ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN TUẤN ANH
THÁI ĐỘ CỦA THANH THIẾU NIÊN VỀ
KÊNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO GIỚI TRẺ
(Nghiên cứu trường hợp Kênh VTV6- Đài truyền hình Việt Nam)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH XÃ HỘI HỌC
Hà Nội – 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN TUẤN ANH
THÁI ĐỘ CỦA THANH THIẾU NIÊN VỀ
KÊNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO GIỚI TRẺ
(Nghiên cứu trường hợp Kênh VTV6- Đài truyền hình
Việt Nam)
Chuyên ngành Xã hội học
Mã số: 60.31.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH XÃ HỘI HỌC
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Hà
ii
3.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu
4
4.
Đối tƣợng, Khách thể, Phạm vi nghiên cứu
9
4.1.
Đối tượng nghiên cứu
9
4.2.
Khách thể nghiên cứu
10
4.3.
Phạm vi nghiên cứu
10
8.
Phƣơng pháp nghiên cứu
12
8.1.
Phương pháp luận
12
8.2.
Các phương pháp thu thập thông tin
13
8.2.1.
Phương pháp trưng cầu ý kiến
13
8.2.2.
Phương pháp phỏng vấn sâu
15
1.1.1.
Khái niệm "Nhận thức"
18
1.1.2.
Khái niệm "Thái độ"
19
1.1.3.
Khái niệm "Hành vi"
21
1.1.4.
Khái niệm "Thanh, thiếu niên"
22
1.1.5.
Khái niệm "Kênh truyền hình dành cho giới trẻ"
24
triển văn hoá
1.4.
Sơ lƣợc về địa bàn nghiên cứu
34
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA
46
THANH, THIẾU NIÊN VỀ KÊNH TRUYỀN HÌNH
DÀNH CHO GIỚI TRẺ
2.1.
Nhận thức của thanh, thiếu niên về kênh truyền hình
46
dành cho giới trẻ
2.2.
Thái độ của thanh, thiếu niên về kênh truyền hình
59
dành cho giới trẻ
trên kênh truyền hình dành cho giới trẻ
2.2.2.3.
Mức độ hài lòng với định dạng (format) các chương trình
101
trên kênh truyền hình dành cho giới trẻ.
2.2.2.4.
Mức độ hài lòng với người dẫn các chương trình trên kênh
106
truyền hình dành cho giới trẻ
2.2.2.5.
Mức độ hài lòng với thời điểm, thời lượng phát sóng các
114
chương trình trên kênh truyền hình dành cho giới trẻ
2.3.
Một số nhân tố ảnh hƣởng đến thái độ của thanh, thiếu
117
niên về các chƣơng trình trên kênh truyền hình dành
cho giới trẻ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
129
PHỤ LỤC
132
3
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Cơ cấu mẫu theo giới tính
Tr.14
Bảng 2: Cơ cấu mẫu theo nơi xuất thân
Tr.14
Bảng 3: Cơ cấu mẫu theo nghề nghiệp
Tr.14
Bảng 4: Cơ cấu mẫu theo độ tuổi
Tr.15
Bảng 5: Mục đích của các chương trình trên kênh VTV6
trên kênh VTV6
Bảng 12: Mức độ hài lòng của thanh, thiếu niên khi đánh giá
Tr.83
về các chương trình trên kênh VTV6
Bảng 13: Mức độ hài lòng của thanh, thiếu niên khi đánh giá
Tr.91
các tiêu chí nội dung của các chương trình trên VTV6
Bảng 14: Mức độ hài lòng của thanh, thiếu niên về hình thức
Tr.95
thể hiện các chương trình trên kênh VTV6
Bảng 15: Mức độ hài lòng của thanh, thiếu niên với các tiêu
Tr.97
chí đánh giá hình thức thể hiện các chương trình
Bảng 16: Mức độ hài lòng của thanh, thiếu niên về định dạng
4
Tr.102
(format) các chương trình trên kênh VTV6
Bảng 17: Mức độ hài lòng của thanh, thiếu niên với các tiêu
