Nhu cầu của người dân về việc hỗ trợ sau tái định cư (Nghiên cứu trường hợp tại thành phố Hải Phòng - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o

Nguyễn Văn Trung [NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG]

Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Bùi Phƣơng Đình
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà nội, 2007
(ii)
MỤC LỤC
Trang
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

2.2.3 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thƣơng mại dịch vụ 45
2.3 TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẨT 46
2.3.1 Tác động thu hồi đất bởi dự án 46
2.3.2 Một số tác động tiêu cực khác tại khu vực nghiên cứu 48
2.3.3 Tác động của việc thực thi chính sách 49
2.4 PHÂN TÍCH CÁC NHU CẦU CỦA NGƢỜI DÂN 50
2.4.1 Quan điểm của các hộ dân về việc thu hồi đất 51
2.4.2 Nguyện vọng về việc Thu hồi đất và Tái định cƣ thoả đáng 59
2.4.3 Nguyện vọng về phƣơng án tái định cƣ 64
2.4.4 Các phƣơng án hỗ trợ khác 70
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHẦN PHỤ LUC 81
(iv)

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Bảng tổng hợp hộ gia đình đƣợc điều tra theo bảng hỏi 7
Bảng 2 Dân số tại thành phố Hải Phòng và các khu đô thị chính 27
Bảng 3 : Nhân khẩu trong hộ gia đình theo phƣờng 35
Bảng 4: Cơ cấu nhóm nhân khẩu trong khu vực dự án 36
Bảng 5: Bảng tổng hợp hộ dân di dời theo phƣờng 46
Bảng 6: Bảng tổng hợp hộ dân bị ảnh hƣởng đất nông nghiệp theo phƣờng 47
Bảng 7: Mức dộ ủng hộ dự án của các hộ dân 51
Bảng 8: Tƣơng quan giữa nghề nghiệp và sự ủng hộ dự án của các gia đình 54
Bảng 9: Tƣơng quan giữa thời gian cƣ trú và sự ủng hộ dự án của hộ dân 56
Bảng 10: Tƣơng quan giữa tình trạng cƣ trú và sự ủng hộ dự án của hộ dân 57

Sơ đồ 14: Nhu cầu của ngƣời dân về phƣơng án phân lô 66
Sơ đồ 15: Nhu cầu của ngƣời dân về xây dựng chung cƣ 68
Sơ đồ 16: Nhu cầu về các phƣơng án hỗ trợ khác 71
(vi) DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ADB
Ngân hàng Phát triển Châu Á
CSHT
Cơ sở hạ tầng
FDI
Đầu tƣ phát triển chính thƣc
GPMB
Giải phóng mặt bằng
IFC
Tổ chức tài chính quốc tế
JBIC
Ngân hàng Hợp tác Phát triển Nhật Bản
JICA
Cơ quan Hợp tác phát triển Nhật Bản
KTXH
Kinh tế xã hội
MTTQ
Mặt trận tổ quốc

