Luận văn thạc sĩ báo chí học sự tham gia của trẻ em trong chương trình truyền hình thiếu nhi của các đài tây nam bộ hiện nay - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ THANH XUÂN

SỰ THAM GIA CỦA TRẺ EM TRONG CHƯƠNG TRÌNH
TRUYỀN HÌNH THIẾU NHI CỦA CÁC ĐÀI MIỀN
TÂY NAM BỘ HIỆN NAY
(Khảo sát trên đài PT - TH Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp
từ 3/2014 đến 3/2015)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

CẦN THƠ - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ THANH XUÂN

SỰ THAM GIA CỦA TRẺ EM TRONG CHƯƠNG TRÌNH
TRUYỀN HÌNH THIẾU NHI CỦA CÁC ĐÀI MIỀN
TÂY NAM BỘ HIỆN NAY
(Khảo sát trên đài PT - TH Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp

Nhân đây, tôi xin gởi lời cảm ơn đến Phòng Đào tạo Sau đại học, Học viện Báo chí và
Tuyên truyền, các thầy, cô phụ trách công tác giáo vụ đã giúp đỡ, tạo điều kiện để chúng
tôi hoàn thành khó học đúng tiến độ và chất lượng.
Xin cản ơn Ban giám đốc, các anh, chị đồng nghiệp tại Đài -PT - TH Tiền Giang, Trà
Vinh, Đồng Tháp cùng các em học sinh các tỉnh Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp đã giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình nguyên cứu và hoàn thiện luận văn này.
Tiền Giang, tháng 7 năm 2015
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Xuân


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ THAM GIA CỦA TRẺ EM
TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THIẾU NHI
1.1. Các khái niện, thuật ngữ liên quan đến đề tài
1.2. Trẻ em ở vùng Tây Nam Bộ
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ SỰ THAM GIA CỦA TRẺ EM TRONG CÁC
CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THIẾU NHI TRÊN SÓNG
ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH TIỀN GIANG, TRÀ
VINH, ĐỒNG THÁP
2.1. Đặc điểm của chương trình truyền hình thiếu nhi và vai trò của trẻ em trong
chương trình truyền hình thiếu nhi ở đài truyền hình Tây Nam Bộ
2.2. Đôi nét về các chương trình truyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ em
trên sóng đài Phát thanh - Truyền hình Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp
2.3. Sự tham gia của trẻ em trong các chương trình truyền hình thiếu nhi của đài
truyền hình Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp
2.4. Đánh giá về sự tham gia của trẻ em trong chương trình truyền hình thiếu nhi


115


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BBT

:

Ban biên tập

MC

:

Người dẫn chương trình

NSTT :

Ngôi sao tuổi thơ

PT - TH

:

Phát thanh, truyền hình

TNB

:

Vinh, Đồng Tháp hiện nay như thế nào?
Theo bạn, loại thông tin nào sau đây cần được tăng
cường trong các chương trình truyền hình thiếu nhi có
sự tham gia của trẻ em của đài Tiền Giang, Trà Vinh,
Đồng Tháp?
Ý kiến của bạn về sự tham gia của trẻ em trên các các
chương trình thiếu nhi phát trên Đài Truyền hình Tiền
Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp?
Mỗi ngày bạn dành bao nhiêu thời gian để xem truyền
hình? Lý do bạn xem truyền hình?
Thời gian phát sóng các chương trình truyền hình thiếu
nhi của đài truyền hình Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng
Tháp có trẻ em tham gia như thế nào ?
Nội dung các chương trình truyền hình thiếu nhi của đài
truyền hình Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp có trẻ em
tham gia như thế nào?
Những thông tin liên quan đến trẻ em được phóng sóng
trong các chương trình truyền hình thiếu nhi có phản
ánh đúng thực tế không?
Loại thông tin nào sau đây cần được tăng cường trong
các chương trình truyền hình thiếu nhi có sự tham gia
của trẻ em của đài Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp?
Hình thức các chương trình truyền hình thiếu nhi cho
trẻ em của các đài truyền hình Tiền Giang, Trà Vinh,
Đồng Tháp hiện nay như thế nào?

