(Luận văn thạc sĩ) phát triển công nghệ thông tin trong điều kiện kinh tế thị trường ở việt nam - Pdf 70

Đại học Quốc gia Hà nội
--------------------------------

Khoa kinh tế

Đinh Thị Hồng Duyên

Phát triển Công nghệ thông tin trong điều kiện kinh
tế thị trường ở Việt nam

Luận văn thạc sỹ kinh tế


Đại học quốc gia hà nội
--------------------------------

Khoa kinh tế

Luận văn thạc sỹ kinh tế

Phát triển Công nghệ thông tin trong điều kiện kinh
tế thị trường ở Việt nam

Chuyên ngành: Kinh tế chớnh trị
Mã số:

50201

Giỏo viờn hướng dẫn: Tiến sỹ Tạ Đức Khỏnh
Học viờn thực hiện: Đinh Thị Hồng Duyờn
Khóa: 9 (2000 – 2003)

Chương 1. Công nghệ thơng tin và vai trị của nó trong nền kinh

4

1. Tính cấp thiết của đề tài.

tế hiện đại
1.1. Khái luận về Công nghệ thông tin

4

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm

4

1.1.1.1 Một vài khái niệm

4

1.1.1.2. Những đặc điểm chính

9

1.1.2. Vai trị của CNTT

15
15

1.1.2.1. CNTT hình thành nên một nền kinh tế mới và là nền tảng của
một phương thức sản xuất kinh doanh mới


38

1.2.2.3. Xây dựng được một cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia đủ mạnh

42

1.2.2.4. Tạo thị trường rộng lớn từ nước ngoài

43
45

1.2.2.5. Xây dựng các khu công nghiệp phần mềm tập trung với các chính
sách ưu đãi đặc biệt.

Chương 2. Thực trạng phát triển Công nghệ thông tin ở Việt

nam
1

47


2.1. Môi trường phát triển CNTT ở Việt nam
2.1.1. Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội ổn định

48
48

2.1.2. Thị trường nội địa rộng lớn, giàu tiềm năng.

2.2.1.4. Chỉ số sẵn sàng cho nền kinh tế điện tử.

66

2.2.2. Tình hình sản xuất và cung ứng
2.2.2.1 Tình hình xuất nhập khẩu máy tính và linh kiện máy tính

67
68

2.2.2.2. Tình hình sản xuất phần cứng và thiết bị

72

2.2.2.3. Tình hình sản xuất phần mềm

75

2.2.3. Tình hình ứng dụng và tiêu thụ

80

2.2.3.1. Tình hình ứng dụng và tiêu thụ máy tính
2.2.3.2. Tình hình ứng dụng và tiêu thụ phần mềm

80
81

2.2.2.3. Internet và Thương mại điện tử tại Việt nam



104

chiến lược cho phát triển CNTT Việt nam
3.1. Những khó khăn, thuận lợi cho CNTT Việt nam trong thời gian
tới và quan điểm định hướng cho Việt Nam

104

3.1.1. Những thuận lợi và khó khăn cho CNTT Việt nam trong thời

104

2


gian tới.
3.1.1.1.Những thuận lợi

105

3.1.1.2. Những khó khăn

108

3.1.2. Những quan điểm định hướng cho Việt Nam

112

Một số giải pháp chiến lược cho phát triển CNTT Việt nam

138

Kết luận

141

3.2.