việc thu hồi đất và/hoặc ảnh hƣởng đến các công trình hạ tầng khác và chính những
ảnh hƣởng này lại có những tác động ngƣợc lại đối với nền kinh tế xã hội và cộng
đồng nơi triển khai việc xây dựng. Những tác động nói trên bao gồm việc thu hồi
đất, tái định cƣ… ảnh hƣởng đến sinh kế ngƣời dân và có khả năng phá vỡ sự đoàn
kết của cộng đồng.
Việc thu hồi đất và tái định cƣ nói trên có thể có những ảnh hƣởng nghiêm
trọng mà không thể ƣớc tính đƣợc về mặt kinh tế. Việc phá vỡ các mối quan hệ
trong cộng đồng, đoàn kết xã hội đối với những cộng đồng bị ảnh hƣởng cũng nhƣ
khả năng tái đoàn kết tại những khu vực sau tái định cƣ có thể trở lên trầm trọng
nếu không có những chính sách hỗ trợ hợp lý. Chính vì vậy, một chính sách hỗ trợ
hợp lý trong kế hoạch tái định cƣ có thể sẽ trở thành một cơ hội phát triển, và điều
này cần thiết để xem xét các chính sách hỗ trợ tái định cƣ nhƣ một hợp phần trong
tổng thể của các dự án phát triển chứ không nên coi đó là một hoạt động riêng biệt.
Điều này có nghĩa là cần có một nguồn lực cũng nhƣ một thiết chế phù hợp trong
việc chuẩn bị cũng nhƣ thực hiện các hoạt động tái định cƣ. Thực hiện các chính
sách tái định cƣ nhƣ một chƣơng trình phát triển không chỉ giúp cộng đồng nơi thực
hiện dự án ổn định cuộc sống, đảm bảo mức sống ít nhất là bằng hoặc hơn so với
trƣớc khi thực hiện dự án mà còn thúc đẩy việc đảm bảo tính bền vững của các dự
án phát triển.
Trang

2
Cho đến nay, Chính phủ Việt nam đã ban hành nhiều hƣớng dẫn trong việc
thực hiện chính sách bồi thƣờng giải phóng mặt bằng đối với các dự án có thu hồi
đất nhƣ Luật đất đai sửa đổi năm 2003, Nghị định 197/2004/NĐ-CP về bồi thƣờng
hỗ trợ khi nhà nƣớc thu hồi đất…và các Quyết định của từng tỉnh thành nhằm
hƣớng dẫn và cụ thể hoá việc triển khai thực hiện các chính sách nêu trên. Tuy
nhiên, do tính chất của mỗi dự án lại khác nhau, hoặc là thu hồi đất trong khu vực
đô thị (tái định cƣ đô thị) hoặc là thu hồi đất theo tuyến (tái định cƣ tuyến)… và sự
khác khau này còn phụ thuôc trực tiếp vào điều kiên kinh tế xã hội riêng biệt của

tác động của việc thu hồi đất đối với cộng đồng dân cƣ và từ đó xác định nhu cầu
của ngƣời dân trong việc phục hồi cuộc sống, đảm bảo cuộc sống của họ ít nhất là
bằng và/hoặc hơn so với mức trƣớc khi thực hiện dự án. Mong muốn kết quả của đề
tài nghiên cứu sẽ là cơ sở cho việc xây dựng chính sách, chƣơng trình phát triển
chung của nhà nƣớc có liên quan đến lĩnh vực bồi thƣờng và hỗ trợ khi nhà nƣớc
thu hồi đất trong các dự án phát triển, từ đó góp phần vào việc đảm bảo ổn định đời
sống và công bằng cho ngƣời dân trong khu vực dự án.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
 Phân tích và đánh giá nhu cầu phục hồi cuộc sống sau tái định cƣ của
ngƣời dân bị thu hồi đất trong các chƣơng trình dự án phát triển;
 Trên cơ sở nhận diện nhu cầu, đƣa ra các khuyến nghị cần thiết nhằm
nâng cao hiệu quả của các hỗ trợ phục hồi cuộc sống sau tái định cƣ.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, nội dung chính của nghiên cứu sẽ bao gồm
các nhiệm vụ nhƣ sau:
 Hệ thống hoá lý thuyết xã hội học liên quan, xây dựng các khái niệm
công cụ phục vụ đề tài nghiên cứu;
 Khảo sát và phân loại các nhu cầu phục hồi cuộc sống sau tái định cƣ
 Thu thập, phân tích kết quả thực hiện các chƣơng trình hỗ trợ/phục hồi
cuộc sống trong kế hoạch tái định cƣ của một số dự án phát triển có liên
quan
 Luận chứng cho các khuyến nghị cần thiết
Trang