Trang
31
33


còn tham gia vào việc thực hiện các quyền ấy nữa. Các quyền của trẻ em là những quyền
cơ bản, chính đáng, là một phần trong số các nhu cầu, thiết yếu với tất cả mọi người. Mọi
trẻ em đều có các quyền như nhau. Đòi hỏi và được công nhận. Qui định nghĩa vụ rõ ràng.
Từ khi phê chuẩn Công ước, Chính phủ Việt Nam đã sửa đổi và ban hành một số luật và
chính sách để thực hiện Công ước ở Việt Nam như: Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục
Trẻ em; và một số các văn bản dưới luật về bảo vệ trẻ em như: Chỉ thị 1408/CT-TTg ngày
01/9/2009 của Thủ tướng Chính Phủ về tăng cường công tác Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em; Quyết định 19/2004/QĐ-TTg của thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương
trình ngăn chặn và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục và trẻ
em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010;
Trong đó, ở nhóm quyền phát triển: Bao gồm mọi hình thức giáo dục (chính quy và không
chính quy) và quyền được có mức sống đầy đủ cho sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh
thần, đạo đức và xã hội của trẻ.
Quyền được chăm sóc sức khoẻ, được học tập và phát triển năng khiếu. Quyền vui
chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, du lịch. Nhóm quyền tham
gia: Bao gồm quyền được bày tỏ ý kiến trong mọi vấn đề có liên quan tới bản thân, quyền
được lắng nghe và được kết giao hội họp. Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và
tham gia hoạt động xã hội. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và những nguy cơ mà các em đễ
bị lạm dụng, và các hình thức nghiêm cấm việc lạm dụng trẻ em để bóc lột và làm các
chuyện phi pháp.

Chính phủ vừa ban hành Quyết định 1235/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày
3-8-2015 về phê duyệt Chương trình thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em vào


2
các vấn đề về trẻ em giai đoạn 2016 - 2020. Theo đó, mục tiêu tổng quát của
chương trình là tạo môi trường thuận lợi và nâng cao năng lực cho trẻ em trong
việc thực hiện quyền tham gia các vấn đề liên quan đến trẻ em theo quy định của
pháp luật và Công ước của Liên hợp Quốc. Trong đó nhấn mạnh đến 1 trong

3
biên tập, lồng tiếng Việt như Bố ơi, mình đi đâu thế? Các chương trình bổ sung về kiến
thức phục vụ học tập có sự tham gia của chính các em giúp các em thể thiện sự khéo léo,
rèn luyện sự tự tin và đặc biệt là giáo dục về những kỹ năng sống cần thiết, giúp các em tự
lập và vững vàng hơn trong cuộc sống hàng ngày.
Trong khi đó, các đài truyền hình Tây Nam Bộ hiện nay cho thấy: tỷ lệ phát sóng
trong tổng thời lượng phát sóng còn ít. Rất thiếu chương trình mang tính định hướng, giáo
dục thẩm mỹ và nhân cách cho trẻ chưa cao, như chương hình thức và nội dung thường
xuyên lập lại. Nguyên nhân là các đài truyền hình còn xem nhẹ và chưa quan tâm đầu tư
đúng mức trong việc sản xuất các chương trình truyền hình phục vụ đối tượng khán giả
quan trọng này. Thiếu nhân lực, trang thiết bị, kinh phí dẫn đến chất lượng chương trình
kém so với các chương trình các đài trong khu vực, đài truyền hình tung ương. Lịch phát
sóng không phù hợp, nội dung khô cứng, nhàm chán đang tiếp tục là nguyên nhân thu hẹp
sân chơi này, không hấp dẫn cũng như hạn chế sự tham gia của các em trong các chương
trình truyền hình thiếu nhi.
Vì thế, với đề tài: Sự tham gia của trẻ em trong chương trình truyền hình thiếu nhi
của các đài Tây Nam Bộ hiện nay vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn sâu sắc,
có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động báo chí, cả trong tác nghiệp, cũng như trong công
tác bồi dưỡng nghiệp vụ. Những kết quả nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này sẽ là những
kinh nghiệm nghề nghiệp sinh động và thiết thiết thực nhất, cũng như đề xuất gợi ý rất hữu
ích cho việc nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình thiếu nhi có sự tham gia của
trẻ em trên sóng đài truyền hình Tây Nam Bộ thời gian tới. Đồng thời, các đài truyền hình
miền Tây Nam Bộ sẽ có được chiến lược đầu tư phát triển một cách thích đáng cho các
chương trình dành cho thiếu nhi, từ đó nâng cao chất lượng về nội dung cũng như hình
thức cho các chương trình dành cho lượng khán giả đặc biệt và đông đảo này.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xung quanh đến vấn đề trẻ em trên chương trình truyền hình thiếu nhi, trong thời
gian qua, báo chí của nước ta đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ
khác nhau. Liên quan đến đề tài này, chúng tôi chú ý các công trình sau:


đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực truyền thông, đồng thời tập trung phân
tích ba vấn đề lớn: trẻ em có quyền tiếp nhận, có quyền cùng tham gia, vừa có
quyền được bảo vệ trước các phương tiện truyền thông
- Báo chí với trẻ em do PGS, TS. Nguyễn Văn Dững chủ biên, xuất bản năm 2004
cũng đã cung cấp cái nhìn tổng quan về trẻ em và kỹ năng nghiệp vụ của nhà báo với trẻ
em. Công trình này hướng tới việc xây dựng khung lý thuyết về kỹ năng làm báo cho trẻ
em, nhận diện những nhân tố có tính chất điều kiện ảnh hưởng đến quá trình hình thành,
phát triển các kỹ năng tác nghiệp, khảo sát thực tế kỹ năng tác nghiệp của nhà báo, tìm ra
cơ sở khoa học từ thực tiễn nhằm góp phần tiếp tục nâng cao năng lực và hiệu quả tác động
của báo chí với trẻ em ở Việt Nam.


5
- Công chúng báo chí do TS Phạm Thị Thanh Tịnh xuất bản năm 2013 Nhà xuất
bản chính trị - hành chính. Cuốn sách cũng đã cung cấp cái nhìn tổng quan về nghiên cứu
công chúng.
Ngoài những công trình nghiên cứu được biên soạn thành sách, tác giả còn tham
khảo thêm các luận văn, luận án, khóa luận tốt nghiệp khác như:
- Luận văn: “Báo chí cho trẻ em ở thành phố Hồ Chí Minh”, Huỳnh Thị Kim Thi
(2009) Cũng như những trẻ em ở các địa phương khác, trẻ em ở TP HCM đang

trong giai đoạn phát triển về thể chất lẫn tinh thần nên rất dễ bị tác động bởi
môi trường sống xung quanh. Chỉ cần thiếu sự quản lý, kiểm soát, định
hướng, giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội, những ấn phẩm độc hại sẽ
rơi vào tay trẻ em, gây ảnh hưởng xấu cho các em. Từ đây càng đòi hỏi, báo
chí cho trẻ em ở TP HCM không ngừng nâng cao vị trí, vai trò, trách nhiệm
“vừa là trường học, vừa là nhà hát” và là người bạn thân thiết của trẻ em.
- Luận văn: Giáo dục nhân cách cho trẻ vị thành niên trên báo chí
hiện nay, Trần Thị Dung (2007) Bằng cách tiếp cận với lý thuyết và khảo sát
trực tiếp, tác giả làm rõ vai trò của báo chí trong việc giáo dục nhân cách cho

nước ta hiện nay.
- Bài báo “ Nhà báo với trẻ em” của tác giả Thu Thủy Truyền hình K32-A2
đăng trên Sóng trẻ online ngày 18.3.2015. Tác giả cho rằng t rẻ em chưa ý thức được