Từ viết tắt
Tài liệu tham khảo

3


Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Nền văn minh nhân loại đang bước vào một giai đoạn mới, một xã hội
văn minh, hiện đại với sự phát triển khoa học kỹ thuật cao nhất, một xã hội
văn minh hay mọi người vẫn gọi là nền văn minh thứ 3 hoặc nền văn minh
thông tin. Trải qua hàng trăm năm phát triển từ thủ công nhỏ và đến nền đại
công nghiệp, thế giới đang chứng kiến một cuộc cách mạng khoa học công
nghệ mạnh mẽ, sâu sắc, làm thay đổi hình thức và nội dung mọi hoạt động
kinh tế, văn hóa, xã hội của lồi người. Việt Nam là một phần của thế giới,
dân số chiếm một phần đáng kể và vẫn là một trong những quốc gia nghèo
nhất thế giới thì việc tích cực áp dụng những tiến bộ mới của khoa học, công
nghệ và đặc biệt là CNTT nhằm tạo cơ hội đi tắt, đón đầu, phát huy lợi thế
cạnh tranh, đẩy nhanh q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hố, q trình hội
nhập là một việc cần được đặc biệt coi trọng.
Trong những năm vừa qua, chính phủ cũng đã thấy rõ ý nghĩa chiến lược
và vai trò của CNTT đối với sự phát triển kinh tế đất nước. Từ năm 1975,

động quản lý. Bộ Bưu chính viễn thơng cũng đang có kế hoạch đưa ra dự
thảo Chiến lược phát triển CNTT của Việt nam trong năm 2004.
Ngồi ra, trong thời gian qua cũng có nhiều bài báo, bài viết đăng trên
các tạp chí và hội thảo khoa học bàn về vấn đề này.
Chính vì vậy, sau những nghiên cứu về kinh nghiệm quốc tế, những
đánh giá về hiện trạng CNTT Việt nam, cũng như sau khi đã khai thác, kế
thừa có chọn lọc những đóng góp của các nghiên cứu lý luận trước đó, luận
văn sẽ cố gắng đưa ra một số giải pháp chiến lược nhằm phát triển CNTT
Việt nam trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang phát triển không ngừng
dưới sức ép của tốc độ phát triển khoa học, công nghệ và thơng tin.
3. Mục đích nghiên cứu.
- Xác định vai trị, vị trí của CNTT trong q trình phát triển kinh tế xã hội
của đất nước

2


- Đánh giá thực trạng phát triển CNTT tại Việt nam, những thành cơng và
những bất cập cịn tồn tại.
- Đề xuất những quan điểm định hướng và một số giải pháp lớn để phát
triển CNTT Việt nam giai đoạn tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng: Dưới góc độ kinh tế chính trị, luận văn nghiên cứu CNTT
Việt nam như là một ngành quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội Việt
nam đặc biệt từ khi nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tiến trình phát
triển CNTT trong 10 năm qua và trong mối liên hệ với CNTT thế giới để đề
ra các giải pháp thích hợp nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển của ngành
nói riêng và tồn bộ nền kinh tế Việt nam.


4


Chương 1

Cơng nghệ thơng tin và vai trị của nó
trong nền kinh tế hiện đại
1.1.

Khái luận về Công nghệ thông tin

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm
1.1.1.1 Một vài khái niệm
 Thơng tin và các q trình thơng tin
Theo nghĩa thơng thường, thông tin là điều hiểu biết về một sự kiện,
một hiện tượng, một quan hệ nào đó, thu nhận được qua giao tiếp, khảo sát,
đo lường, lý giải, nghiên cứu v.v... Trong đời sống con người nhu cầu thông
tin không ngừng tăng lên theo sự phát triển của xã hội và kinh tế.
Tuy khái niệm thông tin rất phổ biến trong đời sống con người nhưng
những nội dung khoa học chung nhất về thơng tin và các q trình thông tin
chỉ mới được bắt đầu được nghiên cứu từ giữa thế kỷ 20, khi nhu cầu truyền
tin của con người tăng rất nhanh. Một trong những thành tựu đặc sắc của lý
thuyết truyền tin là việc đưa ra khái niệm lượng thơng tin. Theo đó lượng
thơng tin thu được về một sự kiện nào đó được xác định bằng độ bất định của
sự kiện đó trước khi biết nó xảy ra. Lý thuyết về lượng thông tin ra đời đã tạo
nền móng cho con người phát hiện ra thêm nhiều quy luật của thơng tin và
q trình truyền tin; cũng như q trình phát triển thơng tin trong các hệ
thống truyền tin nhân tạo và trong hệ thống phức tạp khác. Về mặt định tính,
lý thuyết thơng tin cũng cho ta hiểu một thuộc tính căn bản của thơng tin là