4

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

tƣợng nghiên cứu. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và áp dụng các lý thuyết xã hội
học là điều không thể thiếu trong nghiên cứu này.
Phƣơng pháp luận Mác-xít đƣợc sử dụng trong toàn bộ nội dung của đề tài
để làm cơ sở cho việc xem xét, giải thích các sự kiện xã hội trong mối quan hệ biện
chứng và trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội. Nhƣ vậy phƣơng pháp này
giúp cho việc xem xét sự vận động, biến đổi đời sống ngƣời dân và nhu cầu của họ
sau khi di dời, tái định cƣ khi bị ảnh hƣởng bởi một dự án cụ thể.
Đồng thời, phƣơng pháp tiếp cận hệ thống cũng giúp xem xét quá trình biến
đổi về mức sống của các hộ gia đình bị ảnh hƣởng bởi việc thu hồi đất, di dời và tái
định cƣ bởi dự án tại Hải Phòng, từ đó xác định các nhu cầu về việc hỗ trợ sau tái
định cƣ và định hƣớng phát triển lâu dài đối với sinh kế của các hộ dân này trong
khu vực dự án nói chung.
4.2 Các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể
4.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Trƣớc khi tiến hành xây dựng đề tài, việc nghiên cứu và tham khảo các tài
liệu liên quan sẽ đƣợc tiến hành thận trọng nhằm xây dựng những ý tƣởng và đề
cƣơng chính cho đề tài. Những tài liệu đƣợc tham khảo sẽ ban gồm các văn bản
luật, nghị định của chính phủ, các quyết định của các tỉnh/thành phố, các hƣớng dẫn
về tái định cƣ của các nhà tài trợ và các tài liệu, các nghiên cứu trƣớc có liên quan.
Việc đa dạng của các tài liệu nghiên cứu sẽ hỗ trợ trong việc có một cách
nhìn tổng quan về vấn đề và có một định hƣớng nghiên cứu phù hợp.
4.2.2 Phương pháp thảo luận nhóm
Trang

6
Thông thƣờng, việc thu thập thông tin thông qua Phiếu điều tra sẽ đƣợc áp
dụng cho các phƣơng pháp thu thập thông tin định lƣợng, chính vì vậy phƣơng pháp
thảo luận nhóm trọng tâm sẽ đƣợc áp dụng nhằm thu thập thêm các thông tin định
tính, nội dung chủ yếu trong các cuộc thảo luận nhóm/hoặc phỏng vấn sâu bao
gồm:

1
Phƣờng Thƣợng Lý
82
2
Phƣợng Trại Chuối
47
3
Phƣờng Đổng Quốc Bình
77
4
Phƣờng Dƣ Hàng Kênh
86
5
Phƣờng Vĩnh Niệm
273
6
Phƣờng Đằng Giang
225
7
Phƣờng Lạch Tray
54
8
Phƣờng Đằng Lâm
9
9
Phƣờng Đằng Hải
118
10
Phƣờng Đông Hải
109

o Hoạt động thu hồi đất và tái định cƣ trong các dự án phát triển có một số
ảnh hƣởng theo hƣớng tiêu cực đến mức sống của ngƣời dân có thu hồi
đất, tuy nhiên nhóm dân cƣ nông thôn có xu hƣớng đồng thuận với dự án;
o Các yếu tố nghề nghiệp, đặc điểm cƣ trú, điều kiện sống có ảnh hƣởng
đến nhu cầu hỗ trợ sau tái định cƣ;
o Ngƣời dân bị ảnh hƣởng trong khu vực dự án có nhu cầu cấp thiết về việc
hỗ trợ sau tái định cƣ, trong đó tập trung vào phƣơng án cấp lô đất tái
định cƣ.
5.2 Khung lý thuyết
Nhu cầu hỗ trợ sau tái định cƣ của ngƣời dân trên địa bàn nghiên cứu đã
đƣợc thể hiện thông qua cuộc điều tra kinh tế xã hội và điều tra nhu cầu, nguyện
vọng của ngƣời dân bị tác động của việc thu hồi đất, mà các tác động ở đây đƣợc
thể hiện qua tác động trực tiếp của dự án cũng nhƣ tác động và/hoặc kinh nghiệm từ
những dự án trƣớc tại khu vực nghiên cứu.
+ Biến độc lập
- Đặc điểm nhân khẩu xã hội nhƣ nghề nghiệp, tình trạng cƣ trú ảnh hƣởng
đến nhu cầu.
- Điều kiện sinh sống nhƣ ô nhiễm, ngập lụt, có nhiều vấn đề về vệ sinh môi
trƣờng có ảnh hƣởng đến nhu cầu.
Trang

