(Luận văn thạc sĩ) phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em tiếp cận từ góc độ quyền con người và thực tiễn tại thành phố hải phòng - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH BÌNH

PHßNG CHèNG MUA BáN PHụ Nữ Và TRẻ EM:
TIếP CậN Từ GóC Độ QUYềN CON NGƯờI
Và THựC TIễN TạI THàNH PHố HảI PHßNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2019


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH BÌNH

PHßNG CHèNG MUA BáN PHụ Nữ Và TRẻ EM:
TIếP CậN Từ GóC Độ QUYềN CON NGƯờI
Và THựC TIễN TạI THàNH PHố HảI PHßNG
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: 8380101.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN MẬU TUÂN

HÀ NỘI - 2019


dân hai cấp thành phố Hải Phòng, các cơ quan UBND thành phố Hải Phịng, Văn
phịng Cơng an thành phố Hải Phòng, đã trao đổi thảo luận và cung cấp những
thơng tin, tư liệu hữu ích liên quan đến đề tài luận văn.
Cuối cùng, xin đặc biệt cảm ơn gia đình và những người bạn đã ủng hộ, động
viên, khích lệ tơi trong suốt q trình học tập và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 9 năm 2019

Nguyễn Thanh Bình


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu đồ
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM ........ 6
1.1.

MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM ............... 6

1.1.1.

Khái niệm hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em ........................................... 6

1.1.2.


CHỐNG MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM ......................................... 35

1.3.1.

Hệ thống pháp luật quốc tế về phòng, chống múa bán phụ nữ và trẻ em ....... 35

1.3.2.

Các điều ước khu vực và song phương về phòng, chống mua bán phụ
nữ và trẻ em ............................................................................................ 38

1.3.3.

Pháp luật Việt Nam hiện hành về phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em.... 40

1.3.4.

Cơ chế phòng chống mua bán người ở Việt Nam .................................... 45

1.4.

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN PHỤ
NỮ VÀ TRẺ EM .................................................................................... 48

1.4.1.

Kinh nghiệm phòng, chống mua bán phụ nữ và trẻ em tại Vương
quốc Anh ................................................................................................ 48

1.4.2.


Cơng tác phát hiện, xử lý hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em tại Hải Phòng..... 69
Công tác bảo vệ, hỗ trợ các nạn nhân của mua bán phụ nữ và trẻ em
tại Hải Phòng .......................................................................................... 71
ĐÁNH GIÁ ............................................................................................ 72

2.3.1.
Kết quả đạt được ..................................................................................... 72
2.3.2.
Tồn tại, hạn chế ...................................................................................... 74
2.3.3.
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế ................................................. 78
Kết luận chương 2 ............................................................................................... 83
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CƠNG TÁC PHỊNG,
CHỐNG MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM ....................................... 85
3.1.
HỒN THIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT ........................................ 85
3.2.
3.3.
3.4.
3.5.

TUYÊN TRUYỀN NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA CỘNG ĐỒNG ... 90
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ
CÁC VỤ ÁN LIÊN QUAN ĐẾN MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM ......... 91
TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC QUỐC TẾ VÀ THÚC ĐẨY VAI TRÒ
CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ ............................................... 92
GIẢI PHÁP ĐẶC THÙ RIÊNG ĐỐI VỚI CƠNG TÁC PHỊNG,
CHỐNG MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM TẠI THÀNH PHỐ


MBPNTE:
PCMBN:
PNTE:
TOC:
UDHR:
UNODC:

Bộ luật Tố tụng Hình sự
Bộ luật Tố tụng Dân sự
Cơng ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ
(Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination Against Women)
Công ước về quyền trẻ em
Tiếp cận dựa trên quyền
(Human rights – based Approach)
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị
(International Covenent on Civil and Political Rights)
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
(International Covenent on Economic, Social and Cultural Rights)
Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc
(International Convention on the Elimination of All Forms of Racial
Discrimination)
(Convention on the Rights of the Child)
Liên Hợp quốc
Luật Phòng, chống mua bán người
Mua bán người
Mua bán phụ nữ và trẻ em
Phòng, chống mua bán người
Phụ nữ, trẻ em
Công ước Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia
(The United Nations Convention against Transnational Organized Crime)