tồn cầu - mạng của các mạng - giúp cho người sử dụng ở bất kỳ máy tính
nào cũng có thể truy cập tới thơng tin tại các máy tính khác và có thể đối
thoại trực tiếp với người sử dụng trên đó. Tên gọi Internet được Cơ quan
nghiên cứu dựa án cao cấp ARPA của Mỹ đưa ra năm 1960. Ban đầu, người
ta biết đến nó qua ARPANet - mạng cơ quan nghiên cứu dự án cao cấp. Mục
tiêu ban đầu là thiết lập mạng cho phép các chuyên gia nghiên cứu ở một
trường đại học có thể kết nối với máy tính ở các trường đại học khác bằng
cách trao đổi thơng điệp, rồi nó được mở rộng dần và ngày càng có nhiều
người sử dụng do những lợi ích mà nó mang lại rất lớn.

6


Ngày nay, Internet là một phương tiện phổ biến giúp cho hàng trăm
triệu người trên tồn thế giới có thể kết nối với nhau. Về cơ sở vật chất,
Internet sử dụng một phần hệ thống mạng thông tin viễn thông công cộng. Về
mặt công nghệ, Internet sử dụng giao thức có tên là TCP/IP (Giao thức điều
khiển truyền thơng). Để tương thích, các mạng nội bộ và mạng bên ngồi
cũng sử dụng giao thức này.
Đối với người sử dụng Internet, thư điện tử (email) đã thực sự thay thế
dịch vụ thư tín truyền thống. Đó là ứng dụng rất phổ biến trên mạng hiện nay.
Người dùng có thể đối thoại với người sử dụng khách trên mạng bằng cách
dùng phần mền Chat hoặc đối thoại có âm thanh và hình ảnh thông qua
những thiết bị ngoại vi tân tiến.
Dịch vụ được sử dụng phổ biến và rộng rãi nhất trên Internet là Word
Wide Web viết tắt là WWW. Đây là kỹ thuật truyền tin siêu văn bản và là
một phương thức tham khảo chéo được sử dụng rộng rãi để truyền tin trên
mạng. Khi sử dụng Web ta có thể truy cập vào hàng triệu trang thông tin,
giống như xem một tờ báo hay một chương trình thời sự với rất nhiều thông
tin khác nhau được sắp xếp và bố trí đẹp mắt trên màn hình máy tính. Đến

nhận thư điện tử có nội dung quảng cáo về những danh mục sản phẩm hay
những tiêu chí khác mà họ quan tâm.
Với những tiến bộ nhanh chóng của kỹ thuật điện tử, tin học và viễn
thơng trong những thập niên vừa qua máy tính đang được sử dụng khắp mọi
nơi và được liên kết lại với nhau thành mạng quốc gia, khu vực và Internet.
Trong tương lai các siêu xa lộ thông tin sẽ phủ khắp mọi nơi trong nước và
trên thế giới. Nhờ vậy, CNTT ngày càng được ứng dụng sâu rộng trong mọi
ngành kinh tế và hoạt động xã hội. Yếu tố thông tin ngày càng chiếm vị trí
quan trọng trong nền kinh tế và hoạt động xã hội. Dưới những ảnh hưởng đó,
kinh tế cơng nghiệp đang chuyển dần thành kinh tế thông tin và xã hội cũng
phát triển theo xu hướng hình thành một xã hội thơng tin.
 Máy tính điện tử và CNTT.
CNTT khởi đầu từ lúc con người chế tạo ra các loại máy móc tự động
thực hiện một số chức năng xử lý thông tin, trước hết là các máy tính điện tử
(MTĐT) để chế tạo ra MTĐT người ta phải tìm được cách biểu diễn thơng tin
bằng các tín hiệu kỹ thuật và cách thực hiện các hoạt động lưu trữ, xử lý
thông tin bằng các biện pháp xử lý kỹ thuật trên các tín hiệu tương ứng.
8