9
- Kinh nghiệm từ dự án khác: nhiều dự án khác đã/đang diễn ra trên địa bàn
thành phố Hải Phòng đang gặp nhiều khó khăn trong khâu thu hồi đất và giải
phóng mặt bằng
+ Biến số phụ thuộc
Các nhu cầu hỗ trợ sau tái định cƣ của hộ gia đình. Trong nghiên cứu này, các
nhu cầu đó đƣợc phân làm ba loại chính:
- Nhu cầu về ổn định cuộc sống
- Nhu cầu về phƣơng án tái định cƣ

ổn định cuộc
sống (nhận
thức, sự ủng
hộ với dự án,
các nguyện
vọng )
Đặc điểm kinh tế xã hội
Điều kiện sinh sống
(ô nhiễm, vệ sinh)
Đặc điểm nhân khẩu
xã hội của nhóm dân
cƣ (nghề nghiệp,
thời gian cƣ trú tình
trạng cƣ trú )
Địa bàn sinh sống
(nông thôn, đô thị)
Hộ gia đình
Trang

10
PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH

CHƢƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN NGHIÊN CỨU

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong những năm qua do yêu cầu của cả lý luận và thực tiễn, đã có nhiều

hành, làm cho những chính sách này phù hợp với yêu cầu thực tiễn
- Thứ ba, “Chính sách di dân Châu Á” (Dự án VIE/95/2004. Nxb Nông
nghiệp – Hà nội, 1998).
Trong công trình nghiên cứu này dã có nhiều bài viết đề cập những góc độ
khác nhau của việc thu hồi đất. Cụ thể trong bài viết “Chính sách tái định cƣ do sự
phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam” (từ trang 180-195) tác giả Trƣơng Thị Ngọc
Lan đã bàn đến thực trạng của công tác bồi thƣờng tái định cƣ hiện nay ở nƣớc ta
và tập trung trình bày những nội dung chính của các văn bản pháp lý liên quan đến
thu hồi đất và tái định cƣ. Tiếp theo, bài viết “di dân nhập cƣ với vấn đề phát triển
một đô thị mới nhƣ Thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả Lê Văn Thành bƣớc đầu đề
cập đến những khó khăn, hạn chế về việc làm mà ngƣời dân phải đƣơng đầu.
- Thứ tƣ, “Cẩm nang về tái định cƣ, Hƣớng dẫn thực hành” (Ngân hàng
Phát triển Châu Á, 1995).
Trong tài liệu này, các vấn đề về tái định cƣ bắt buộc, chính sách bồi thƣờng,
hỗ trợ và chƣơng trình phục hồi cuộc sống đã đƣợc đề cập và hƣớng dẫn thực hiện.
Mục tiêu của việc thực hiện công tác tái định cƣ là đảm bảo mức sống của ngƣời
dân bị ảnh hƣởng ít nhất là bằng hoặc hơn so với thời điểm trƣớc khi thực hiện dự
án.
Trang