16

Biểu đồ 2.1

Cơ cấu dân cư thành phố Hải Phòng theo độ tuổi năm 2018

56

Biểu đồ 2.2

So sánh một số chỉ tiêu về phát triển kinh tế năm 2011 và
năm 2018 thành phố Hải Phòng

65

Biểu đồ 1.2

Biểu đồ 2.3

Biểu đồ 2.4

Cơ cấu chi ngân sách thành phố Hải Phòng năm 2011 và
năm 2018

66

Một số tỉ lệ về học tập tại Hải Phòng phân theo giới tính,
thành thị/Nơng thơn


này có rất nhiều là nạn nhân của tơi phạm mua bán người, bị bóc lột sức
lao động, bóc lột tình dục, bán nội tạng, …[65].

1


Việc giải cứu đưa hồi hương các nạn nhân của tội phạm mua bán người rất
khó khăn và phức tạp, địi hỏi nỗ lực khơng chỉ một quốc gia. Điều kiện kinh tế,
trình độ nhận thức cịn hạn chế trong khi hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các vụ
án mua bán người cịn gặp nhiều khó khăn trong lý luận và thực tiễn dẫn tới việc
chưa thể trấn áp được loại tội phạm này.
Với diễn biến phức tạp thời gian qua, nhiệm vụ phòng, chống mua bán người
đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu cũng
như dư luận xã hội. Tuy nhiên, trong phạm vi hữu hạn của luận văn thạc sĩ rất khó
có được nghiên cứu đầy đủ, tồn diện về loại hành vi này, nên tơi đã xác định
hướng nghiên cứu của mình về nhóm đối tượng là nạn nhân chủ yếu tội phạm mua
bán người tại Việt Nam là phụ nữ và trẻ em.
Phòng, chống mua bán người nói chung, phịng, chống mua bán phụ nữ và
trẻ em nói riêng có mối quan hệ rất mật thiết với công tác bảo vệ quyền con người.
Trong nhiều văn kiện quốc tế về quyền con người đã khẳng định phòng chống mua
bán người là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, là một phần của công
cuộc đấu tranh bảo vệ, thúc đẩy thực thi quyền con người trên thế giới. Ngược lại,
khi bảo vệ tốt các quyền con người cũng nêu ra như một giải pháp để phòng ngừa
nạn mua bán phụ nữ và trẻ em trong các văn kiện về lĩnh vực này.
Thành phố Hải Phịng với vị trí là một trong những trung tâm giao thương
của miền Bắc Việt Nam, là địa phương đang có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội và
đơ thị hóa cao hàng đầu cả nước hiện nay, đồng thời cũng là địa phương được xác
định là một trong những địa bàn trọng điểm của tội phạm mua bán người. Trong
những năm qua, cơng tác đấu tranh, phịng chống mua bán phụ nữ và trẻ em, công
tác bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em tại thành phố Hải Phòng đã đạt được những

Cơng an nhân dân.
- “Tình hình tội phạm mua bán phụ nữ qua biên giới nước ta và hoạt động
phòng ngừa của bộ đội biên phịng”, Phùng Văn Hùng, Tạp chí Cơng an nhân dân
số 10 năm 2004.
…..
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích
Nghiên cứu các vấn đề lý luận về tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em, tiếp