Trong hoạt động của con người, thông tin thường được thể hiện qua các hình
thức như chữ số, chữ viết, tiếng nói, âm thanh, hình ảnh, màu sắc... nghĩa là
được thể hiện bằng nhiều hệ thống tín hiệu rất đa dạng và phong phú. Tuy
nhiên trong MTĐT và các thiết bị thông tin để biểu diễn thông tin người ta
dựa vào trạng thái vật lý của các vật liệu. Đầu tiên là các bóng bán dẫn rồi
đến các tinh thể con người mới tạo được hai trạng thái khác nhau của vật chất
là “đóng” và “mở”. Do đó việc mã hố thơng tin chỉ dùng hai trạng thái trên
và để thuận tiện người ta dùng hai con số toán học là 0 và 1 để biểu diễn sự
mã hoá này. Cùng với sự phát triển của toán học, bằng nhiều phương pháp
mã hoá kết hợp các phương pháp xấp xỉ bằng cách làm gián đoạn, rời rạc, các

 CNTT là một cơng nghệ mũi nhọn:
Mũi nhọn ở đây có nghĩa là chóp của một kim tự tháp, được xây dựng
trên thành quả của nhiều khoa học và cơng nghệ khác. Ví dụ như việc tự sản
xuất các bản mạch bìa in (printed board) hay “Bản in mặt hậu” (Back panel)
là một bước tiến rất lớn trong cơng nghệ vì nó giúp việc sản xuất các thiết bị
điện tử được thuận lợi hơn, giá rẻ hơn và đặc biệt độ là ổn định cao hơn hẳn
các loại mạch cũ. Nhưng hiện nay để có thể gắn các mạch tổng hợp vào bản
in, người ta phải in được trên bìa những đường dây rộng khoảng 0,10 mm,
cách nhau cũng cỡ đó, đục lỗ xun bìa và hàn cũng với đường kính đó với
độ chính xác tương ứng. Phải nắm vững kỹ thuật tráng nhựa Epoxy nhiều lớp
trong một nhà máy rất sạch mới có thể thực hiện được. Mặc khác việc vẽ
những mạch in trên bìa cũng cần những chương trình “tìm đường” (routing)
có độ chính xác cao, sử dụng những phương pháp gần tối ưu của vận trù học
(operational research). Tóm lại cơng nghệ đó là kết quả tổng hợp của ngành
toán học, hoá học, quang học, cơ khí chính xác cũng như cơng nghệ làm
mạch tổng hợp, nhưng ở mức độ tinh vi hơn nhiều.
Dĩ nhiên công nghệ mũi nhọn luôn luôn nặng về tri thức, và đó cũng
là đặc điểm của CNTT. Cơng nghệ hay người ta còn gọi là “cách làm” (know
how) là thành quả của nhiều nghiên cứu, thử nghiệm. Đây là yếu tố then chốt
để phát triển một ngành công nghiệp và để nắm bắt nó cần có một cơ sở lý
thiết vững vàng về khoa học. Chính điều này đã giải thích tại sao để phát
triển CNTT chúng ta cần đặc biệt quan tâm tới vấn đề phát triển nguồn nhân
lực.