12
Có thể khẳng định rằng, ở Việt Nam khái niệm thu hồi đất và tái định cƣ mới
chỉ xuất hiện trong một số năm gần đây, các nghiên cứu về vấn đề này chƣa nhiều,
đặc biệt là vẫn thiếu nhiều các nghiên cứu chuyên sâu. Các nghiên cứu về vấn đề tái
định cƣ chủ yếu tiếp cận trên phƣơng diện cơ sở pháp lý hoặc hƣớng dẫn thực hiện,
tức là quan tâm xem xét các cơ chế chính sách hiện hành về thu hồi đất và tái định
cƣ, còn việc nghiên cứu về thực trạng tác động của tái định cƣ đối với đời sống
ngƣời dân và hơn nữa, nhu cầu về hỗ trợ của ngƣời dân sau tái định cƣ hầu nhƣ
chƣa đƣợc quan tâm đúng mức hoặc mới chỉ là bƣớc đầu. Đến nay vẫn chƣa có
nhiều những công trình nghiên cứu đề cập một cách toàn diện sâu sắc về nhu cầu hỗ

2
T
n
). Thực tế ngƣời ta chỉ có thể đánh giá và đo lƣờng sự biến đổi xã
hội đối với một thời điểm tham khảo trong quá khứ. Từ thời điểm tham khảo này
ngƣời ta có thể nói rằng đã có sự biến đổi, có cái đã biến đổi và trong phạm vi nào
đó đã có sự biến đổi.
Thứ tƣ, để thực sự là một biến đổi cấu trúc thì mọi biến đổi xã hội phải có
tính liên tục, tức là những chuyển đổi quan sát đƣợc không phải chỉ là những
chuyển đổi bề ngoài và trong chốc lát. Ít nhất những chuyển đổi đó phải kéo dài hơn
nhiều so với một phƣơng thức nhất thời nào đó.
Có thể định nghĩa về sự biến đổi xã hội nhƣ sau: Biến đổi xã hội là tất cả
những chuyển đổi đã quan sát đƣợc trƣớc đây có tác động, không chỉ tạm thời hay
chốc lát, đến cấu trúc hay chức năng của tổ chức xã hội của một tập thể nào đó và
thay đổi tiến trình lịch sử của tập thể đó.
Các nhà xã hội học theo trƣờng phái chức năng quan niệm rằng: “Biến đổi xã
hội là biến đổi các chức năng tƣơng ứng với các thiết chế xã hội”.
Marx và Engel đã giải thích nguồn gốc và sự tiến triển của xã hội đô thị,
phân tích sự kết tinh ở thời kỳ hiện đại và chỉ ra rằng cần thiết phải đấu tranh làm
sao để có thể kích động là làm chai cứng hai giai cấp đối lập: giai cấp của những
ngƣời nắm giữ và kiểm soát các phƣơng tiện sản xuất và giai cấp vô sản hoàn toàn
bị mất hết quyền lợi.
Trên cơ sở lý thuyết: “lý thuyết cấu trúc-chức năng” và “Lý thuyết biến đổi
xã hội”, phần nào chúng ta có thể hiểu đƣợc rằng quá trình đô thị hoá và chỉnh trang
đô thị là một xu thế khách quan và tất yếu trong tiến trình phát triển của đất nƣớc
Trang

14
theo định hƣớng công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Bản chất của đô thị hoá là sự phát
triển các khu dân cƣ và quá trình quy hoạch, chỉnh trang đô thị để đảm bảo sự phát