3


cận cơng tác phịng chống mua bán phụ nữ và trẻ em dựa trên các quyền con người,
đi sâu phân tích, liên hệ các quy định của Luật nhân quyền quốc tế và pháp luật Việt
Nam về phòng ngừa và đấu tranh với nạn mua bán phụ nữ và trẻ em. Từ thực tiễn
cơng tác phịng chống mua bán phụ nữ và trẻ em ở Hải Phòng đưa ra những kiến
nghị hồn thiện chính sách pháp luật liên quan.
Cụ thể đề tài cần tập trung giải quyết các vấn đề sau đây:
- Phân tích các vấn đề lý luận về mua bán phụ nữ và trẻ em; phòng, chống
mua bán phụ nữ trẻ em và cách tiếp cận dựa trên quyền.
- Liệt kê, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam và quốc tế về quyền
của phụ nữ và trẻ em và phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em, đồng thời đánh giá
tính tương thích của các quy định của pháp luật Việt Nam với Luật nhân quyền
quốc tế, làm rõ những vấn đề thiếu sót, đồng bộ của pháp luật Việt Nam.
- Phân tích kinh nghiệm phòng, chống mua bán người của một số quốc gia
trên thế giới và liên hệ với thực tiễn tại Việt Nam.
- Diễn biến và thực tiễn cơng tác phịng ngừa và đấu tranh với nạn mua bán
phụ nữ và trẻ em tại Hải Phịng trong đó tập trung làm rõ những hạn chế, khó khăn
và nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn đó.
-Từ những phân tích lý luận và đánh giá thực tiễn nêu trên, đề xuất giải pháp

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cơng tác phịng chống mua bán phụ
nữ và trẻ em.

5


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
1.1.1. Khái niệm hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em
Khi xã hội có sự phân hóa giàu nghèo, phân chia giai cấp, dẫn tới sự ra đời
của nhà nước Chiếm hữu nô lệ thì con người đã bị coi là một loại hàng hóa quan
trọng, được mua bán trao đổi một cách cơng khai. Con người đã trở thành một trong
những loại tài ngun quan trọng nhất, với tiềm năng khơng thể tính toán đã mang
lại những khoản lợi nhuận khổng lồ. Ngày nay, bất chấp các giá trị đạo đức hay
những quy định mang tính pháp lý thì mua bán người vẫn đã và đang xảy ra ở khắp
nơi trên thế giới.
Theo Điều 3, Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị và trấn áp tội buôn bán
người, đặc biệt phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước TOC (sau đây gọi tắt là nghị
định thư Palermo) được thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2000, khái niệm "Buôn
bán người” được hiểu như sau:
(a) “Buôn bán người” là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao,
chứa chấp hoặc nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng
hay đe dọa sử dụng vũ lực hay bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, gian
lận, lừa gạt, hay lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay
bằng việc đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của
một người đang kiểm soát những người khác. Hành vi bóc lột sẽ bao
gồm ít nhất việc bóc lột mại dâm hay những hình thức bóc lột tình dục
khác, các hình thức lao động hay phục vụ cưỡng bức nơ lệ hay những
hình thức tương tự nơ lệ, khổ sai hoặc lấy đi bộ phận cơ thể;

ý của họ hoặc người đại diện hợp pháp của nạn nhân; giả mạo là nạn nhân;
hành vi khác vi phạm các quy định của Luật này [37, Điều 3].
Tại khoản 1 Điều 150 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 của Việt
Nam (sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015) quy định:
Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn
khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm
đến 10 năm:

7


a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản
hoặc lợi ích vật chất khác;
b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng
bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vơ nhân
đạo khác;
c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hành vi
quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này [50, Điều 150].
Nghị quyết 02/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán,
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội MBN và Điều 151 về
tội MBN dưới 16 tuổi của BLHS định nghĩa:
Mua bán người là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt
hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây:
a) Chuyển giao người để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
b) Tiếp nhận người để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
c) Chuyển giao người để người khác bóc lột tình dục, cưỡng bức lao
động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vơ nhân đạo khác;
d) Tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy
bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vơ nhân đạo khác
đ) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện

được các cơ quan chính phủ có thẩm quyền hay những tổ chức phi chính
phủ (NGOs) hoạt động trong lĩnh vực phịng chống buôn người tin một
cách hợp lý rằng họ là nạn nhân của nạn bn người, bất kể lúc đó thủ
phạm đã bị phát hiện, bắt giữ, truy tố và kết án chưa [55, tr.34].
Ở đây, yếu tố chủ thể xác định nạn nhân bị mua bán được nhấn mạnh và
khơng chỉ bó hẹp trong các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà được mở rộng
sang các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực này. Việc mở rộng chủ thể
như vậy phù hợp với yêu cầu nêu ở Điều 6 khoản 3 Nghị định thư Palermo, trong
đó nêu rằng trong việc xác định nạn nhân bị buôn bán, các cơ quan nhà nước phải
phối hợp với các tổ chức phi chính phủ. Với việc huy động sự tham gia của các tổ
chức phi chính phủ có chuyên môn, nguồn nhân lực chuyên nghiệp, giàu kinh
nghiệm trên lĩnh vực PCMBN sẽ giúp dễ dàng phát hiện và tránh được tình trạng bỏ
lọt nạn nhân bị mua bán.
Theo báo cáo về MBN người năm 2018 của UNODC thì hầu hết các nạn
nhân được phát hiện là phụ nữ và có ngày càng nhiều hơn trẻ em gái bị phát hiện.

9


Năm 2016 trong số các nạn nhân được phát hiện nam giới chiếm 21%, phụ nữ
chiếm 49%, trẻ em gái chiếm 23%, trẻ em trai chiếm 7% [77, tr.25].

Biểu đồ 1.1: Tỉ lệ nạn nhân của MBN phân theo độ tuổi và giới tính năm 2016
(Nguồn: Jean-Luc Lemahieu, Angela Me (2018), Global Report on Trafficking in
Persons 2018, UNODC, New York)

Còn theo báo cáo của Ban chỉ đạo phòng chống tội phạm của Chính phủ Việt
Nam, từ năm 2012 – 2017, lực lượng chức năng đã tổ chức giải cứu và tiếp nhận
khoảng 7500 người. Qua điều tra, rà soát cho thấy trên 90% nạn nhân bị mua bán là
phụ nữ và trẻ em; trên 80% nạn nhân thuộc các dân tộc thiểu số, trình độ học vấn,

em đã khẳng định: “…nguyên nhân của việc mua bán người bao gồm sự kết hợp
của nhiều yếu tố, trong đó có tham nhũng trong khu vực cơng, sự nghèo đói, kinh tế
bất ổn, hệ thống pháp luật kém hiệu quả, phạm tội có tổ chức, các yếu tố gia tăng
các hình thức bóc lột con người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em …”[17].
Xét từ phía các nạn nhân thì nguyên nhân của việc bị lừa dối hay cưỡng ép
trở thành nạn nhân của mua bán phụ nữ và trẻ là do họ ở trong hồn cảnh nghèo đói,
thu nhập thấp, khuyết tật, khơng được chăm sóc sức khỏe cơ bản, có những khoản
nợ khơng có khả năng chi trả, khơng có sự chăm sóc của gia đình thiếu hiểu biết,
thiếu thơng tin, trình độ học vấn thấp, nhận thức về pháp luật không đầy đủ, sự
xuống cấp của các giá trị đạo đức nền tảng. Những điều này có thể xuất phát từ:
- Đặc điểm địa- chính trị, địa-kinh tế nơi họ sinh sống như: các quốc gia
nghèo đói hoặc đang phát triển, khu vực miền núi, biên giới hải đảo, khu vực xảy ra
chiến tranh, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, v.v…

11


- Đặc điểm của nhóm mà họ là thành viên: người dân tộc thiểu số, người bản
địa, người khuyết tật, người lao động di trú v.v…
- Tác động tiêu cực từ hành vi của cá nhân, cơ quan, tổ chức: bị mất sinh kế,
nơi cư trú do hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp hay cưỡng chế di
dời không thỏa đáng của nhà nước, là nạn nhân của tội phạm hay bị kì thị, phân biệt
đối xử bởi cộng đồng, không được hưởng thụ chế độ giáo dục phù hợp, vướng mắc
vào các tệ nạn xã hội v.v…
- Nạn nhân của điều kiện tự nhiên cực đoan: bị mất tài sản tích lũy, nơi ở hay sinh
kế do thiên tai, biến đổi khí hậu, v.v… mà khơng có sự hỗ trợ cần thiết từ cộng đồng.
Cịn từ góc độ nhân quyền thì có thể đánh giá ngun nhân do các quyền của
các nạn nhân bị xâm hại, được thực thi không đầy đủ và nhà nước – chủ thể chịu trách
nhiệm chính trong việc tơn trọng, thúc đẩy, thực thi và bảo vệ quyền con người chưa
làm tốt nhiệm vụ của mình. Có thể bao gồm một hoặc nhiều hình thức vi phạm sau:

hạn; lợi dụng tình thế bị lệ thuộc; lợi dụng tình thế dễ bị tổn thương hoặc
tình trạng quẫn bách của nạn nhân (ví dụ: lợi dụng tình trạng nạn nhân có
người thân bị bệnh hiểm nghèo cần tiền chữa trị ngay, nếu khơng sẽ nguy
hiểm đến tính mạng) [18].
Như vậy, MBPNTE được tiến hành bằng hai phương thức chính đó là:
Dùng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, ép buộc, bắt cóc, lạm dụng quyền
lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương của nạn nhân để thực hiện hành vi mua bán trái ý
muốn của các nạn nhân. Duy chỉ trong trường hợp đối tượng bị mua bán là trẻ em
thì khơng cần tính đến việc bọn tội phạm có sử dụng hay không sử dụng các phương
thức này, nghĩa là kể cả khi trẻ em hồn tồn đồng tình với hành vi của bọn tội
phạm thì vẫn coi là mua bán trẻ em nếu có hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển
giao, tiếp nhận, che giấu trẻ em... nhằm mục đích bóc lột.
Thủ đoạn thường dùng của các đối tượng MBPNTE là sử dụng vũ lực, đe
dọa sử dụng vũ lực hoặc các hình thức khác để bắt cóc nạn nhân (sử dụng thuốc
ngủ, chất gây mê, chất kích thích…), lợi dụng tình trạng yếu thế, quẫn bách, sử
dụng các khoản nợ khơng có khả năng chi trả của nạn nhân, để cưỡng ép nạn nhân
thực hiện các hình thức lao động trừ nợ ở xa gia đình, xa nơi cư trú hiện tại của nạn
nhân hoặc kết hôn để trả nợ. Sau khi cách ly nạn nhân với xã hội bằng cách giam
giữ, tước đi giấy tờ tùy thân hay phương tiện liên lạc, bằng nhiều hình thức ép buộc
khác nhau kể cả tra tấn cả về thể xác và tinh thần để khuất phục ý chí phản kháng

13


của các nạn nhân. Lúc này việc tiếp cận các trợ giúp pháp lý hay an ninh từ các cơ
quan chức năng là cực kì khó khăn bởi lẽ các nạn nhân thường có trình độ hạn chế,
khơng biết ngoại ngữ, khơng có giấy tờ tùy thân lại bị giam giữ hoặc cách ly ở khu
vực tách biệt, chịu sử giám sát nghiêm ngặt.
Đối với phụ nữ hạn chế về năng lực hành động và nhận thức, trẻ em không có
sự chăm sóc của người thân (bị bỏ rơi, mồ cơi, sống lang thang, xa gia đình, sống trong