10


 Một công nghệ được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực
Hiện nay CNTT được sử dụng trong mọi lĩnh vực từ khoa học tới kinh
tế và xã hội. Khởi đầu CNTT được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu khoa

trình gì đáng kể, có lẽ vì hàng rào ngơn ngữ . Có thể tạm chia làm bốn
lĩnh vực khác nhau :
- Các chương trình ứng dụng tổng quát, chuyên cho quản lý, xử lý văn
bản, tính tốn cơng nghiệp hay tính tốn khoa học (ngơn ngữ lập trình
cao cấp như Mathematica, các hệ quản trị cơ sở dữ liệu ...). Người
dùng cuối cùng có thể viết những ứng dụng dễ dàng hay cũng có thể sử
dụng thẳng mà khơng cần viết chương trình gì thêm.
- Các chương trình gọi là "middleware", cho phép các chương trình ứng
dụng phân tán (có thể tổng qt hay khơng) sử dụng tới mạng thông tin
ở mức dễ dàng và trừu tượng, thông qua hệ điều hành mạng.... Về mặt
ứng dụng trong quản lý đây là lĩnh vực quan trọng nhất hiện nay.
- Các chương trình gắn liền với một sản phẩm đặc biệt nào đó
(embedded systems), với những giao diện sử dụng đặc biệt thẳng với
người dùng, như ở trong máy giặt, máy hát, máy bay, trị chơi... Thật ra
loại chương trình này có thể thấy ở khắp các lĩnh vực, chỗ nào có bộ vi
xử lý mà khơng phải là một máy tính đều có nó. Nhưng đặc điểm của
chúng là tự giấu kín. Các chương trình này thường do những hãng làm
sản phẩm tự viết ra hoặc đặt gia công tại các công ty chuyên phát triển
hệ mềm.
- Và sau cùng là một mảng cũng khá đồ sộ những chương trình được
làm ra để phục vụ chính bản thân việc nghiên cứu và phát triển ngành
CNTT và ứng dụng trong quản lý, tính tốn và điều khiển. Ngồi các
ngơn ngữ lập trình ra, phải kể đến các chương trình phụ giúp việc phát
triển và quản lý phát triển phần mềm ; cũng như các chương trình để
làm mạch tổng hợp ASIC hay để sử dụng các FPGA (ASIC:
(Application Specific Integrated Circuit) là các mạch tổng hợp có chức
năng nhất định. Cịn lại là bộ nhớ, và các linh kiện có thể được biến
đổi để làm các mạch điện tử khác nhau, trong đó đặc biệt có FPGA
(Field Programmable Gate Array) là các linh kiện có thể được thay đổi
chức năng ngay trước khi hoạt động, khi linh kiện đã nằm trong bìa

rẻ, thường được các công ty quốc tế làm tại các chi nhánh ở châu á như
Malaysia, Singapore ... Nhưng những linh kiện sản xuất đại trà (bộ nhớ là
chủ yếu) đã được sản xuất tại Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore, kể cả
giai đoạn làm wafers trong các nhà máy mua của Mỹ hay Nhật.
13


Có một điều rất quan trọng là một nền cơng nghệ có nhiều tầng lớp như
trên, và lại trải ra khắp hồn cầu, vẫn ln ln tiến bộ được nhịp nhàng ? vì
khơng phải mỗi lúc, mỗi tháng hay mỗi năm mà có thể thay đổi tất cả các
cơng đoạn để thành một bước nhảy vọt mới trong công nghệ, phần cứng cũng
như phần mềm. Đó chính là khía cạnh chuẩn trong giao diện của những
tầng lớp nói trên (thương lượng trong các tổ chức nghề nghiệp, hay do một
công ty áp đặt qua vị trí thượng phong của họ). Những giao diện này được
nghiên cứu rất kỹ để tồn tại lâu hơn các sản phẩm trong mỗi công đoạn, và
khi thay đổi nhanh và mạnh hơn trước thì vẫn giữ được tương thích với quá
khứ gần, tuy phải trả cái giá là có thể khơng khai thác được 100% cơng xuất
mà kỹ thuật mới có thể đem lại. Tuy nhiên sự tương thích này vẫn cần những
sửa chữa nhất định, và những sửa chữa chất chồng làm cho sản phẩm về lâu
dài có thể trở thành xấu đi về mặt chất lượng, và đến một lúc nào đó cũng
phải thay đổi tồn bộ. Cho đến nay khía cạnh xấu này được che lấp do sức
tiến luỹ thừa của công nghệ cơ bản đã khơng chỉ bù vào mà cịn cho phép
tăng khá cao chức năng và hiệu xuất các hệ mềm nhìn từ phía người sử dụng.