Biểu 3: Khoảng thời gian thanh thiếu niên dành nhiều nhất
Tr.71
để xem các chương trình trên kênh VTV6
Biểu 4: Mức độ hài lòng của thanh, thiếu niên về nội dung
Tr.89
các chương trình trên kênh VTV6
Biểu 5: Mức độ hài lòng của thanh, thiếu niên về thời điểm,
Tr.115
thời lượng phát sóng các chương trình trên kênh VTV6
Biểu 6: Mong muốn của thanh, thiếu niên về các
chương trình trên kênh VTV6 trong thời gian tới
6
Tr.123
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhân cách con người được hình thành thông qua 3 lĩnh vực: giao tiếp,
hoạt động và tự ý thức, trong đó lĩnh vực hoạt động không chỉ là hoạt động
lao động mà còn bao gồm cả những hoạt động đáp ứng nhu cầu cá nhân như:
ăn, ngủ, tắm, giặt…, hoạt động đáp ứng nhu cầu giao tiếp và hoạt động giải
trí. Việc thưởng thức cũng như tham gia vào các hình thức trong giải trí của
dẫn phát triển nhân cách, năng lực và hành vi của thanh, thiếu niên với một
phong cách, hình thức thể hiện các chương trình mới, lạ và trẻ. Trải qua 5
năm phát sóng, kênh VTV6 đã có nhiều thay đổi để đáp ứng với nhu cầu của
giới trẻ và cũng từng bước khẳng định được vị trí trong lòng khán giả nói
chung. Do đó việc tìm hiểu thái độ, ý kiến của các bạn trẻ xem họ đang nghĩ
gì về kênh truyền hình VTV6 là một trong việc làm cần thiết bởi nếu nắm
bắt được đầy đủ, kịp thời những ý kiến nhận xét, đánh giá của khán giả sẽ
giúp những người thực hiện hiểu hơn về mong muốn của họ, và sẽ có những
điều chỉnh phù hợp nâng cao chất lượng chương trình để ngày càng thu hút
sự quan tâm của khán giả. Vậy hiện nay khán giả trẻ đang suy nghĩ gì về
kênh truyền hình dành riêng cho đối tượng mình? Họ đã hiểu và có nhận
thức đúng, cũng như thật sự yêu thích những chương trình dành cho mình
trên các kênh truyền hình? Liệu những chương trình trên kênh truyền hình
dành cho thanh thiếu niên bên cạnh những thông điệp mang đến có thực sự
lôi cuốn, thu hút sự tham gia thưởng thức ở họ với tư cách là những chương
trình mang tính giải trí không? Mức độ cung cấp thông tin cũng như những
hoạt động mang tính giải trí có thường xuyên và luôn đổi mới như mong đợi
của thanh thiếu niên hiện nay hay không? Có những thuận lợi và khó khăn
nào trong việc tiếp cận hay thụ hưởng những chương trình giải trí trên truyền
8
hình ở họ? Và những thông tin (bằng hình thức này hay hình thức khác khi
được phát trên kênh truyền hình dành cho giới trẻ) có đem đến xu hướng
phát triển nào trong tương lai cho nhóm thanh thiếu niên này hay không?
Các nghiên cứu trong nhiều năm qua có liên quan tới sự thu nhận thông
tin trên truyền hình chủ yếu mới chỉ đề cập đến thị hiếu hay sự thụ cảm của
thanh thiếu niên về những tác phẩm điện ảnh trên màn ảnh rộng. Rất ít, thậm
chí gần như không có những nghiên cứu đi sâu về những chương trình cụ thể
của từng kênh truyền hình, đặc biệt là kênh truyền hình dành cho thanh,
các chương trình đang phát sóng trên kênh VTV6, hoặc cho ra mắt một số
chương trình mới nhằm đáp ứng nhu cầu của giới trẻ để kênh VTV6 ngày
càng trở thành một kênh thu hút sự quan tâm của thanh thiếu niên cả nước.
3. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
- Một số quan niệm về vai trò của giải trí đối với đời sống con người
Ý niệm về vai trò của giải trí đối với đời sống của con người từng
được triết gia Aristotle đề cập đến từ thời kỳ cổ đại. Ông cho rằng, giải trí
mang lại nhiều lợi ích cho con người về mặt sinh học giống như giấc ngủ: nó
đem lại sự thư giãn và khoẻ khoắn; nó rũ sạch những mệt nhọc và căng
thẳng do công việc gây ra. Tuy nhiên ông cũng cho rằng, con người cần phải
biết sử dụng thời gian rỗi của mình một cách hợp lý, nếu sử dụng nó vào
những trò chơi không mục đích, những hình thức giải trí thụ động, và những
phương cách bạt mạng chỉ để giết thì giờ, thì rõ ràng nó không tốt cho xã
hội, nó có thể đưa đến sự thoái hóa và mục nát. Nhưng nếu mọi người dùng
thời gian rảnh rỗi để khai mở những khả năng của họ, để giải trí lành mạnh,
phát triển về mặt tinh thần, và để cùng góp phần vào xã hội và văn hóa, thì
càng có nhiều thời gian rỗi càng tốt.
10
Trên thế giới, những nghiên cứu về vai trò của giải trí xuất hiện nhiều
hơn vào cuối thế kỷ XIX, khi xã hội công nghiệp đã phát triển khá mạnh mẽ.
Trong các xã hội công nghiệp và đô thị, những áp lực về công việc khiến
cho các nguy cơ về mất cân bằng, trầm cảm ngày càng gia tăng, người ta
mới nhận thấy vui chơi giải trí có những tác động tích cực như thế nào đối
với đời sống. Dumagedier trong cuốn Những thực tại của sự nhàn rỗi và các
hệ tư tưởng (1959; 5) đã xem giải trí là sự biến đổi về chất của xã hội công
nghiệp từ chỗ bị bóc lột thô bạo bằng việc kéo dài thời gian lao động, người
công nhân đã có quyền nghỉ ngơi và giải trí mà vẫn hưởng lương. Ông tiên
mà trở thành một dạng hoạt động sống đích thực của xã hội công nghiệp.
Ở Việt Nam, sau hơn hai thập kỷ đổi mới, khu vực nông thôn đang diễn
ra sự thay đổi mạnh mẽ dưới tác động của các chính sách phát triển kinh tế.
Hệ quả của các chính sách phát triển là tiến trình CNH, ĐTH đang diễn ra
trên quy mô rộng và với tốc độ nhanh chóng. Chính bởi vậy, một trong
những chủ đề được quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây ở Việt Nam
là sự biến đổi xã hội tại các khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa.
Nhiều tác giả và nhóm nghiên cứu, cả trong và ngoài nước, đã tập trung mô
tả các vấn đề kinh tế - xã hội mới nảy sinh tại các vùng ven đô và các khu
công nghiệp mới được hình thành (Trịnh Duy Luân, 2000 & 2003; Nguyễn
Hữu Minh, 2005; Trần Văn Thạch, 2005; Ngô Văn Giá, 2006; Nguyễn Đình
Tuấn, 2007 ... ). Các vấn đề như sự biến đổi về mức sống, đời sống văn hoá
– tinh thần, phân hoá giàu nghèo, việc làm của những người nông dân bị thu
hồi đất, di dân, môi trường xã hội và tệ nạn xã hội, văn hoá truyền thống,
quan hệ gia đình, giải trí…vv đều được nghiên cứu mặc dù chưa đạt được sự
khái quát cao. Điểm nổi bật và xuyên suốt các công trình nghiên cứu nêu
trên là các nhà khoa học đã phác hoạ ra được một bức tranh đa dạng về sự
12
biến đổi kinh tế - xã hội ở một số vùng nông thôn dưới tác động của CNH,
ĐTH. Vấn đề giải trí của người dân được tiếp cận từ các chỉ báo sau:
Từ khía cạnh mức sống, một điểm chung của một số nghiên cứu
(Nguyễn Hữu Minh, 2003; Nguyễn Văn Quân, 2006; Ngô Văn Giá, 2006) là
coi giải trí như một chỉ báo phản ánh mức sống của người dân. Những
nghiên cứu này đều có chung nhận định rằng, sự thay đổi mức sống là
nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi về nhu cầu và sự tham gia các hoạt
động giải trí của người dân. Theo các tác giả, đời sống kinh tế khá lên, cuộc
sống của người nông dân truyền thống và thuần tuý với “một nắng hai
nhân tố quan trọng thúc đẩy nhanh quá trình tiếp cận thông tin cũng như các
loại hình giải trí ở các làng. Kinh tế đã khá giả, con người quan tâm nhiều
hơn và cũng dành thời gian nhiều hơn cho hưởng thụ cuộc sống, chăm sóc
sức khỏe và kết nối chặt chẽ hơn các mối quan hệ xã hội. Chính nhờ việc
tham gia vào các hoạt động giải trí đa dạng cả ở cấp độ gia đình và cộng
đồng đã khiến cho quá trình giao lưu được rộng mở hơn, dân làng có những
thay đổi rõ rệt trong nhận thức, nhất là nhận thức về văn hóa: truyền thống
văn hóa của làng, của vùng cũng như giá trị của văn hóa truyền thống trong
quá trình phát triển. Những đặc trưng văn hóa của thế giới cũng như của các
đô thị lớn trở nên không xa lạ với dân làng, hơn thế còn giúp dân làng có ý
thức cao hơn về những giá trị văn hóa của chính làng quê họ
Nghiên cứu dưới góc độ truyền hình, có đề tài mang mã số: 60.32.01
của tác giả Lê Mai Hương Trà (2011) nghiên cứu là: “Xu hướng truyền
hình chuyên biệt dành cho giới trẻ ở Việt Nam” (dựa trên những khảo sát
trên kênh VTV6 trong khoảng từ năm 2008 đến 2010). Đề tài đã đặt ra
một số vấn đề như sau: Nhu cầu có những kênh truyền hình riêng dành cho
giới trẻ đang trở nên bức thiết, trong khi nhóm khán giả này ngày càng khó
tính và ưa thích sự đổi mới, cập nhật liên tục; Các chương trình truyền hình
14
chuyên biệt của Việt Nam chưa đủ hấp dẫn: từ khâu nội dung kịch bản, cho
tới hình thức thể hiện; Sự phát triển của mạng internet khiến những thông tin
và chương trình truyền hình trở nên chậm chân hơn; Sự phát triển chóng mặt
của xã hội và sự toàn cầu hóa khiến cho các chương trình truyền hình dành
cho giới trẻ luôn luôn đặt trong tình trạng bị so sánh với các kênh tương tự
trên thế giới; Điều quan trọng nhất, tâm lý, khoảng cách giữa thực tế cuộc
sống của giới trẻ với các chương trình, và cả khoảng cách tuổi tác cũng như
quan điểm giữa những người thực hiện với khán giả trẻ đang làm cho các
kênh truyền hình cho giới trẻ chưa thực sự “trẻ”. Nghiên cứu này có thể
Hành vi tiếp cận các chương trình; 3/ Thái độ của thanh thiếu niên về những
chương trình đó; 4/ Các nhân tố tác động đến thái độ của thanh, thiếu niên.
4.3.2. Phạm vi không gian nghiên cứu:
Do điều kiện và trong khả năng có thể, đề tài chủ yếu tập trung nghiên
cứu ở bốn trường với các cấp bậc và hệ học vấn khác nhau: Trường THCS
Nguyễn Du (Quận Hoàn Kiếm); THPT Nguyễn Gia Thiều (Quận Long
Biên); Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn; Trường Đại học Khoa
học Tự nhiên (Quận Thanh Xuân) và Thư viện Quốc Gia Hà Nội.
4.3.3. Thời gian nghiên cứu: Từ 10/6/2012 - 9/2012.
5. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu nhận thức, thái độ, hành vi của thanh, thiếu niên về thời gian
phát sóng, số lượng, nội dung và hình thức thể hiện của các chương trình
phát sóng trên kênh VTV6- Đài truyền hình Việt Nam. Và phân tích những
nhân tố tác động đến sự khác biệt trong các ý kiến đánh giá, nhận xét của
khán giả trẻ. Từ đó đưa ra những giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất
lượng các chương trình đang phát sóng trên kênh VTV6, Đài truyền hình
Việt Nam.