những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của truyền thông, báo chí đến cuộc
sống của chính mình. Vì vậy, các nhà báo, bằng kiến thức, kỹ năng và đạo
đức nghề nghiệp phải có trách nhiệm bảo vệ các em trước mọi sự bất lợi mà
do vô tình hay cố ý các nhà báo đã đem đến cho các em.
- Bài báo “Cần chú trọng tính tương tác trong sản xuất các chương
trình truyền hình dành cho thiếu nhi”. Của tác giả Minh Hoàng trên
TREEMVIET.vn (2004) Tác giả cho rằng, hầu hết các chương trình sản xuất
cho thiếu nhi mặc dù cũng có sự kết hợp giữa giải trí và giáo dục nhưng nó
thường mang tính giáo dục nhiều hơn, cách chuyển tải cũng giản đơn không
thu hút được sự hứng thú của trẻ em do chưa ứng dụng được sự phát triển và
đa dạng của công nghệ trong sản xuất chương trình truyền hình. Những người
làm truyền hình dành cho trẻ em cần không chỉ có tài mà còn có tâm, có đức,


7
không chỉ hiểu về tâm lý lứa tuổi trẻ em mà còn cần biết về quyền tiếp cận
thông tin của trẻ em để quá trình xây dựng các chương trình truyền hình thực
sự gần gũi và thân thiết với trẻ em.
Tóm lại, cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề báo
chí và trẻ em trên cả hai phương diện: lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, những công trình
này mới cho chúng ta cái nhìn tổng quan về báo chí và trẻ em, kỹ năng nghiệp vụ viết báo
cho trẻ em, chưa đi sâu nghiên cứu báo chí truyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ em
ở một địa phương cụ thể như Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp. Trong khi đó, báo chí
truyền hình có sự tham gia của trẻ em ở TP HCM và đã và đang phát triển rất mạnh mẽ
không thua kém báo chí cho trẻ em ở trung ương. Như vậy, có thể nói, thực hiện đề tài “Sự
tham gia của trẻ em trên chương trình truyền hình thiếu nhi của các đài miền Tây Nam Bộ”

tham gia, nội dung thông tin có sự tham gia của trẻ em, hình thức tham gia của trẻ em.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn cao học, đề tài này chỉ nghiên cứu các chương
trình truyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ em phát sóng trên các đài PT - TH Tiền
Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp. Thời gian từ 3/2014 đến 3/ 2015.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở sử dụng phương pháp luận báo chí, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương chính sách, quan điểm của Đảng và Nhà nước
về báo chí và trẻ em, các tài liệu lý luận về báo chí, truyền thông đã xuất bản.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả vận dụng, kết hợp các phương pháp nghiên cứu
sau:
- Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu liên quan đến báo chí cho trẻ
em, các công trình khoa học liên quan đến báo chí cho trẻ em nhằm tìm hiểu lịch sử nghiên
cứu vấn đề, có thêm kiến thức về báo chí cho trẻ em, đề cập cụ thể đến thể loại chương
trình truyền hình thiếu nhi, tránh trùng lập với các bài viết, các công trình nghiên cứu đã có
trước đây. Đồng thời phân tích làm rõ đặc điểm của chương trình truyền hình thiếu nhi,
bước đầu góp phần xây dựng lý luận về chương trình truyền hình thiếu nhi trên sóng truyền
hình.
- Phương pháp khảo sát thực tế nhằm nắm bắt được cách tổ chức thực hiện chương
trình truyền hình thiếu nhi trên sóng đài PT - TH Tiền Giang, trà Vinh, Đồng Tháp. Trên
cơ sở đó luận văn sẽ đề cập đến những vấn đề mang tính lý luận nhưng sát với thực tế để
việc thực hiện đạt hiệu quả hơn.
- Phương pháp phỏng vấn sâu tới nhóm quản lý báo chí nhằm lấy ý kiến của những
nhà quản lý (2 người) xem họ nhìn nhận như thế nào về chương trình truyền hình thiếu nhi,
những khó khăn, thuận lợi cũng như những giải pháp nâng cao chất lượng các chương trình
này trong thời gian tới. Nhóm biên tập viên (3 người) nhằm khai thác các thông tin của
biên tập viên về việc thực hiện các chương trình truyền hình thiếu nhi, những thuận lợi,


hợp và đạt hiệu quả hơn.
Thông qua luận văn này, các đài PT - TH Tây Nam Bộ, cụ thể là các đài PT - TH
Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp nhận thấy những mặt được và chưa được trong việc tổ
chức thực hiện các chương trình truyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ em; có thể
nghiên cứu, tham khảo, áp dụng những giải pháp luận văn đưa ra để đổi mới, cải tiến nội


