Luận văn thạc sĩ báo chí học, chuyên ngành báo chí “Giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên trên kênh VTV6 – đài truyền hình Việt Nam - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO THANH THIẾU NIÊN
TRÊN KÊNH VTV6 - ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
(Khảo sát từ tháng 9/2013 đến tháng 3/2014)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Hà Nội, 7/2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO THANH THIẾU NIÊN
TRÊN KÊNH VTV6 - ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
(Khảo sát từ tháng 9/2013 đến tháng 3/2014)

Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60320101

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

thiếu niên về kênh truyền hình dành cho giới trẻ- kênh VTV6, nhưng do
hạn chế về thời gian và năng lực nên đề tài không thể được phân tích một
cách toàn diện và không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận
được sự góp ý của các thầy cô và các bạn để luận văn này được hoàn thiện
tốt hơn nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 7 năm 2014
Học viên Nguyễn Thị Thủy


DANH MỤC VIẾT TẮT
MC

: Người dẫn chương trình

TDTT

: Thể dục thể thao

GDTC

: Giáo dục thể chất

GD&ĐT

: Giáo dục và Đào tạo

UNESCO

: Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc

Bảng 5: Ý nghĩa tác động của nội dung giáo dục kỹ năng sống trên
VTV6
Bảng 6: Đánh giá hình thức thể hiện các chương trình giáo dục kỹ
năng sống trên VTV6
Bảng 7: Đối tượng truyền tải kỹ năng sống được khán giả yêu thích
nhất trên VTV6
Bảng 8: Thực trạng nội dung giáo dục kỹ năng sống trên VTV6


MỤC LỤC
3.2 Một số giải pháp.................................................................................................................120


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với những tiến bộ của xã hội, giới trẻ ngày nay được sống và
phát triển trong những điều kiện ngày một tốt hơn về chính trị, kinh tế, giáo
dục, văn hóa xã hội….Bên cạnh đó, trường học cũng đã cung cấp một
lượng kiến thức lớn và chuyên sâu để làm nền tảng tri thức phục vụ cho
quá trình phấn đấu vươn lên của mỗi cá nhân trong học tập và lao động.
Điều đó cũng đóng một phần quan trọng trong việc giúp thanh thiếu niên
có thể dễ dàng tiếp cận được với những cơ hội để phát triển cho bản thân.
Tuy nhiên, đó chỉ là điều kiện cần chứ chưa thực sự đầy đủ để một cá nhân
có thể vững vàng bước vào đời.
Lứa tuổi thanh thiếu niên có những sự thay đổi về mặt tâm sinh lý,
sự thay đổi này kéo theo những suy nghĩ và hành động khác với những giai
đoạn phát triển trước đó. Bên cạnh đó, môi trường tiếp xúc mở rộng sẽ
mang lại nhiều mối quan hệ mới như quan hệ đồng nghiệp trong công việc,

quốc tế UNICEF, Tây Ban Nha đã cho ra đời cuốn sách “ Những giá trị
sống: Một chương trình giáo dục”. Chương trình này đã đưa những hoạt
động giá trị khác nhau dựa trên kinh nghiệm, phương pháp thực hành đối
với các giáo viên và các huấn luyện viên, đối với những trẻ em và thanh
niên muốn tìm hiểu và phát triển 12 giá trị xã hội và cá nhân cơ bản, đó là:
Hợp tác, Tự do, Hạnh phúc, Trung thực, Khiêm tốn, Tình yêu, Hòa Bình,
Tôn trọng, Trách nhiệm, Giản dị, Khoan dung và Đoàn kết.
Bước vào thế kỷ 21, khủng hoảng về giá trị đã diễn ra trên toàn cầu
và ở mỗi quốc gia. Tổ chức UNESCO đã có khuyến cáo về vấn đề này, vì
thế ở mỗi quốc gia cũng có những quan tâm nhất định. Trên thế giới, nhiều
ngành khoa học trong đó có Tâm lý học, Giáo dục học đã chú ý nghiên cứu
vấn đề giá trị sống và kỹ năng sống cho thế hệ trẻ.