 Một cơng nghệ biến chuyển rất nhanh
Những quan sát thị trường hàng ngày cho thấy sự biến chuyển thường
trực của các sản phẩm máy tính PC và ngoại vi. Những biến chuyển này chạy
theo kịp đà tiến của công nghiệp điện tử cơ bản theo quy luật Moore, với giá
cố định thì khả năng các linh kiện mỗi 18 tháng lại tăng gấp đơi. Và quy luật
thực nghiệm này cịn có điều kiện kéo dài trên mười năm nữa trước khi gặp

sẵn và được sản xuất đại trà.
- Công nghệ tác tử (agent), công nghệ để thực hiện trong tương lai những
ứng dụng di động và thơng minh. Đó là những chương trình có thể tự
động di chuyển trong mạng viễn thông đến các nơi để hoạt động với một
mục đích nào đó.
Có thể tiên đốn trong vịng vài năm nữa những cơng nghệ này sẽ lần lượt
chín muồi và kết hợp được với nhau để hình thành một bước phát triển mới
của CNTT, rẻ hơn, chất lượng tốt hơn, và khả năng phục vụ cao hơn hiện
nay. Khi đó sẽ cần rất nhiều chuyên gia trong các ngành nghề và chuyên gia
15


CNTT cộng tác với nhau để thực hiện những phần mềm ứng dụng dựa trên
các thành quả nghiên cứu này.

 Một cơng nghệ mà sở hữu trí tuệ đóng vai trị tối quan trọng trong việc
phát triển.
Là một cơng nghệ mũi nhọn có hàm lượng tri thức cao nên vấn đền
bảo vệ tri thức đóng vai trị rất quan trọng trong chính sách phát triển CNTT
của các quốc gia. Các sản phẩm CNTT đặc biệt là các sản phẩm phần mềm
và các dịch vụ gia tăng giá trị, việc sao chép hết sức đơn giản và nhanh
chóng. Để ra đời một sản phẩm phải đầu tư tiền bạc, công sức, thời gian rất
lớn lại có thể sẽ dễ dàng bị sao chép, bày bán cơng khai chỉ trong vịng một
hai tuần sau khi được tung ra thị trường. Hơn nữa cách chuyển giao cũng hết
sức đơn giản, có thể chỉ là một vài đoạn mật mã, một vài công thức nằm gói
gọn trong khơng đến 1/4 trang A4. Chính vì vậy việc bảo hộ sở hữu trí tuệ là
điều then chốt để phát triển được CNTT

1.1.2. Vai trò của CNTT
1.1.2.1. CNTT hình thành nên một nền kinh tế mới và và là nền tảng của

trực tiếp và là “tiêu chuẩn vàng” của thời đại hiện nay.
Nếu như trong nền kinh tế cũ, mục tiêu quan trọng nhất là tối ưu hố tiến
trình sản xuất đại quy mơ; do đó địi hỏi phải có một tổ chức có đẳng cấp và
kỷ luật cơng nghiệp, thì nay trong nền kinh tế mới, điều quan trọng là phát
minh khoa học, kỹ thuật và khả năng phát hiện các công nghệ mới. Tổ chức
doanh nghiệp vì thế phải mỏng, nhẹ nhằm khuyến khích sự sáng tạo và thích
nghi với điều kiện kinh doanh thay đổi nhanh chóng. Thử thánh lớn nhất hiện
nay cho giới lãnh đạo doanh nghiệp là quản lý kiến thức (knowledge
management), chứ không phải là quản lý sản xuất hay quản lý tài chính nữa.
Trong nền kinh tế mới, đại đa số người lao động làm việc bằng trí óc để
xử lý thông tin, chứ không phải làm việc bằng chân tay để chế biến hàng hoá
vật chất. Hiện nay ở Mỹ, hơn 75% lực lượng lao động làm công việc xử lý
thông tin, chứ không phải xử lý vật chất. Thơng tin có thể được số thức hóa
dễ dàng, vì vậy càng thích hợp với nền kinh tế Internet.
17