10
dung và hình thức chương trình truyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ em, đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của đông đảo công chúng nhỏ tuổi hiện nay. Từ đó đánh giá đúng
chất lượng chương trình, tạo mối quan hệ tốt giữa đài truyền hình với trẻ em.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng, giảng
viên, học viên ở các trường đào tạo chuyên ngành báo chí, tạo tiền đề cho các công trình
nghiên cứu tiếp theo. Đồng thời, qua tìm hiểu việc tổ chức thực hiện các chương trình
truyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ em ở các đài PT - TH Tiền Giang, Trà Vinh,
Đồng Tháp, tác giả cũng nâng cao sự hiểu biết của mình khi thực hiện các chương trình
truyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ em
7. Kết cấu luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của
luận văn được trình bày trong 3 chương,
Chương 1: Những vấn đề lý luận về sự tham gia của trẻ em trong chương trình
truyền hình thiếu nhi.
Chương 2: Thực trạng về sự tham gia của trẻ em trong các chương trình truyền hình
thiếu nhi trên sóng đài PT - TH Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp.
Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao hiệu quả sự tham gia của trẻ
em trong chương trình truyền hình thiếu nhi của đài PT - TH Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng
Tháp.


11

thuật. Vì thế, công chúng bao gồm trong đó nhiều loại công chúng khác nhau, ví dụ như
công chúng báo chí, công chúng văn học, công chúng âm nhạc, công chúng sân khấu...


12
Hiện nay, Nhà nước mới chỉ công nhận 48 chức danh trong ngành Văn hóa - Thông
tin, trong đó các chức danh như phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên, cộng tác viên,
thông tin viên… đã được xác định, còn công chúng thì chưa. Công chúng chỉ là tên gọi
thông thường chứ không phải chức danh công chức Nhà nước. Tuy chức danh công chúng
chưa được xác định nhưng công chúng có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động báo
chí. Hiệu quả hoạt động của báo chí phụ thuộc vào khả năng ảnh hưởng của báo chí đối với
công chúng.
Công chúng không chỉ là đối tượng tác động, đối tượng chi phối điều chỉnh mà
còn là lực lượng xã hội quyết định vai trò, vị thế xã hội của cơ quan báo chí [5,
tr.14].
Công chúng có vai trò quan trọng đối với các kênh thông tin. Công chúng là
người nuôi dưỡng chương trình, đánh giá, thẩm định cuối cùng chất lượng của
chương trình, bài báo. Họ là người thẩm định vai trò, vị thế xã hội của người
làm báo, cơ quan báo chí. Công chúng là nguồn đề tài vô tận của báo chí [39,
tr.21].
Công chúng trẻ em
Trẻ em - đối tượng luôn nhận sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta. Trẻ em
luôn nhận sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội qua đạo lý dân tộc, đạo
đức xã hội và trách nhiệm pháp lý. Điều này thể hiện rõ tại điều 65, Hiến pháp nước
CHXHCN năm 1992: “Trẻ em được gia đình, Nhà nước, và xã hội bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục”; Điều 5, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổ, bổ sung): “Việc bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và
công dân. Trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ
em thì lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu”.
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành tình yêu thương vô bờ cho trẻ em. Người