3

Tại Diễn đàn giáo dục Thế giới Dakar, tháng 5/2000 trường học thân
thiện với người học được phản ánh trong quan điểm toàn diện về chất
lượng được nêu trong Khuôn khổ Hành động Dakar. UNESCO và UNICEF
đã nhận thấy mô hình “trường học thân thiện” với các yếu tố của nó là giải
pháp nâng cao chất lượng và đảm bảo công bằng giáo dục. Vì vậy mô hình
này được phổ biến, áp dụng ở 40 quốc gia trên Thế giới. Trong mô hình
trường học thân thiện, tiêu chí giáo dục Kỹ năng sống vừa như một biểu
hiện của giáo dục, vừa giúp học sinh sống an toàn. Tiến hành giáo dục Kỹ
năng sống để nâng cao chất lượng giáo dục.
Ở Việt nam, giáo dục Kỹ năng sống cho thế hệ trẻ đã thu hút nhiều
ngành khoa học quan tâm nghiên cứu. Với nhiều năm nghiên cứu, PGS.TS
Hà Nhật Tháng đã cho xuất bản cuốn sách: “Giáo dục hệ thống giá trị đạo
đức nhân văn” năm 1998 và đã tái bản nhiều lần. Trong đó trang bị cho học
sinh sinh viên nắm vứng hệ thống cốt lõi, đó là cơ sở cơ bản của nhân cách,

nhưng chủ yếu mới nằm trong phạm vi nghiên cứu, ứng dụng cho việc giáo
dục kỹ năng sống trong nhà trường. Trong khi có nhiều phương tiện, cách
thức truyền tải thông điệp về kỹ năng sống rất sinh động, phong phú về nội
dung, đa dạng về hình thức thể hiện, trong đó có báo chí.
Trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học và công
nghệ, các phương tiện truyền thông đại chúng cũng đã có những bước phát
triển mạnh mẽ. Trong đó, truyền hình là một phương tiện truyền thông rất
quan trọng, được đông đảo các tầng lớp trong xã hội quan tâm, đón nhận.
Với sức lan tỏa nhanh, cùng thời gian ngắn, dựa trên ưu thế về hình ảnh,
âm thanh, truyền hình đang là một trong những lựa chọn thông tin hàng đầu
cho giới trẻ.
Ở nước ta hiện nay số lượng kênh truyền hình được phát sóng có tới
gần 200 kênh, VTV6 – kênh truyền hình đầu tiên dành riêng cho giới trẻ
của Đài truyền hình Việt Nam đang là một điểm hẹn của đông đảo người
trẻ trên cả nước.


5

Cùng với VTV6, một số kênh truyền hình chuyên biệt dành cho
người trẻ cũng xuất hiện như: như Yan TV (thành lập 16/6/2009); Yaeh1
TV (thành lập tháng 8/2008)… Tuy nhiên những kênh này chỉ thiên về văn
hóa, giải trí là chính, gần như không có các thông tin chính trị, kinh tế, các
vấn đề nóng của đất nước, nhất là các chương trình mang tính giáo dục kỹ
năng sống cho thanh thiếu niên còn rất thiếu. Bên cạnh đó, việc giáo dục kỹ
năng sống cho thanh thiếu niên mới chỉ được là lồng ghép ở một số chương
trình trên các kênh phát sóng của VTV, VTC, ANTV, chưa có tính tập
trung, chuyên biệt hướng tới khán giả trẻ. Vì vậy, VTV6 thể hiện rõ tính
chuyên biệt, đóng vai trò quan trong trong việc tuyên truyền, định hướng,
giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên, thông qua hệ thống các

viện báo chí và tuyên truyền, 2005. Trong cuốn luận văn này tác giả đã đề
cập tới vấn đề giáo dục thiếu niên, nhi đồng. Cụ thể là các vấn đề: Giáo dục
đạo đức, lối sống, giáo dục kiến thức, giáo dục sức khỏe, giáo dục thẩm
mỹ. Do luận văn đề cập tới nhiều mảng nội dung của giáo dục nên phần
phân tích từng nội dung phản ánh còn chưa sâu. Đối tượng, phạm vi đề tài
còn khá rộng, chưa khu biệt vào một nội dung cụ thể. Riêng nội dung giáo
dục kỹ năng sống chưa làm rõ, mặc dù tác giả có lồng ghép vào 4 nội dung
giáo dục kể trên.
- “Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC với đời sống của giới trẻ” Luận văn thạc sỹ Đào Thị Phương Trà, Trường ĐH Quốc Gia Hà Nội, năm
2010. Luận văn này khái quát một cách cơ bản về đời sống tinh thần của
thanh niên Việt Nam được phản ánh và ghi nhận trong các chương trình
truyền hình dành cho giới trẻ được phát sóng trên một số kênh của Đài
truyền hình kỹ thuật số VTC. Luận văn đề cập khá kỹ tới vai trò của truyền
hình đối với đời sống tinh thần của giới trẻ, những xu hướng, trào lưu, thú
chơi mới…của người trẻ được đề cập tới trong các chương trình và xem