- Các ngành nghề kinh doanh giải trí nhạy cảm, dễ phát sinh hoạt động mại
dâm (quán bar, karaoke, dịch vụ lưu trú,…) [55, tr.18].
* Về mục đích của hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em
Có 2 mục đích chính của hành vi mua bán người nói chung là trực tiếp thu được
các khoản tiền hay lợi ích vật chất khác từ hoạt động mua bán, trao đổi và mục đích bóc
lột để hưởng lợi. Trong đó bóc lột là yếu tố cốt lõi thể hiện bản chất nguy hiểm của loại
tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em - với tính chất là loại tội phạm nhằm vào con người,
xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhân phẩm, danh dự và quyền tự do
của con người bóc lột hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm bóc lột tình dục, mại dâm, cưỡng
bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể,..). Mục đích “để bóc lột” là một trong những yếu tố
bắt buộc cấu thành khái niệm mua bán người, là căn cứ xuyên suốt để xác định mọi hành
vi trong chuỗi hành vi của tội MBN, lợi ích to lớn và lâu dài từ việc bóc lột các nạn nhân
cũng là nguyên nhân dẫn tới lợi ích của việc mua bán, trao đổi.
Hai hình thức bóc lột hàng đầu khi sử dụng các nạn nhân MBN nói chung và
MBPNTE nói riêng là bóc lột tình dục và lao động cưỡng bức. Phụ nữ bị mua bán
chủ yếu được sử dụng cho việc bóc lột tình dục, trong khi trẻ em thường được sử
dụng nhiều hơn cho mục đích lao động cưỡng bức tuy nhiên cũng có thể là cả hai
mục đích này. Ngồi ra việc mua bán phụ nữ, trẻ em gái để kết hơn cưỡng bức
khiến nạn nhân có thể bị sử dụng vào cả hai mục đích nêu trên. Cụ thể:
Một là, bóc lột tình dục: là hành vi ép buộc người khác thực hiện hành vi bán
dâm quan hệ tình dục trái ý muốn để đạt được các lợi ích khác (lợi ích về xã hội,
chính trị…), làm đối tượng sản xuất phim khiêu dâm, trình diễn phim khiêu dâm, trở
thành nơ lệ tình dục (là việc một người do bị lệ thuộc mà buộc phải phục vụ nhu cầu
tình dục của người khác). Khái niệm này khác với mại dâm ở việc ý thức tự nguyên,
không bị ép buộc của người thực hiện hành vi bán dâm. Công ước về trấn áp việc
buôn bán người và và bóc lột mại dâm người khác (1949) cho rằng mơi giới, dụ dỗ,
dẫn dắt một người nhằm mục đích mại dâm, bóc lột mại dâm kể cả với sự đồng ý của

15


đích khác như:
- Bị buộc đi lính hoặc phục vụ cho các cuộc chiến tranh, xung đột: trong bối
cảnh tồn cầu hóa, chuyển từ đối đầu sang đối thoại nhưng các cuộc chiến tranh,
xung đột sắc tộc hay xung đột vũ trang vẫn tiếp tục diễn ra trên quy mơ tồn cầu, từ
các khu vực chậm phát triển như Châu phi đến các khu vực phát triển hơn như
Đông Âu hay Nam Mỹ. Các cuộc chiến tạo ra những dịng người tị nạn vì mất nhà
cửa, sinh kế, những đứa trẻ mồ côi hay những người tàn tật, đối tượng dễ dàng trở
thành nạn nhân của mua bán người đồng thời cũng tạo ra nhu cầu lớn về binh lính
hay những người phục dịch.
- Lấy đi bào thai, mô hoặc bộ phận cơ thể con người. Đáng lưu ý với sự phát
triển của y học hiện nay, nhu cầu ghép mô tạng hay bộ phận cơ thể người ngày càng
lớn trong khi việc hiến tạng hay sản xuất mơ tạng nhân tạo cịn rất hạn chế thì việc
sử dụng các nạn nhân của hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em vào mục đích này đang
ngày càng phổ biến.
- Hơn nhân cưỡng bức: thường xuất hiện ở các quốc gia có tỉ lệ dân số mất
cân đối, nam giới đến tuổi kết hôn khơng tìm được người tự nguyện kết hơn với
mình nên xuất hiện nhu cầu mua phụ nữ hay trẻ em gái về làm vợ, thậm chí là quần
hơn, nhiều người lấy chung một vợ. Các nạn nhân vừa bị bóc lột tình dục lại vừa bị
bóc lột sức lao động và phải sinh con cho người mua họ. Trung Quốc đang nổi nên
là điểm nóng cho vấn nạn này do chính sách hạn chế sinh đẻ kéo dài trong nhiều
năm và tư tưởng truyền thống về việc phải có con trai để nối dõi.
- Mang thai hộ khơng vì mục đích nhân đạo. Luật hơn nhân và gia đình năm
2014 của Việt Nam định nghĩa:
Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự
nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng
mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ
thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của
người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của
người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status