bò xuất ra, ta phải thay đổi kích
thước (resize) bằng một chương trình xử lý ảnh hay bằng phần mềm điều khiển máy in. Việc thay
đổ kích thước được thực hiện bằng phép nội suy (interpolation) đã nói ở trên. Khi làm cho hình lớn
hơn, các pixel bổ sung sẽ được thêm vào và màu sắc của mỗi pixel mới được căn cứ theo màu sắc
của các pixel lân cận. Khi thu cho hình nhỏ lại thì nhiều pixel sẽ bò xóa hẳn đi.
Một nguyên tắc cần nhớ: Một hình ảnh số 1.5 megapixel (1280x1024 pixel) chỉ có thể phóng lớn
tối đa 20x25 cm. Khi phóng lớn hơn nữa, ta sẽ bắt đầu thấy điểm hạt khi xem ở khoảng cách bình
thường. Theo hãng Kodak, hình ảnh số 1 megapixel (khoảng 1150x864 pixel) có thể cho chất lượng
trung thực như ảnh chụp nếu in với kích thước 13x18 cm
Hình minh họa dưới đây cho thấy một hình ảnh có kích thước 640x480 pixel sẽ cho các cỡ khác
nhau với các thiết bò có độ phân giải khác nhau: Hiển thò trên màn hình có độ phân giải 72 ppi,
24
hình sẽ có kích thước khoảng 18x24 cm. Khi in ra máy in 300 dpi, kích thước hình sẽ khoảng 4x6
cm và khi in với máy in 1500 dpi, chỉ còn cỡ 0.8x1.2 cm.