7

đây là tiêu chí đánh giá vai trò của 1 Đài truyền hình với đời sống tinh thần
của giới trẻ.
- “Tạp chí thanh niên với việc giáo dục thế hệ trẻ nước ta hiện nay”
- Khóa luận tốt nghiệp của học viên Trần Hương Giang, trường Học viện
Báo chí và tuyên truyền, năm 2004. Luận văn đề cập tới 3 vấn đề chính của
thanh niên là: đạo đức - lối sống; tình bạn – tình yêu – hôn nhân gia đình;
vấn đề giải trí vui chơi lành mạnh của thanh niên.
- “Khả năng tác động của các phương tiện thông tin đại chúng đối
với việc hình thành lối sống của thanh niên hiện nay” – Tác giả Hoàng Thị
Xuân Quý, Học viện báo chí và Tuyên truyền, 1999. Luận văn tập trung
làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các phương tiện thông tin đại chúng và việc

- “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà
trường trung học phổ thông huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên” - Luận văn
ThS. Giáo dục học, tác giả Hoàng Nghĩa Kiên, Đại học Quốc gia Hà Nội,
2013. Luận văn đưa ra hệ thống khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, kỹ
năng, kỹ năng sống. Luận văn tập trung phân tích sâu về những tác động
của công tác quản lý đối với hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà
trường. Đề ra những giải pháp nâng cao tính quản lý hoạt động giáo dục giá
trị sống, kỹ năng sống cho học sinh ở cấp THPT.
- “Quan hệ công chúng của các tờ báo dành cho thanh niên hiện
nay”
Luận án tiến sỹ Truyền thông đại chúng Đỗ Thị Thu Hằng, Học viện
Báo chí và tuyên truyền, năm 2009.
- “Giáo dục nhân cách cho trẻ vị thành niên trên báo chí hiện nay” –
Luận văn thạc sỹ truyền thông đại chúng của tác giả Trần Thị Dung, Học
viện báo chí và tuyên truyền, Hà Nội, 2006.


9

- “Văn hóa nghe nhìn của giới trẻ” là công trình nghiên cứu của
TS.Đỗ Nam Liên về phương thức tiếp cận thông tin qua truyền hình và
băng đĩa của khán giả trẻ TP.HCM, được xuất bản năm 2005. Trong đó, tác
giả đề cập đến thói quen tiếp nhận thông tin của thanh thiếu niên thành phố.
- Một số công trình nghiên cứu về công chúng của các tác giả Tạ
Ngọc Tấn (2001), Nguyễn Văn Dững (2002, 2006), Trần Bá Dung (2008),
Đỗ Chí Nghĩa (2009)...
Các luận văn nêu trên đã đề câp nghiên cứu giáo dục thanh thiếu
niên ở các lĩnh vực cụ thể như: kỹ năng sống, sức khỏe, pháp luật, nhân
cách… Tuy nhiên chưa đề cập tới vấn đề giáo dục kỹ năng sống thanh
thiếu niên một cách toàn diện. Một số luận văn Quản lý giáo dục đã đề cập

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là: Hệ thống hóa vai trò của Kênh VTV6 trong công tác giáo
dục kỹ năng sống cho Thanh thiếu niên.
Hai là: Thông qua các phương pháp khảo sát, phân tích, đánh giá
một cách khoa học để đưa ra những nhận định về thực trạng của Kênh
VTV6 trong việc thực hiện vai trò giáo dục, định hướng của mình; đồng
thời chỉ ra những thành công, hạn chế và hiệu quả trong tuyên truyền.
Ba là: Đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả và phát huy vai
trò giáo dục kỹ năng sống cho Thanh thiếu niên của Kênh VTV6.
4, Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho Thanh
thiếu niên trong các trương trình trên kênh VTV6
4.2. Đối tượng và phạm vi khảo sát
- Đối tượng khảo sát:
+ Các chương trình tuyên truyền nội dung nhằm giáo dục kỹ năng
sống cho thanh thiếu niên phát trên kênh VTV6.