Theo tính pháp lý, ngƣời ta phân biệt di dân hợp pháp hay không hợp pháp;
di dân tự do hay có tổ chức; di dân tình nguyện hay bắt buộc. Tuỳ vào mức độ can
thiệp của chính quyền mà ngƣời ta chia di dân theo loại này hay loại khác.
Di dân và tái định cƣ đang là một trong những chủ trƣơng lớn của thành phố
Hải Phòng nhằm thực hiện công tác quy hoạch, chỉnh trang đô thị. Đây cũng là xu
hƣớng tất yếu của quá trình đô thị hoá theo chiều sâu nhằm hƣớng tới một xã hội
văn minh hiện đại. Quá trình di dân tái định cƣ tại một nơi cƣ trú mới, chẳng hạn
nhƣ tại một khu tái định cƣ của một bộ phận dân cƣ ở Đà Nẵng từ những năm 1998
đến nay là hình thức di dân lâu dài, thuộc diện di dân nội vùng có tổ chức, có kế
hoạch. Ngƣời dân di chuyển nơi ở trong phạm vi thành phố, theo kế hoạch thu hồi
đất và giải phóng mặt bằng mà thành phố đã định sẵn.
Di dân tái định cƣ vốn mang bản chất kinh tế-xã hội sâu sắc, vì vậy để quá
trình di dân tái định cƣ đạt đƣợc hiệu quả nhƣ mong muốn thì vấn đề đặt ra là phải
chú trọng tới các mục tiêu kinh tế xã hội, hay nói một cách khác cần quan tâm đến
tính bền vững về mặt xã hội của nó. Khi ngƣời dân di chuyển, tức là có sự thay đổi
về mặt địa lý nơi cƣ trú, thay đổi về các cấu trúc xã hội hay nói một cách chung hơn
là việc di dân tái định cƣ gây ra phá vỡ đoàn kết xã hội, làm thay đổi cuộc sống sẵn
có của ngƣời dân. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, khảo sát nhu cầu của ngƣời dân
sau di dân tái định cƣ đƣợc đặc biệt quan tâm trong phạm vi nghiên cứu này.
Về các nguyên nhân di dân chủ yếu, trên cơ sở quan sát hiện tƣợng di dân
trên thế giới, nhiều lý thuyết di dân đã đƣợc khái quát, trong đó phải kể đến lý
thuyết”lực hút-lực đẩy” do Ravenstein (1889) là ngƣời đầu tiên đƣa ra.
Theo GS.TS Tống Văn Đƣờng thì khi phân tích các dòng di dân ở nƣớc Anh,
Ravenstein cho rằng các yếu tố “lực hút” quan trọng hơn các yếu tố “lực đẩy”. Ông
nói rằng: “ Các luật lệ tồi hoặc ngột ngạt, thuế khoá năng nề, khí hậu không thuận
hoà, môi trƣờng xã hội xung quanh không cởi mở, thậm chí có sự cƣỡng bức (trong
Trang

16
buôn bán, vận chuyển nô lệ), tất cả những điều đó đã và đang tạo ra các hình thức di

Luật đất đai sửa đổi năm 2003 là văn kiện quan trọng làm cơ sở cho việc bồi
thƣờng tái định cƣ cho những ngƣời bị mất nơi ở và phải tái định cƣ không tự
nguyện. Luật đất đai đã xác định: đất đai thuộc sở hữu của toàn dân do Nhà nƣớc
thống nhất quản lý. Các tổ chức và cá nhân không thể sở hữu đất đai nhƣng lại đƣợc
giao quyền sử dụng đất và điều này tạo ra cơ sở pháp lý cho quyền đƣợc bồi thƣờng
tái định cƣ của ngƣời dân khi Nhà nƣớc thu hồi đất.
Nghị định 197/2004/NĐ-CP là văn bản quy định về việc bồi thƣờng, hỗ trợ và
tái định cƣ khi nhà nƣớc thu hồi đất …trong đó đã có những quy định chặt chẽ về
việc bồi thƣờng, hỗ trợ cũng nhƣ việc lập khu tái định cƣ để tạo ra nơi ở mới và ổn
định đời sống và sản xuất của ngƣời dân sau tái định cƣ. Các chính sách hỗ trợ
trong Nghị định này đã nêu và hƣớng dẫn chi tiết về các khoản hỗ trợ nhƣ hỗ trợ di
chuyển, hỗ trợ đào tạo nghề và tạo việc làm, các biện pháp hỗ trợ sản xuất và các
biện pháp hỗ trợ sản xuất và đời sống tại khu tái định cƣ… Đặc biệt gần đây nhất,
vào tháng 5/2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định 84/2007/ND-CP trong đó đƣa
ra một số điều khoản sửa đổi, bổ sung các điều, khoản của Nghị định 197 nhƣ Điều
51 bổ sung công tác “Lập, thẩm định và xét duyệt phƣơng án tổng thể về bồi
thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ”, bao gồm các nội dung:
a) Các căn cứ để lập phƣơng án;
b) Số liệu tổng hợp về diện tích các loại đất, hạng đất đối với đất nông
nghiệp, số tờ bản đồ, số thửa; giá trị ƣớc tính của tài sản hiện có trên đất;
c) Số liệu tổng hợp về số hộ, số nhân khẩu, số lao động trong khu vực thu hồi
đất, trong đó nêu rõ số lao động phải chuyển đổi nghề nghiệp, số hộ phải tái định
cƣ;
d) Dự kiến mức bồi thƣờng, hỗ trợ và dự kiến địa điểm, diện tích đất khu vực
tái định cƣ hoặc nhà ở tái định cƣ, phƣơng thức tái định cƣ;
đ) Dự kiến biện pháp trợ giúp giải quyết việc làm và kế hoạch đào tạo
chuyển đổi ngành nghề;
Trang