Quá trình hình thành nền kinh tế mới cũng thay đổi cung cách lao động.
Trong trường hợp của Mỹ, mô hình lao động đã biến dạng rất nhiều so với
mơ hình cổ điển. Khi đó cơng nhân viên làm việc từ 9 giờ sáng đến 5 giờ
chiều tại các xí nghiệp, văn phòng. Nhân viên trong các doanh nghiệp được
tổ chức thành đẳng cấp, ngạch thật rõ ràng. Nhưng hiện nay, khoảng 10% lực
lượng lao động là người hành nghề độc lập, chứ không phải là nhân viên của
một công ty, khoảng 20 triệu người làm việc từ xa (telecommuting), ở nhà
không cần đến cơ quan trong giờ làm việc ít nhất một ngày trong một tháng
(tăng gấp đôi so với năm 1993). Khuynh hướng làm việc với giờ giấc linh
động, qua mạng Intranet hay Internet ngày càng tăng, con số tăng từ 15% lực
lượng lao động năm 1991 tới 30% hiện nay. Năm 1999, có 17 triệu người chủ
động đổi việc, so với 6 triệu người trong năm 1994. Bây giờ chỉ có 1 trong 5
cơng nhân cịn được xếp vào loại khơng cần hoặc khơng có tay nghề chuyên

cầu đã trở thành hiện thực. Sau cùng, trong mạng cũ, hệ thống viễn thông do
nhà nước sở hữu và điều hành, nhưng trong mạng mới, hệ thống viễn thông
được tư nhân hóa và tự do hóa rất nhiều. Đặc biệt mạng Internet tồn cầu
chịu rất ít luật lệ trói buộc và hiện nay các hoạt động thương mại điện tử
không bị đánh thuế.

Rõ ràng CNTT là một lực lượng quan trọng bởi vì nó trở thành một
cơng cụ “khuếch đại sức mạnh của não giống như các công nghệ của cuộc
cách mạng công nghiệp khuếch đại sức mạnh của cơ bắp”.

1.1.2.2. CNTT tạo nên một nền tảng văn hoá xã hội mới, nền văn hoá tri
thức với xu hướng đổi mới không ngừng.
Với sự phát triển CNTT người ta đã thấy tồn tại một nền văn hoá tri
thức mới với tinh thần chịu mạo hiểm sáng tạo tri thức mới, của cái mới.
Chính phủ nhận thức được vai trị của mình trong giáo dục, trong việc
khuyến khích sáng tạo và chấp nhận rủi ro mà hoạt động kinh doanh, văn hố
địi hỏi, trong việc định ra những thể chế tạo thuận lợi cho việc biến những ý
tưởng thành hiện thực. Bên cạnh đó tri thức trở thành vốn quý nhất trong nền
kinh tế. Trước đây, nhiều nhà nghiên cứu thường coi lao động và vốn là hai
yếu tố chủ chốt của sản xuất, cịn tri thức, giáo dục, cơng nghệ là các yếu tố
bên ngồi của sản xuất tuy có ảnh hưởng nhất định tới sản xuất. Tri thức khác
19


với vốn hay lao động ở chỗ người có kiến thức nếu trao kiến thức cho người
khác thì kiến thức sẽ không mất đi mà lại được sử dụng tốt hơn, càng trao
cho nhiều người thì khả năng sử dụng nó tạo ra của cải, lợi ích càng nhiều.
Mặt khác, chi phí để phổ biến tri thức ra cơng chúng để làm tăng số người sử
dụng bằng không.
Quyền sở hữu đối với tri thức trở thành quan trọng nhất, hơn cả vốn,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status