11

Chúng tôi sẽ chọn 5 chương trình dại diện cho 3 thể loại báo chí trên
kênh VTV6 gồm Bản tin Thư viện cuộc sống; Sinh ra từ làng – đại diện
cho nhóm chính luận (Từ 1/6/2014 Thư viện cuộc sống được đổi tên thành
Lăng kính V6); Sống khác; Ngược chiều – đại diện cho nhóm Truyền hình
thực tế; Xưởng thời trang – đại diện cho nhóm giải trí.
Đây là 5 chương trình thể hiện rõ nét nhất vai trò của VTV6 trong
việc giáo dục kỹ năng sống cho Thanh thiếu niên. Đồng thời là 5 chương
trình nằm trong top có raiting và sự quan tâm cao nhất của khán giả đối với
các chương trình của VTV6 nói chung.

nhận thông tin giáo dục kỹ năng sống của thanh thiếu niên đối với Kênh
VTV6.
Chúng tôi phát phiếu trưng cầu ý kiến ngẫu nhiên thuận tiện cho 500
người tại Trường THPT Đinh Tiên Hoàng (Quận Ba Đình); THPT Nguyễn
Tất Thành (Quận Cầu Giấy); Trường Đại học Ngoại Thương (Quận Ba
Đình); Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Quận Thanh Xuân), Công ty
cổ phần dịch vụ báo chí truyền hình Việt Nam. Tuy nhiên qua khảo sát
chúng tôi chỉ sử dụng trên 405 phiếu thu về để phân tích các nội dung
nghiên cứu của đề tài bởi 405 phiếu này là những cá nhân có xem các
chương trình trên kênh VTV6 và như vậy sẽ có những đánh giá chính xác
về các chương trình trên VTV6. Do đó dung lượng mẫu sử dụng để nghiên
cứu trong đề tài này là: 405.
- Phương pháp phỏng vấn sâu – trao đổi ý kiến được sử dụng để phỏng
vấn Lãnh đạo Kênh, chuyên gia, khách mời của Kênh VTV6 trong các
chương trình có tính định hướng, hay gây ảnh hưởng tới thanh thiếu niên.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Đặt ra một số giả thuyết nghiên cứu:
- Vì sao phải giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên?
Nêu ra hiện trạng thiếu kỹ năng sống của thanh thiếu niên hiện nay,
những thách thức mà họ phải đối diện trong bối cảnh xã hội có nhiều thay


13

đổi. Đồng thời chỉ ra tầm quan trọng và tính cấp thiết phải giáo dục kỹ
năng sống cho thanh thiếu niên không chỉ trong gia đình, trường học mà
còn trên các phương tiện truyền thông, cụ thể ở đây là VTV6 – kênh truyền
hình dành riêng cho Thanh thiếu niên.
- Giáo dục kỹ năng sống gồm những nội dung gì?
Dựa trên những kiến thức, nội dung giáo dục kỹ năng sống trong

Về mặt thực tiễn: Việc nghiên cứu đề tài này sẽ cho thấy một cách
nhìn cụ thể hơn, bản chất hơn, chỉ ra sự cần thiết của các chương trình
mang tính giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên, một vấn đề đang rất
cấp thiết, nóng hổi và cũng là yêu cầu thiết thân của công chúng trẻ trong
thời điểm hiện nay. Từ đó giúp các nhà quản lý đưa ra được những tiêu chí
để có thể sản xuất được những chương trình có nội dung hấp dẫn hơn, phù
hợp hơn với khán giả, nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục hiệu quả hơn. Đồng
thời, đặt ra những yêu cầu với các nhà báo rèn luyện kỹ năng và kiến thức
nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên trong
tác phẩm của mình, tạo phong cách cá nhân và uy tín của cơ quan báo chí,
cụ thể ở đây là Ban Thanh thiếu niên, Đài Truyền hình Việt Nam.
Bên cạnh đó, tác giả hi vọng đây sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích
và quan trọng về quá trình ra đời, hoạt động và phát triển của Kênh VTV6.
8. Kết câu Luận văn
Luận văn được chia thành 3 phần chính: Phần Mở đầu; Phần Nội
dung và Phần Kết luận.