18

nào đƣợc xem nhƣ cơ thể sống phức tạp, là đặc điểm để phân biệt chủ thể đó với
môi trƣờng xung quanh.
Cho tới nay chƣa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu. Các sách
giáo khoa chuyên nghành hay các công trình nghiên cứu khoa học thƣờng có những
định nghĩa mang tính riêng biệt. Trong phạm vi nhận thức hiện tại có thể định nghĩa
nhu cầu “là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá
thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu nhất, hay còn
gọi là nhu yếu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát
triển và tiến hóa”.
Nhu cầu đƣợc hiểu là sự cần thiết về một cái gì đó. Nhƣng “cái gì đó” chỉ là hình
thức biểu hiện bên ngoài của nhu cầu. Sau hình thức biểu hiện ẩn chứa bản chất của
nhu cầu mà có thể tạm gọi là "nhu yếu". Nhu yếu đang nói đến lại có thể đƣợc xem
là hình thức biểu hiện của một nhu yếu khác căn bản hơn. Nhƣ vậy khái niệm nhu
cầu và nhu yếu mang tính tƣơng đối với nhau. Điều đó cho thấy rằng nhu cầu của
cơ thể sống là một hệ thống phức tạp, nhiều tầng lớp, bao gồm vô số các chuỗi mắc
xích của hình thức biểu hiện và nhu yếu liên kết chằng chịt, có khả năng phát triển
và đa dạng hóa. Tuy nhiên, để dễ nhận dạng, một nhu cầu riêng biệt đơn giản nhất
đƣợc cấu thành bởi một nhu yếu và một hình thức biểu hiện.
Hình thức biểu hiện nhất định đƣợc cụ thể hóa thành đối tƣợng của một nhu cầu
nhất định. Đối tƣợng của nhu cầu chính là cái mà nhu cầu hƣớng đến và có thể làm
thỏa mãn nhu cầu đó. Một đối tƣợng có thể làm thỏa mãn một số nhu cầu, một nhu
cầu có thể đƣợc thỏa mãn bởi một số đối tƣợng, trong đó mức độ thỏa mãn có khác
nhau.
Tính đa dạng của đối tƣợng tạo nên sự vô hạn của nhu cầu. Alfred Marshal viết
rằng: “Không có số để đếm nhu cầu và ƣớc muốn”. Về vấn đề cơ bản của khoa học
kinh tế - vấn đề nhu cầu con ngƣời - hầu hết các sách đều nhận định rằng nhu cầu
không có giới hạn.

Trích đoạn Sản xuất nông nghiệp Chăn nuôi Một số tác động tiêu cực khác tại khu vực nghiên cứu Tác động của việc thực thi chính sách
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status