16
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Giới thiệu sơ lược một số nét chính của kênh VTV6 cũng như thời
gian, số lượng, nội dung, hình thức thể hiện của các chương trình hiện đang
phát sóng trên kênh VTV6, Đài truyền hình Việt Nam
- Tìm hiểu thái độ của th anh, thiếu niên về kênh truyền hình dành cho
giới trẻ qua việc đánh già về thời gian phát sóng , số lượng , nội dung , hình
thức thể hiện và phân tić h những nhân tố ảnh hư
ởng đến thái độ của thanh
8.1. Phương pháp luận
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Những nguyên tắc và quan điểm của xã hội học Mác - Lênin là cơ sở
phương pháp luận, đóng vai trò nền tảng xuyên suốt quá trình nghiên cứu đề
tài. Theo đó, trong xã hội, không có sự vật - hiện tượng nào tồn tại độc lập
mà chúng có một sự liên kết và ràng buộc lẫn nhau, cái này tác động hoặc
chịu tác động của cái kia, ngoài ra chúng còn chuyển hoá lẫn nhau. Do vậy,
việc nghiên cứu các vấn đề xã hội yêu cầu mỗi chúng ta phải xem xét các
hiện tượng xã hội trong mối liên hệ với các hiện tượng xã hội khác, phải
xem xét các mặt, các yếu tố của nó một cách toàn diện. Tuy nhiên, chúng ta
không thể xem xét tất cả mọi mặt của sự vật, hiện tượng mà chỉ xem xét những
mối liên hệ quan trọng nói lên bản chất sự vật, hiện tượng cần nghiên cứu.
Vận dụng những quan điểm trên vào nghiên cứu nhận thức, thái độ
của thanh, thiếu niên về kênh truyền hình dành cho giới trẻ đòi hỏi chúng ta
phải xem bối cảnh thời gian và không gian của vùng miền đó. Cụ thể ở đề tài
này, chúng tôi xem xét nhận thức, thái độ của thanh, thiếu niên về kênh
truyền hình dành cho giới trẻ trong điều kiện Việt Nam đang có những
18
chuyển biến lớn về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội do sự hội nhập quốc tế
mang lại. Ngoài ra, nhu cầu giải trí luôn biến đổi theo không gian, thời gian,
sở thích, chịu sự lựa chọn chủ quan của chủ thể hành động. Do đó, những
vấn đề liên quan đến sự biến đổi văn hóa, lối sống... cũng cần được quan tâm
làm rõ.
8.2. Các phương pháp thu thập thông tin
8.2.1. Phương pháp trưng cầu ý kiến:
Phương pháp này được sử dụng khá phổ biến cho việc thu thập thông
tin trong các nghiên cứu xã hội học. Sử dụng phương pháp này để đảm bảo
tính khuyết danh cao cho các nghiên cứu vì đảm bảo tính khuyết danh là một
24,6
Nữ
453
75,4
Tổng số
601
100.0
b. Cơ cấu mẫu theo nơi xuất thân:
Bảng 2: Cơ cấu mẫu theo nơi xuất thân
Nơi cƣ trú
Tần số
Tần suất
Nội thành các thành phố lớn
365
60,7
Nội thành các thành phố khác
601
100,0
c. Cơ cấu mẫu theo nghề nghiệp:
Bảng 3: Cơ cấu mẫu theo nghề nghiệp
Nghề nghiệp
Tần số
Tần suất
Học sinh
22
3,7
Sinh viên
380
63,2
Công nhân viên chức
149
24,8
4
0,7
Từ 18 đến 20 tuổi
146
24,3
Từ 20 đến 25 tuổi
313
52,1
Trên 25 tuổi
108
18,0
Tổng số
601
100,0
6.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu:
Tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài: Agnew, Clark M, Neil (1959),
Television Advertising, Mc Graw Hill Book Company, USA; Gudykunst, W.B;
Ting-Toomey, S; Nishida,T (1996), Communication in personal relationships
across cultures, SAGE Publications, California....
Các tạp chí: Xã hội học, Báo chí như: Mai Quỳnh Nam (1996),
Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội, Tạp chí Xã hội học số 1, 1996;
Bài viết trên các trang báo mạng: "Vai trò của truyền hình trong đời
sống văn hoá xã hội" (www.quangcaotruyenhinh.com); www.vtv.vn;
www.vtv6.com.vn....
22
9. KHUNG PHÂN TÍCH
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, VĂN HÓA, CHÍNH TRỊ, XÃ
HỘI VIỆT NAM THỜI KỲ CNH - HĐH
Đặc điểm cá
nhân
Yếu tố khách
quan
- Vai trò của hệ
thống truyền thông
văn hoá
- Quan điểm chỉ
đạo của Lãnh đạo
Ban VTV6