15

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC
KỸ NĂNG SỐNG CHO THANH THIẾU NIÊN TRÊN TRUYỀN HÌNH

1.1. Một số thuật ngữ, khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu
1.1.1. Kỹ năng
Trong tâm lý học, khái niệm “kỹ năng” được nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu. Tuy khái niệm “kỹ năng” được soi chiếu và luận bàn dưới
nhiều góc độ khác nhau nhưng nhìn chung được định nghĩa thiên về hai
quan niệm như sau:

Nhà nghiên cứu tâm lý học, PGS. Trần Trọng Thủy cho rằng: “Kỹ
năng là mặt kỹ thuật của hành động. Con người nắm được các hành động
tức là có kỹ thuật hành động và có kỹ năng”[35].
- Quan niệm thứ hai xem kỹ năng là một biểu hiện năng lực của con
người. Chẳng hạn, Từ điển tiếng Nga (1968) định nghĩa: kỹ năng là
khả năng làm một cái gì đó; khả năng này được hình thành bởi tri
thức, kinh nghiệm; khi có kỹ năng tất cả đều có thể làm được[43,
Tr.819]. Từ điển tiếng Việt (1992) cũng định nghĩa “KN là khả năng
vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó
vào thực tế”. [39, Tr.157]
Theo quan niệm này, kỹ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm
dẻo, sáng tạo và vừa có tính mục đích. Đại diện cho quan điểm này có tác giả:
K.K. Platônnôv, G.G. Golubev, Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn…Các
tác giả này cho rằng kỹ năng thực hiện một hành động có kết quả với chất
lượng cần thiết và thời gian tương ứng, trong điều kiện xác định.
K.K. Platônnôv và G.G. Golubev đều chú ý đến các mặt kết quả
hành động trong kỹ năng. Theo K.K. Platônnôv “Kỹ năng là khả năng của
con người thực hiện một hoạt động bất kỳ nào đó hay cách hành động trên
cơ sở của kinh nghiệm cũ”.


17

Các tác giả như Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Trần Quốc
Thành cũng quan niệm “kỹ năng là một mặt năng lực của con người trong
việc thực hiện một công việc có kết quả”. [40]
Trong từ điển Tâm lý học, do Vũ Dũng chủ biên, kỹ năng được các
định: “là năng lực vận dụng kết quả tri thức về phương thức hành động đã
được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”. [26]
Người có kỹ năng về một hành động nào đó phải đạt được những yêu

sống ở mức độ khái quát, đại diện cho hướng nghiên cứu này có các tác
giả: P.Ia.Galperin - nhà tâm lý học thuộc trường phái tâm lý học hoạt động
đầu thế kỉ XX, V.A.Crutexki, P.V.Petropxki. Nghiên cứu ở mức độ cụ thể
có các nhà nghiên cứu như: V.V.Tseburseva, Trần Trọng Thuỷ, kỹ năng
học tập gắn với G.X.Cochiuc, N.A.Menchinxcaia, TS Hà Thị Đức, Khoa
Tâm lý - Giáo dục, Trường ĐHSP Hà Nội. [12]
Giáo dục kỹ năng sống ở Lào được quan tâm từ năm 1997 với các
nội dung liên quan tới giáo dục phòng chống HIV/AIDS, được tích hợp
trong các chương trình giáo dục chính quy và trên báo chí. Năm 2001, giáo
dục kỹ năng sống ở Lào được mở rộng sang các lĩnh vực như giáo dục dân
số, giới tính, sức khỏe sinh sản, môi trường…với 3 kỹ năng chính: kỹ năng
giao tiếp, kỹ năng sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề.
Ở Ấn Độ: Giáo dục kỹ năng sống cho con người được xem xét dưới
góc độ giúp cho con người sống một cách lành mạnh về thể chất lẫn tinh
thần, nhằm phát triển năng lực con người.
Tại Hàn Quốc, học sinh tiểu học được học cách đối phó thích ứng
với các tai nạn như cháy, động đất, thiên tai... tại Trung tâm điều hành tình
trạng khẩn cấp Seoul.
Tại Mỹ, từ những năm 1916, người Mỹ đã nhận ra rằng tri thức
nhân loại là rất lớn nhưng để thực hành thành thạo và áp dụng, ứng dụng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status