- Giai đoạn sơ sinh (từ 0-1,5 tuổi) là giai đoạn trẻ em chủ yếu ăn, ngủ, phối hợp với
các phản xạ mang tính bột phát. Đến khoảng từ 4-12 tháng tuổi, trẻ mới phát triển các động
tác biểu cảm, cộng sinh cảm xúc. Các em rất cần sự quan tâm, chăm sóc của cha mẹ.
- Giai đoạn nhà trẻ (từ 1,5-3 tuổi) là lúc trẻ mới tập đi, tập định hướng, hình thành sự
tự chủ (cảm giác sự tự kiểm soát và quyết định). Đặc điểm nổi bật của trẻ trong giai đoạn
này là tỏ ra độc lập và không vâng lời.
- Giai đoạn mẫu giáo (từ 3-6 tuổi) là giai đoạn trẻ em thể hiện sự hiếu thắng, hiếu
động, hiếu kỳ, bắt chước và giàu sức tưởng tượng.
- Giai đoạn đi học (từ 6-tuổi dậy thì): Từ lớp 1-2, trẻ em chú ý vô thức và tư duy hình
tượng cụ thể. Từ lớp 2-9, các em đã nhận thức được ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết và hình
ảnh.


14
- Giai đoạn vị thành niên (từ tuổi dậy thì-16 tuổi) là giai đoạn trẻ em phát triển nhanh
về thể lực và trí lực. Đây là thời kỳ then chốt sự phát triển tâm lý của con người. Ngoài ra,
ở lứa tuổi này, các em có sự phát triển mạnh mẽ về tâm lý giới tính.
Theo nhà tâm lý học Eric Ericson, sự phát triển nhân cách của trẻ em được chia thành
5 giai đoạn: sơ sinh; nhà trẻ; mẫu giáo; đi học; vị thành niên. Và theo từng giai đoạn, nhận
thức của trẻ sẽ phát triển khác nhau về ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết và hình ảnh, cũng như
nhu cầu tiếp nhận thông tin.
Từ sự phân chia giai đoạn phát triển nhận thức và phát triển nhân cách của trẻ em
nhằm khẳng định những đòi hỏi riêng biệt của trẻ em đối với sản phẩm báo chí dành cho
chính mình. Cụ thể, ở hai giai đoạn sơ sinh (từ 0-1,5 tuổi), nhà trẻ (từ 1,5-3 tuổi) trẻ em
chưa có khả năng tiếp nhận báo chí. Đến giai đoạn mẫu giáo (từ 3-6 tuổi), lứa tuổi này trẻ
em đã tiếp nhận được báo chí, nhất là truyền hình. Trẻ thích xem những gì mới, lạ và bắt
chước lời nói, hành động của nhân vật. Các em chưa phân biệt lợi - hại, tốt - xấu. Giai đoạn
đi học (từ 6-tuổi dậy thì) các em đã nhận thức được ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết và hình
ảnh đa dạng hơn. Vì thế, các em có khả năng tiếp cận và chịu ảnh hưởng từ báo chí, nhất là
truyền hình. Hiện nay, trẻ em từ 6 tuổi trở lên đã tiếp cận được với báo chí như đọc báo,

giáo dục rất tích cực về ứng xử trong cuộc sống, những kỹ năng cần thiết của
trẻ thông qua những tác phẩm báo chí. Hiện nay, cùng với nhận thức về quyền
trẻ em của cộng đồng và chính bản thân trẻ em đang có những bước cải thiện
đáng kể thì công chúng trẻ em không chỉ là đối tượng hưởng thụ các sản
phẩm báo chí dành cho lứa tuổi mình mà các em còn trực tiếp tham gia sáng
tạo các tác phẩm đó. “Điểm tạo ra sự khác biệt giữa trẻ em và người lớn, và
các em trở thành nhóm đối tượng đặc thù, rất quan trọng của báo chí là ở
chỗ: trẻ em là những con người đang ở giai đoạn phát triển cả về thể lực và
tâm sinh lý” [5, tr.217].
Ngoài ra, so với các nhóm công chúng khác thì: “Trẻ em luôn có thế giới riêng của
mình, cả về thể chất, tâm - sinh lý, nhận thức, văn hoá cùng với nhu cầu, nguyện vọng và
cách thể hiện chúng” [5, tr.217].
Như vậy, trẻ em còn được xem là nhóm công chúng xã hội đặc thù.
1.1.2. Chương trình truyền hình thiếu nhi
Báo chí Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự giám
sát và xây dựng của nhân dân. Ngay tại điều 1, Luật Báo chí ban hành ngày 2.1.1989 đã
khẳng định: “Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin
đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của
Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội (dưới đây gọi chung là tổ chức); là diễn đàn của
nhân dân”.
Tại điều 3, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999, quy định:


16
Báo chí gồm báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn); báo nói (chương
trình phát thanh); báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe - nhìn thời sự
được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau); báo điện tử (được thực hiện trên
mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước
ngoài [7, tr.212].
Báo chí vừa là công cụ tích cực, hữu hiệu trong việc truyền bá sản phẩm văn hóa, vừa

là đứa trẻ nhỏ. Cũng trong độ tuổi trẻ em, ta thường gặp những cách gọi quen thuộc: Thiếu
niên, thiếu nhi, nhi đồng… Điều lệ Đội TNTP Hồ Chí Minh quy định độ tuổi của thiếu
niên là từ 9 đến 14 tuổi. Theo quy định của Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em, trẻ
em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. Theo công ước quốc tế từ mới sinh đến 16 tuổi
được coi là độ tuổi của trẻ em. Trong độ tuổi này có một mốc quan trọng: 6 tuổi - tuổi bắt
đầu đến trường. Vì vậy trước 6 tuổi được coi là trước tuổi học và sau 6 tuổi được coi là
tuổi đến trường. Tâm lý học cũng coi 6 đến 16 tuổi là tuổi thiếu nhi, bao gồm tuổi nhi đồng
(6- 10 tuổi) và thiếu niên (11 đến 16 tuổi).
Thiếu nhi là một giai đoạn phát triển đặc thù trong độ tuổi trẻ em và có ý nghĩa quan
trọng trong cuộc đời mỗi người.

Chương trình truyền hình thiếu nhi
Báo chí nói chung là những sản phẩm báo chí (báo in, báo hình, báo nói, báo điện
tử…) được sản xuất ra để phục vụ nhu cầu người đọc, người nghe, người xem. Mỗi loại

hình truyền thông đại chúng đều có những đặc thù riêng. Nếu chỉ xét trên
phương diện quá trình làm ra một tác phẩm, ở báo in mỗi tác phẩm, mỗi bài báo
có thể là sản phẩm riêng, là sự sáng tạo riêng của mỗi cá nhân, mỗi nhà báo.
Nhưng để sáng tạo một tác phẩm truyền hình còn công phu hơn nhiều, đó là một
đứa con tinh thần của cả một tập thể, đạo diễn, biên kịch và những người làm kỹ
thuật, sản phẩm đó thể hiện ý kiến thống nhất của từng thành viên trong đoàn
làm phim, giữa người biên tập và người quay phim. Chương trình truyền hình là
sự liên kết, sắp xếp bố trí hợp lý các tin bài, bảng tư liệu, hình ảnh, âm thanh
trong một thời gian nhất định được mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết
thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí
truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả.
Báo chí cho trẻ em được sản xuất ra để phục vụ nhu cầu đọc, nghe, xem của đối tượng
chính là trẻ em với mục đích định hướng, giáo dục thẩm mỹ, hình thành nhân cách cho trẻ
thông qua việc cung cấp những thông tin bổ ích, hỗ trợ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm
sống, tạo môi trường vừa giải trí vừa học tập cho các em, giúp các em phát triển toàn diện

tác động vào nhận thức và hành vi của đối tượng này. Trong xu hướng hiện nay, với mục
đích đem lại những gì tốt đẹp nhất cho thiếu nhi, truyền hình cho thiếu nhi không chỉ tác
động đến thiếu nhi mà còn tác động đến người lớn (chủ yếu là các bậc cha mẹ, thầy cô)
thông qua việc cung cấp những kiến thức về tâm lý trẻ em, cách chăm sóc, giáo dục các
em… để định hướng, nâng cao nhận thức và hành vi cho cha mẹ, thầy cô trong việc bảo vệ
chăm sóc và giáo dục các em
Đặc biệt, truyền hình và thiếu nhi có mối quan hệ gắn kết với nhau. Thiếu nhi là đối
tượng phản ánh của truyền hình. Thiếu nhi là công chúng của truyền hình, là đối tượng tiếp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status